Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 29 tháng 7 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  kythuat@cpv.org.vn
dangcongsan@cpv.org.vn
Công tác dân số và vấn đề đặt ra
11:37 | 27/12/2007
(ĐCSVN) - Công tác dân số được Việt Nam coi trọng từ rất sớm. Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực này. Tuy vậy, trước bối cảnh Việt Nam đang tăng tốc hội nhập quốc tế, cần phải tính đến những mối liên kết giữa các vấn đề dân số và phát triển.
Ngay từ năm 1961, Việt Nam đã ban hành quyết định về công tác dân số với mục đích hướng dẫn sinh đẻ. Tiếp đó, một loạt các chỉ thị cũng được ban hành. Điểm chung của tất cả các quyết định và chỉ thị này là yêu cầu, khuyến khích các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện kế hoạch hoá gia đình hay mỗi gia đình chỉ nên có từ 1-2 con, hay thực hiện quy mô gia đình nhỏ. Từ năm 1993, Việt Nam đã đẩy nhanh hơn các nỗ lực để giảm tỷ lệ gia tăng dân số, đặc biệt là bằng các giảm mức sinh thông qua một chương trình kế hoạch hoá gia đình sâu rộng. Để đạt được mục tiêu đặt ra trong Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) họp tại Cai rô, Ai cập năm 1994, Việt Nam đã phê duyệt Chiến lược Dân số mới cho giai đoạn 2001-2010 và Chiến lược Sức khoẻ sinh sản cũng cho giai đoạn này. Cả hai chiến lược đều hưởng ứng các mục tiêu của ICPD cũng như các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Việc tiếp cận đến các vấn đề dân số toàn diện hơn trong đó các ưu tiên về sức khoẻ sinh sản và việc đảm bảo khả năng tiếp cận tới thông tin và dịch vụ sức khoẻ sinh sản có chất lượng đã được nhận thức là một bộ phận hữu cơ trong nỗ lực cân bằng hài hoà giữa biến động dân số với phát triển Kinh tế-xã hội bền vững.
Trước bối cảnh Việt Nam đang tăng tốc hội nhập quốc tế, điều thách thức là cần phải tính đến những mối liên kết giữa các vấn đề dân số với xoá đói giảm nghèo cũng như tính tới tầm quan trọng của việc đầu tư vào sức khoẻ sinh sản, các mục tiêu bình đẳng giới và đáp ứng các nhu cầu của thanh niên. Ông Ian Howie, Đại diện Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tại Việt Nam cho rằng, Việt Nam cần quan tâm tới một số thách thức, là chương trình dân số của Việt Nam sẽ phải đối mặt và giải quyết trong vòng 5- 10 năm tới.
Trước hết, đó là vấn đề đói nghèo. Cả thế giới đều công nhận Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về xoá đói giảm nghèo trong thập kỷ vừa qua, song một thực tế là gần 30% số hộ gia đình trên toàn quốc vẫn tiếp tục sống dưới chuẩn nghèo với chi phí hộ gia đình trung bình chưa đến 1 đô-la Mỹ một ngày (đây là tình hình chung của các nước đang phát triển). Trên 70% tổng dân số sống ở nông thôn nên ở đây đói nghèo còn nhiều hơn.
Tuy vậy chỉ số kinh tế mang tính vĩ mô này mới chỉ cho thấy một phần của bức tranh. Vào thời điểm này, Việt Nam cần giải quyết sự khác biệt về thu nhập bởi điều này cũng phải ảnh sự chênh lệch trong những Chỉ số Phát triển Con người (HDI) - như tỉ lệ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh. Điều này không chỉ vì chúng có xu hướng làm trầm trọng thêm đói nghèo từ thế hệ này sang thế hệ khác, mà còn vì số trẻ em Việt Nam sinh ra trong các gia đình nghèo nhất ngày một tăng. Sở dĩ có xu hướng này là vì tỉ lệ sinh hiện nay dưới mức thay thế là ở tầng lớp những người giàu, trong khi với người nghèo nhất thì tỉ lệ sinh lại cao hơn mức thay thế khá nhiều.
Thứ hai, nhu cầu của giới trẻ. Trong thập kỷ tới khi dân số Việt Nam tiếp tục gia tăng, sẽ có sự gia tăng tương ứng đáng kể về số lượng dân số dưới tuổi 25. Đây là một thực tế ngay cả khi tỉ suất sinh của quốc gia vẫn ở mức thay thế. Sự gia tăng này rõ ràng sẽ dẫn tới nhu cầu cao hơn về thông tin và dịch vụ Sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục nói chung, và thông tin và dịch vụ nhắm tới và tiếp cận được đối với giới trẻ nói riêng.
Thanh niên và vị thành niên Việt Nam chiếm tới gần 1/3 tổng dân số. Nhưng, hệ thống y tế của Việt Nam chỉ tập trung vào việc cung cấp dịch vụ và thông tin chăm sóc sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình cho người đã lập gia đình. Điều này khiến cho nhiều thanh niên nam nữ ở tuổi sinh hoạt tình dục nằm ngoài hệ thống và dễ bị tổn thương do mang thai ngoài ý muốn và có thể bị nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lấy truyền qua đường tình dục, kể cả HIV. Việt Nam cần đảm bảo rằng việc cung cấp thông tin và dịch vụ sức khỏe sinh sản và sức khoẻ tình dục có chất lượng và thân thiện với thanh niên là một ưu tiên.
Thứ ba, vấn đề đô thị hoá. Việt Nam đã thông qua luật cư trú, một văn bản chính sách cải thiện sự bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ xã hội và giúp thống nhất các thủ tục hành chính với những người di cư. Khi Việt Nam trải qua những biến đổi kinh tế xã hội, thì đô thị hoá trở thành một thực tế. Theo dự đoán của LHQ, 60% dân số thế giới sẽ sống tại các khu vực thành thị vào năm 2030 vì số người dân nông thôn ra thành phố kiếm sống tăng lên. Người di cư, đặc biệt 1à phụ nữ, rất dễ bị tổn thương do có thai ngoài ý muốn, bị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản lây truyền qua đường tình dục, kể cả HIV, do tiếp cận hạn chế tới những thông tin và dịch vụ thích hợp.
Thứ tư, vấn đề lựa chọn giới tính khi sinh (hay là số trẻ em trai sinh ra trên 100 trẻ em gái). Thông thường, cứ 100 trẻ gái thì sẽ có 105- 106 trẻ trai. Tỉ lệ giới tính khi sinh (SRB) toàn quốc của Việt Nam hơi cao hơn so với giá trị dự báo thông thường, và ở một số tỉnh con số này cho thấy có sự mất cân bằng rõ rệt. Việc ưa thích có con trai, việc tiếp cận được tới các phương tiện xác định giới tính của bào thai và vị thế hợp pháp của việc nạo phá thai - tất cả đều có thể góp phần gây ra sự mất cân bằng này. Mặc dù Việt Nam đã quy định rõ việc phá thai nhằm mục đích lựa chọn giới tính thai nhi là bất hợp pháp, song vẫn còn nhiều việc phải làm để thay đổi những quan niệm truyền thống không công nhận giá trị của trẻ em gái và điều đó trong một số trường hợp rõ ràng đầ dẫn tới việc những em gái không mong muốn bị phá bỏ ngay khi còn là bào thai .
Từ những vấn đề trên cho thấy, cần phải tiếp tục đảm bảo rằng những thành tựu Việt Nam đã đạt được trong lĩnh vực dân số, phát triển, sức khoẻ sinh sản và giới được tiếp tục duy trì và lồng ghép triệt để trong công tác lập chương trình và hoạch định.

Đặng Hiếu


Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam: Trên 72 (02/12/2008)
Hoa Kỳ tài trợ gần 15.000 USD giúp đỡ nạn nhân của bạo lực gia đình (18/10/2008)
Hậu Giang: chú trọng đẩy mạnh xã hội hóa chăm sóc trẻ em (09/06/2008)
41 tỉnh, thành phố có mức sinh cao và chưa ổn định (25/03/2008)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Năm 2008: Sẽ tập trung nguồn lực cho công tác truyền thông (25/12/2007)
Nâng cao chất lượng dân số trong tình hình mới (25/12/2007)
Nguy cơ mất cân bằng giới tính ở trẻ sơ sinh (09/11/2007)
Việt Nam: Tỷ lệ phá thai cao (08/11/2007)
UNFPA sẽ tiếp tục giúp Việt Nam làm tốt công tác dân số (31/10/2007)
Hai vấn nạn dân số của hiện tại và tương lai (31/10/2007)
30 năm Việt Nam – UNFPA: Chặng đường cải thiện chất lượng dân số (30/10/2007)
Phương tiện tránh thai sẽ được chuyển dần từ miễn phí và trợ giá sang khách hàng tự chi trả (16/10/2007)
Chăm sóc người cao tuổi cần được sự quan tâm hơn nữa của toàn xã hội (17/09/2007)
Công tác tư tưởng: Liều thuốc đặc hiệu trong phòng, chống HIV/AIDS (17/08/2007)
 Trang 1 / 16 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Giao ban thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW tại các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên
· Cầu truyền hình “Vinh quang Công đoàn Việt Nam”
· Nga mở rộng lệnh cấm nhập khẩu thực phẩm từ Ukraine
· Đồng chí Phạm Quang Nghị kết thúc chuyến thăm, làm việc tại New York
· Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm và làm việc với Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ
· Thời tiết mát mẻ duy trì ở các vùng trên cả nước
· Anh em sinh đôi vượt khó thi đỗ thủ khoa hai trường đại học lớn
· Việt Nam tiếp tục thu hút khách du lịch quốc tế
· Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng Mê Công – Hàn Quốc lần thứ 4
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet