Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và những điểm mới trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
14:14 | 20/12/2004
Ngày 18 tháng 6 năm 2004, tại phiên họp thứ 19 khoá XI, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Ngày 15 tháng 11 năm 2004 Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo sẽ có hiệu lực trên toàn cõi Việt Nam.
So với các văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo trước đây, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều nội dung mới. Điều đó thể hiện chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đối với tín ngưỡng tôn giáo, nhằm tạo cơ sở pháp lý cao đảm bảo cho mọi công dân thực hiện quyền cơ bản về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời góp phần nâng cao hiệu lực của công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.
1. Tín ngưỡng, tôn giáo và sự cần thiết ban hành pháp lệnh
Hiện nay ở nước ta có khoảng 20 triệu tín đồ của 6 tôn giáo như: Phật giáo 10 triệu, Công giáo 5,5 triệu, Cao đài 2,3 triệu, Phật giáo Hoà Hảo 1,3 triệu, Tin lành 0,5 triệu, Hồi giáo là 65.000. Ngoài ra còn hàng chục triệu người tin theo các tín ngưỡng bản địa như tín ngưỡng dân gian của người Kinh, tín ngưỡng nguyên thuỷ của đồng bào các dân tộc thiểu số. Tổng cộng khoảng 80% dân số Việt Nam có đời sống tâm linh tôn giáo.
Ở nước ta có lực lượng chức sắc, nhà tu hành - những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp khá đông đảo, với khoảng 56 ngàn chức sắc của các tôn giáo. Cụ thể: Phật giáo 33.000, Công giáo 15.000, Cao đài 8.000, Tin lành 405, Hồi giáo 700,... Ngoài ra còn phải kể đến trên 200 ngàn chức việc là tín đồ hoạt động tôn giáo không chuyên nghiệp tại các cơ sở của các tổ chức tôn giáo.
Số tín đồ chức sắc, chức việc nói trên hiện đang hoạt động trong các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân như Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 25 giáo phận Công giáo, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), 9 Hội thánh Cao đài, Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo, Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo.
Ở nước ta, các tôn giáo có mối quan hệ quốc tế rộng rãi. Trước hết là Giáo hội Công giáo Việt Nam trong mối quan hệ về tổ chức là bộ phận của Giáo hội Công giáo hoàn vũ; các hệ phái Tin lành đều có nguồn gốc từ Tin lành nước ngoài, nhất là Tin lành Bắc Mỹ; Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong mối quan hệ với Phật giáo các nước châu Á, nhất là Phật giáo các nước láng giềng như Campuchia, Lào, Trung Quốc; Hồi giáo Việt Nam trong mối quan hệ với Hồi giáo thế giới, nhất là Hồi giáo khu vực Đông Nam Á. Ngoài những mối quan hệ nói trên, các tôn giáo ở Việt Nam còn có mối quan hệ và chịu tác động của các cá nhân, tổ chức tôn giáo của người Việt Nam ở nước ngoài.
Nhìn chung các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta thời gian qua diễn ra bình thường, tuân thủ chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tín đồ, chức sắc các tôn giáo có những đóng góp quan trọng trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ủng hộ và tham gia vào sự nghiệp đổi mới của đất nước. Tuy nhiên, mấy năm gần đây do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự tác động của cơ chế thị trường, của quá trình toàn cầu hoá và việc hội nhập quốc tế, tình hình tôn giáo có những vấn đề mới nảy sinh cần được điều chỉnh, bổ sung.
Trong khi đó, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo còn nhiều bất cập. Đặc biệt, những quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo chưa mang tính hệ thống, tính đồng bộ, tính thống nhất, còn có những mâu thuẫn, chồng chéo, chưa thể hiện đầy đủ, sâu sắc tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo và yêu cầu cải cách nền hành chính quốc gia; một số quy định còn thiếu tính khả thi, thiếu các biện pháp chế tài đảm bảo.
Từ thực trạng tình hình tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo, thực trạng công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng tôn giáo và thực trạng những quy phạm pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo như nói trên, việc ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo là rất cần thiết.
II. Cơ sở xây dựng pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo
Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo được xây dựng theo đúng quy trình, quy chuẩn của một văn bản lập pháp. Đặc biệt, Pháp lệnh đã quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:
Pháp lệnh phải thể chế đầy đủ những quan điểm chủ trương, chính sách đổi mới đối với tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước qua Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần IX (2001) và Nghị quyết số 25/NQ-TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác tôn giáo.
Pháp lệnh xây dựng trên cơ sở thực tế tình hình tín ngưỡng, tôn giáo, nhất là nguyện vọng và nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Pháp lệnh được xây dựng dựa trên việc tổng kết công tác tôn giáo, trong đó có công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong thời gian qua - kết quả đã đạt được và những bài học kinh nghiệm.
Pháp lệnh được xây dựng là sự kế thừa các văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo đã được ban hành, nhất là Sắc lệnh số 234/SL-TG về hoạt động tôn giáo do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành năm 1955.
Pháp lệnh được xây dựng còn tính đến sự tương thích với luật pháp quốc tế, nhất là những văn bản liên quan đến tôn giáo và nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.
Pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở tham khảo những quy phạm pháp luật đối với tôn giáo của một số nước trên thế giới và khu vực như của Cộng hoà Pháp, Cộng hoà Liên bang Nga, Cộng hoà Singapore, Cộng hoà Dân chủ nhân dân Trung Hoa, Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào,...
Như vậy, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo được xây dựng vừa có cơ sở lý luận, vừa có cơ sở thực tiễn, vừa kế thừa được truyền thống, vừa ngang bằng với luật pháp quốc tế.
III. Nội dung pháp lệnh và những điểm mới
Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo gồm VI chương với 41 điều. Cụ thể:
Chương I- Những quy định chung gồm 8 điều (từ điều 1 đến điều 8), trong đó nêu nguyên tắc của Pháp lệnh thể hiện tinh thần đổi mới của Đảng và của Hiến pháp về tín ngưỡng tôn giáo, trên căn bản tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Chương II- Hoạt động tín ngưỡng của người có tín ngưỡng và hoạt động tôn giáo của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc, gồm 7 điều (từ điều 9 đến điều 15) quy định cụ thể về sinh hoạt tín ngưỡng của người có tín ngưỡng, về sinh hoạt tôn giáo của tín đồ các tôn giáo và hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành.
Chương III- Tổ chức tôn giáo và hoạt động của tổ chức tôn giáo gồm 10 điều (từ điều 16 đến điều 25). Đây là chương trọng tâm của Pháp lệnh đề cập đến các vấn đề như công nhận tư cách pháp nhân tổ chức tôn giáo, việc thành lập, sáp nhập, chia sách, hợp nhất, giải tán các tổ chức tôn giáo trực thuộc; việc đăng ký hoạt động của các dòng tu, hội đoàn tôn giáo; việc phong chức, phong phẩm, suy cử, thuyên chuyển chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo; việc mở trường, lớp đào tạo chức sắc các tôn giáo; việc tổ chức đại hội, hội nghị của các tổ chức tôn giáo.
Chương IV- Tài sản thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động xã hội của tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành gồm 8 điều (từ điều 26 đến điều 33) đề cập đến các vấn đề như tài sản của các tổ chức tôn giáo, việc quyên góp, nhận tài sản hiến tặng của các tổ chức tôn giáo, việc xây dựng , di dời cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo; việc xuất bản, in, phát hành kinh sách, ấn phẩm tôn giáo; việc tham gia các hoạt động từ thiện của các cá nhân, tổ chức tôn giáo.
Chương V- Quan hệ quốc tế của tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành gồm 4 điều (từ điều 34 đến điều 37) quy định những quan hệ của các cá nhân, tổ chức tôn giáo ở Việt Nam với các cá nhân, tổ chức tôn giáo nước ngoài và ngược lại; việc hoạt động tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam.
Chương VI- Điều khoản thi hành gồm 4 điều (từ điều 38 đến điều 41) nói về giải quyết trường hợp xung đột pháp lý giữa Pháp lệnh với các Điều ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập; về việc hướng dẫn thi hành Pháp lệnh và thời gian có hiệu lực của Pháp lệnh.
So với Nghị định 26/1999/NĐ/CP ngày 19 tháng 4 năm 1999 của Chính phủ và các quy phạm pháp luật về tôn giáo trước đây, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều điểm mới. Cụ thể như các văn bản pháp quy:
1. Về phạm vi điều chỉnh
Pháp lệnh này không chỉ điều chỉnh các hoạt động tôn giáo mà còn điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng. Khác với hoạt động tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng là loại hình hoạt động không có tổ chức song lại thu hút đại đa số quần chúng nhân dân tham gia. Loại hình hoạt động này rất phong phú, được thực hiện dưới nhiều hình thức như thờ cúng tổ tiên tại gia đình, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc và các hoạt động tín ngưỡng dân gian được tổ chức ở khắp các vùng miền trên cả nước ... Nhà nước tôn trọng những hoạt động tín ngưỡng lành mạnh, đề cao giá trị nhân văn và truyền thống văn hoá dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của đông đảo quần chúng nhân dân. Đồng thời Nhà nước cũng nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng hoạt động mê tín dị đoan, thương mại hoá hoạt động tín ngưỡng.
2. Về việc công nhận tổ chức tôn giáo
Vấn đề công nhận tổ chức tôn giáo không phải là một nội dung mới, tại khoản 1 Điều 8 của Nghị định số 26/CP về hoạt động tôn giáo quy định :" Tổ chức tôn giáo có tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, cơ cấu tổ chức phù hợp với pháp luật và được Thủ tướng Chính phủ cho phép hoạt động thì được pháp luật bảo hộ". Tuy nhiên, với quy định mới của Pháp lệnh sẽ mở ra để tiếp tục giải quyết đối với một số tôn giáo, trong đó tiếp tục giải quyết đối với những tôn giáo có đông tín đồ, một số "tôn giáo mới" xuất hiện. Điều này nó tỏ rõ chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân đồng thời nó phù hợp với sự phát triển của xã hội.
3. Về việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc.
Đây là quy định mới. Theo Điều 17 của Pháp lệnh, tổ chức tôn giáo được thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc; giao cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét chấp thuận việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất đối với tổ chức tôn giáo cơ sở; Thủ tướng Chính phủ xem xét chấp thuận đối với tổ chức tôn giáo trung gian thuộc tổ chức tôn giáo. Quy định này sẽ tạo điều kiện cho tổ chức tôn giáo tổ chức, sắp xếp lại các tổ chức tôn giáo trực thuộc đáp ứng yêu cầu của hoạt động tôn giáo.
4. Về việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trong tổ chức tôn giáo.
Trước đây Điều 20 của Nghị định 26 quy định những việc này phải được Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận. Điều 22 của Pháp lệnh có những thay đổi khá cơ bản. Theo đó, Pháp lệnh coi đây là công việc nội bộ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo có quyền thực hiện theo hiến chương, điều lệ hoặc giáo luật của tổ chức mình. Hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước phê duyệt nên Nhà nước không can thiệp. Nhà nước chỉ nêu ra các điều kiện về tư cách công dân của những người được xem xét phong chức, phong phẩm, bầu cử, suy cử để tổ chức tôn giáo có sự lựa chọn, quyết định. Sau khi phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những người này để Nhà nước biết, đảm bảo quyền hoạt động tôn giáo hợp pháp cho họ.
Riêng trường hợp phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử công dân Việt Nam vào các chức danh tôn giáo do nước ngoài quyết định thì ngoài các điều kiện về tư cách công dân của những người được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử còn phải có sự thoả thuận trước của Ban Tôn giáo Chính phủ. Khi được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm đăng ký hoạt động cho những người đó với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
5. Về việc thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo của nhà tu hành, chức sắc.
Theo quy định tại Điều 21 của Nghị định 26, vấn đề này được quy định khá chặt chẽ. Theo đó, chức sắc, nhà tu hành khi thuyên chuyển phải được Chủ tịch uỷ ban nhân dân nơi đi và nơi đến chấp thuận. Với quy định mới của Pháp lệnh thì vấn đề thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành được thay đổi một cách căn bản. Những trường hợp thông thường tổ chức tôn giáo chỉ có trách nhiệm thông báo với Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đi và đăng ký hoạt động tôn giáo với Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đến. Trường hợp chức sắc, nhà tu hành vi phạm pháp luật về tôn giáo mà bị Chủ tich Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xử lý hành chính hoặc bị xử lý về hình sự theo quy định của Chính phủ thì khi thuyên chuyển ngoài việc thông báo với Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đi và sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi đến.
6. Về Hội đoàn tôn giáo
Trước đây nội dung này không được đề cập một cách trực tiếp, tại khoản 1, Điều 7 của Nghị định 26 chỉ quy định cho tín đồ được tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức, phục vụ lễ nghi tôn giáo tại cơ sở thờ tự. Theo quy định mới của Pháp lệnh, Hội đoàn tôn giáo được xác định là một hình thức tập hợp tín đồ do tổ chức tôn giáo lập ra nhằm phục vụ hoạt động tôn giáo. Điều 19 của Pháp lệnh quy định Hội đoàn tôn giáo chỉ được hoạt động sau khi được tổ chức tôn giáo đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuỳ theo phạm vi hoạt động của Hội đoàn tôn giáo, tổ chức tôn giáo phải đăng ký với Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban Tôn giáo Chính phủ.
7. Về hoạt động của Dòng tu, Tu viện và các tổ chức tu hành tập thể
Nếu như Điều 19 của Nghị định 26 quy định : dòng tu, tu viện hoặc các tổ chức tu hành tập thể tương tự muốn hoạt động phải xin phép và được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì Điều 20 của Pháp lệnh đã có những sửa đổi cơ bản. Theo quy định mới, các tổ chức này chỉ cần đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban Tôn giáo Chính phủ) là có quyền hoạt động hợp pháp. Những dòng tu, tu viện đã đăng ký trước ngày Pháp lệnh này có hiệu lực thì không cần đăng ký lại.
8. Về vấn đề tài sản thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo
Pháp lệnh lần này khẳng định những tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm. Trong đó, đất đai thuộc những cơ sở này được Nhà nước bảo đảm quyền sử dụng ổn định, lâu dài; cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được quyền quyên góp, nhận tài sản, hiến, tặng, cho để phục vụ hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, việc quyên góp, hiến, tặng, cho phải bảo đảm sự tự nguyện của người đóng góp, tặng, cho; quyên góp phải công khai, rõ mục đích sử dụng và phải thông báo với Uỷ ban nhân dân nơi tổ chức quyên góp trước khi thực hiện.
9. Về hoạt động xã hội, từ thiện nhân đạo của chức sắc, nhà tu hành và tổ chức tôn giáo
Điều 17 của Nghị định 26 qui định nội dung này còn chung chung, chưa cụ thể. Với qui định mới của Pháp lệnh thì Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức tôn giáo tham gia nuôi dạy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; hỗ trợ cơ sở chăm sóc sức khoẻ người nghèo, người tàn tật, người nhiễm HIV - AIDS, bệnh nhân phong, tâm thần; hỗ trợ phát triển các cơ sở giáo dục mần non và tham gia các hoạt động khác vì mục đích từ thiện nhân đạo phù hợp với hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo và quy định của pháp luật. Chức sắc, nhà tu hành với tư cách công dân tổ chức hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo đựơc nhà nước khuyến khích theo quy định của pháp luật.
10. Về quan hệ quốc tế của tôn giáo
Xuất phát từ chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ quốc tế của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, các bên cùng có lợi, phù hợp với pháp luật mỗi bên, pháp luật và thông lệ quốc tế, do đó các mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo cũng được đổi mới cởi mở. Pháp lệnh chỉ giới hạn các quan hệ quốc tế liên quan đến tổ chức tôn giáo mới cần có sự chấp thuận của chính quyền. Pháp lệnh cũng nói rõ các mối quan hệ quốc tế của tôn giáo. Đây là một trong những nội dung mới của Pháp lệnh. Khi giảng đạo phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và tôn trọng quy định của tổ chức tôn giáo.
Người nước ngoài khi vào Việt Nam được mang theo xuất bản phẩm tôn giáo và đồ dùng việc đạo để phục vụ nhu cầu của bản thân; được tạo điều kiện sinh hoạt tôn giáo tại cơ sở tôn giáo như những tín đồ của Việt Nam; được mời chức sắc tôn giáo là người Việt Nam đến thực hiện lễ nghi tôn giáo cho mình; phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và tôn trọng quy định của tổ chức tôn giáo Việt Nam.
11. Về việc đình chỉ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
Theo Điều 15 của Pháp lệnh, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo có thể bị đình chỉ nếu vi phạm một trong các trường hợp : xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng hoặc môi trường; xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác hoặc có những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác. Quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng cho phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo khi nó diễn ra mà xâm phạm, ảnh hưởng, tác động xấu đến các quan hệ xã hội được Nhà nước bảo vệ.
Về việc chế tài xử phạt các hoạt động vi phạm, ngoài nội dung xử lý đối với những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vì mục đích chính trị xấu, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vào mục đích mê tín dị đoan như trước đây, Pháp lệnh còn nói đến việc xử lý đối với những ai phân biệt đối xử với lý do tín ngưỡng, tôn giáo; vi phạm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân.
12. Về hình thức quản lý và hiện lực của Pháp lệnh.
Trong quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo có 3 hình thức: Thông báo, đăng ký và xin phép (phải có sự chấp thuận của chính quyền). Nếu như trước đây hình thức xin phép là chính thì nay với Pháp lệnh này, hình thức thông báo và đăng ký là chủ yếu. Những sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo bình thường của nhân dân, những hoạt động tôn giáo bình thường của chức sắc, nhà tu hành được tôn trọng và đảm bảo không phải xin phép. Việc xin phép chủ yếu được áp dụng đối với hoạt động về mặt tổ chức của tổ chức giáo hội như công nhận tư cách pháp nhân tổ chức tôn giáo, việc tổ chức hội nghị, đại hội, việc mở trường đào tạo chức sắc, việc xây dựng nơi thờ tự, cơ sở tôn giáo, ... Những việc này được áp dụng tương tự như với các tổ chức đoàn thể xã hội khác.
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo là văn bản lập pháp, so với Nghị định 26 là văn bản hành pháp, nên Pháp lệnh tính thống nhất và hiệu lực rất cao. Tới đây Pháp lệnh sẽ được thống nhất thực hiện và có hiệu lực trên toàn cõi Việt Nam và đối với tất cả các tầng lớp nhân dân.
Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo ban hành là một bước tiến mới trong quá trình hoàn thiện quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta, nó sẽ tạo ra môi trường pháp lý mới để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đồng thời tạo điều kiện quản lý, đưa hoạt động của các tôn giáo tuân thủ chính sách, pháp luật.

TS Nguyễn Thanh Xuân
Phó trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Bộ đội cụ Hồ niềm tự hào của nhân dân Việt Nam (24/12/2004)
Chữ Nôm Một di sản văn hoá dân tộc (24/12/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Hà Nội - Thủ đô văn hiến vì hoà bình (20/12/2004)
Thành tựu và cống hiến của dân tộc ta trong sự nghiệp phát triển và bảo vệ quyền con người (12/12/2004)
Phát triển con người vì một nước Việt Nam hiện đại và văn minh (12/12/2004)
Cần tiếp tục ủng hộ nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam (12/12/2004)
Một chính sách nhất quán và hiện thực
Tự do tôn giáo ở Việt Nam cội nguồn và thực tiễn (12/12/2004)
Thành tựu về nhân quyền ở Việt Nam trong những năm qua (24/06/2004)
Festival Huế 2004
Di sản văn hoá với hội nhập và phát triển (24/06/2004)
Về nhã nhạc cung đình Huế
Di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (24/06/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Hôm nay, khai mạc kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII
· Trái Đất đón chờ cảnh tượng triệu năm có một
· Đại hội thành lập Hiệp hội Nữ doanh nhân Việt Nam
· Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa XIII
· Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Đại biểu Quốc hội vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh
· Kỷ niệm 100 năm ngày sinh đồng chí Lý Tự Trọng
· Mỹ tiến hành đợt không kích mới nhằm vào IS ở Iraq, Syria
Giao tranh ác liệt tại thị trấn Kobane, Syria
· Chuyên gia Đức đánh giá cao phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về Biển Đông
· Việt Nam chuẩn bị diễn tập quy mô đối phó với dịch bệnh Ebola
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet