Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 26 tháng 10 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Phát triển con người vì một nước Việt Nam hiện đại và văn minh
22:46 | 12/12/2004
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc phát triển con người những năm vừa qua, chúng tôi đăng bài của ngài Jordan Ryan viết riêng cho Tạp chí Thông tin đối ngoại về vấn đề này, để bạn đọc tham khảo.
1.Tổng quan
Những thành tựu về phát triển con người Việt Nam đạt được trong hai thập kỷ qua, đã được dư luận thế giới hoan nghênh rộng rãi. Đây cũng là nỗ lực phấn đấu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong suốt quá trình phát triển đất nước. Trong Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2001 - 2010 khẳng định: tiếp tục nâng cao hơn nữa Chỉ số Phát triển con người của Việt Nam vào năm 2010, và mục tiêu thúc đẩy “phát triển con người toàn diện”, cũng được nêu ra trong Kế hoạch 5 năm của Chính phủ giai đoạn này, được Thủ tướng Phan Văn Khải đưa ra lần đầu tiên vào tháng 9 năm 2002.
Báo cáo Phát triển con người Việt Nam (PTCNVN) đầu tiên mang tên “Đổi mới và Phát triển con người”, xuất bản vào tháng 11 năm 2001 nhấn mạnh rằng, phát triển con người, đó là “quá trình nâng cao năng lực và mở rộng sự lựa chọn nhằm cải thiện cuộc sống về mọi mặt cho người dân một cách bền vững”. Điều đặc biệt đáng lưu ý là, ở đây để phân tích và đi đến kết luận rằng, công cuộc đổi mới của Việt Nam được nhiều người biết đến, thực sự là một quá trình rất thành công về nâng cao năng lực và mở rộng sự lựa chọn, giúp cho người dân cải thiện cuộc sống của mình về mọi mặt. Thành tựu đó ở Việt Nam thể hiện như: tỷ lệ nghèo đã giảm hẳn kể từ giữa thập kỷ 80 đến nay; Chỉ số Phát triển con người và rất nhiều chỉ số xã hội khác của Việt Nam không ngừng được nâng cao một cách vững chắc, phản ảnh những bước cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống của đại đa số người dân Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình đó, sự chênh lệch đang gia tăng về kinh tế - xã hội giữa 64 tỉnh/thành trong cả nước cũng cần được quan tâm giải quyết.
Mặt khác, khái niệm phát triển con người, cần nhìn nhận nó trên phạm vi rộng hơn phạm trù phát triển kinh tế. Để đạt được mục tiêu phát triển con người, xã hội cần tạo ra một môi trường để người dân có khả năng phát huy đầy đủ khả năng lao động và sự sáng tạo để đáp ứng các nhu cầu và lợi ích của mình. Đương nhiên, việc nâng cao thu nhập có ý nghĩa hết sức quan trọng để mở rộng sự lựa chọn, song đó không phải là yếu tố duy nhất. Tăng trưởng kinh tế là phương tiện, song người dân còn cần có tri thức, kỹ năng, sức khoẻ, hoà bình, được tiếp cận với hệ thống tư pháp và tự do sống trong cuộc sống mà họ lựa chọn.
Những ý tưởng đó không phải là mới mẻ. Trong lịch sử, con người đã mở rộng tầm nhìn của mình về một cuộc sống tốt đẹp, mà không chỉ giản đơn là có tích luỹ của cải vật chất. Như Aristotle trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại đã nói: “Của cải rõ ràng không phải là điều mà chúng ta tìm kiếm, vì nó chỉ có tác dụng phục vụ cho mục đích khác mà thôi”. Trong các bài viết và phát biểu của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập tới quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc của mọi cá nhân, mà theo Người, điều đó vượt ra ngoài cuộc sống vật chất và bao gồm cả khả năng biết đọc, biết viết, phát triển văn hoá và đời sống tinh thần của người dân.
Mỗi xã hội và mỗi nền văn hoá có những quan điểm riêng về những gì tạo nên một cuộc sống tốt đẹp. Mỗi con người có quan niệm khác nhau về những giá trị và mục tiêu này, chúng thay đổi theo thời gian. Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc, do dựa trên các nguyên tắc cơ bản là quyền tự quyết và tôn trọng lẫn nhau, nên không có một cách định nghĩa duy nhất, thế nào là một cuộc sống tốt đẹp, mà thay vào đó là quyền tăng cường năng lực và phát huy tiềm năng của con người. Do đó, đối với Liên Hợp Quốc, các quyền và phát triển con người là hai khái niệm có quan hệ mật thiết với nhau. Nhân phẩm, lòng tự trọng và sự tôn trọng con người đòi hỏi các cá nhân phải được tự do lựa chọn và tham gia vào quá trình ra quyết định của đất nước, xây dựng đời sống văn hoá.
ở Việt Nam, công cuộc đổi mới được khởi xướng vào năm 1986, trong thời gian rất ngắn đã mở ra rất nhiều cơ hội lựa chọn cho người dân. Tăng trưởng kinh tế một cách nhanh chóng và bền vững là cơ sở vững chắc để cải thiện rõ rệt mức sống của người dân ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Do vậy, việc giúp con người thoát khỏi cảnh nghèo đói, được ghi nhận là mục tiêu có ý nghĩa quan trọng nhất của Tuyên bố Thiên niên kỷ. Tuy nhiên, ngoài mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã liên tục phấn đấu tăng cường khả năng tiếp cận của người dân với các dịch vụ y tế, giáo dục và cải thiện điều kiện sống cho những người nghèo nhất trong xã hội. Thách thức đặt ra cho tương lai là, cùng với việc không ngừng mở rộng các cơ hội để tăng cường năng lực của người dân, Việt Nam thực hiện các chủ trương bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội khỏi bị đói nghèo, phân biệt đối xử và bất bình đẳng.
2. Báo cáo Phát triển con người toàn cầu năm 2004: Tự do về văn hoá trong thế giới đa dạng ngày nay
Báo cáo Phát triển con người toàn cầu năm 2004 cho rằng, tự do văn hoá cần được coi như một quyền cơ bản của con người và là phần thiết yếu của sự nghiệp phát triển trong xã hội ngày càng đa dạng hôm nay. Các vấn đề về bản sắc và phương pháp tiếp cận khác nhau về chủ nghĩa đa văn hoá, trong đó đề cập tới các chủ đề như giáo dục song ngữ, chống phân biệt đối xử trong lĩnh vực việc làm và giáo dục, và phương thức tiếp cận mới về sự đại diện và cơ cấu quyền lực Nhà nước theo tỷ lệ… Cần phải thấy rằng, sự đa dạng về văn hoá không phải là một nguy cơ đe doạ đối với phát triển, mà trái lại nó phản ánh nhu cầu cơ bản của con người là được thể hiện các bản sắc về dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ của mình. Tự do về văn hoá trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, công bằng và tự do cũng có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển con người như y tế, giáo dục và mức thu nhập tối thiểu. Vì vậy, việc xây dựng xã hội mang tính hoà nhập là yếu tố căn bản để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.
Trong một quốc gia đa dân tộc, mọi người dân đều có quyền gìn giữ các bản sắc dân tộc, ngôn ngữ và tôn giáo của mình. Tuy nhiên, bản sắc không mang tính đơn lẻ và không phải là bất biến. Con người xác định cho mình các bản sắc về giới, dân tộc, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệ gia đình và hàng loạt các nét đặc trưng khác về phương diện cá nhân và xã hội.
Việc nhìn nhận bản sắc như một yếu tố năng động và đa diện, có ý nghĩa then chốt để tránh sự lo ngại về đa dạng văn hoá, và quan niệm cho rằng, đa dạng tất yếu dẫn đến xung đột. Việc tự do lựa chọn bản sắc và thực hiện những hoài bão về văn hoá là quyền con người cơ bản. Để đảm bảo phát triển bền vững trong xã hội đa dạng đòi hỏi Nhà nước phải có một loạt các chủ trương, chính sách thừa nhận và bảo vệ các bản sắc. Nguyên nhân dẫn đến xung đột chính do sự kìm hãm việc thể hiện bản sắc văn hoá, chứ không phải tự do về văn hoá. Đa dạng văn hoá là một vấn đề của phát triển, ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Hiện có hơn 5000 dân tộc sống ở khoảng 200 nước trên thế giới. Cứ trong ba nước thì hai nước có ít nhất một nhóm dân tộc thiểu số hay tôn giáo chính, chiếm từ 10% dân số trở lên. Theo một nghiên cứu do dự án “Những nhóm dân thiểu số đứng trước nguy cơ” của trường Đại học Maryland tiến hành và được trích dẫn trong Báo cáo Phát triển con người toàn cầu năm 2004 , một phần bảy dân số thế giới - khoảng 900 triệu người - bị phân biệt đối xử vì lý do bản sắc về dân tộc, sắc tộc hay tôn giáo của họ.
Công tác chính trị mang tính văn hóa ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong thế kỷ XXI. Có nhiều yếu tố góp phần tạo ra xu hướng này, trong đó có sự lan rộng của chế độ dân chủ và các quyền tự do của các cơ quan thông tin đại chúng, những tiến bộ trong lĩnh vực viễn thông, quá trình toàn cầu hoá về kinh tế và tốc độ di cư quốc tế gia tăng. Tự do về văn hoá giúp cho các xã hội đa dạng đạt được sự ổn định về chính trị, sự hoà hợp và tạo ra một môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế. Các chính sách ủng hộ sự đa dạng và thúc đẩy chủ nghĩa đa văn hoá dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, cho phép người dân biểu thị các bản sắc văn hoá của mình mà không cần sử dụng tới giải pháp xung đột và loại trừ.
Làn sóng di cư quốc tế mạnh mẽ trong hai mươi năm qua đã đặt ra những nhu cầu mới về đa dạng văn hoá, đặc biệt là ở các nước tiếp nhận người di cư. Số người di cư từ châu Á, châu Phi và châu Mỹ tới các nước thuộc Liên minh châu Âu đã tăng thêm khoảng 75% trong giai đoạn 1980 - 2000. Bắc Mỹ còn tiếp nhận dòng người nhập cư lớn hơn nhiều. Tại những nước nhỏ như Xinhgapo và một số quốc gia ở vùng Vịnh Ba Tư, những người lao động nước ngoài và những người nhập cư khác chiếm ít nhất một phần ba dân số. Chỉ riêng quy mô nhập cư ngày nay cũng đủ để cho thấy rằng, những phương thức tiếp cận thông thường dựa trên sự đồng hoá các dân tộc thiểu số sẽ không đáp ứng được nguyện vọng của dân di cư và cần có những chính sách mới ghi nhận các bản sắc văn hoá để đảm bảo sự hoà nhập, công bằng và ổn định về chính trị.
Về mối quan hệ giữa tự do về văn hoá và quá trình toàn cầu hoá. Cần lưu ý rằng, các sản phẩm văn hoá khác với sản phẩm thương mại ở chỗ, văn hóa phẩm là một phần không thể thiếu của cộng đồng sản sinh ra chúng. Cần có sự hỗ trợ mang tính tích cực thông qua các cơ chế, như trợ cấp cho các loại hình nghệ thuật để tránh tình trạng thống trị về văn hoá dựa vào quy mô thị trường và lợi thế kinh tế nhờ quy mô trong lĩnh vực sản xuất các văn hoá phẩm. Đồng thời, cần tránh những biện pháp mang tính tiêu cực như lập ra các rào cản thương mại đối với sự giao lưu các văn hoá phẩm.
Đối với những xã hội có nhiều nhóm dân tộc hay ngôn ngữ tập trung theo vùng địa lý, cần khuyến khích áp dụng “cơ cấu liên bang không đối xứng” để có thể quản lý thành công một xã hội đa văn hoá. Những biện pháp đặc biệt như vậy, tạo điều kiện cho các nhóm dân cư tập trung theo vùng lãnh thổ duy trì các bản sắc của mình trong hệ thống quyền lực quốc gia chung, như vậy hạn chế khả năng xảy ra bạo lực hay nhu cầu ly khai.
Các quốc gia cũng có trách nhiệm bảo vệ các quyền và tự do về tôn giáo cho tất cả các thành viên của mình. Mọi người đều có quyền theo đạo và diễn giải đạo giáo đó theo quy định của pháp luật. Các mối quan hệ dựa trên niềm tin cần được chi phối bởi sự vị tha và tôn trọng lẫn nhau, và điều đó có nghĩa là cần gắn tự do tín ngưỡng với trách nhiệm trong việc thực hiện quyền tự do này.
Tự do văn hoá còn liên quan tới ngôn ngữ. Hầu hết các nước có khá nhiều dân tộc thiểu số không sử dụng ngôn ngữ chính thức của quốc gia như tiếng mẹ đẻ của mình. Ví dụ, khu vực cận Sahara của châu Phi có hơn 2.600 ngôn ngữ, và ở hơn 30 nước trong khu vực này, ngôn ngữ chính thức không phải là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất. Một số cơ chế sáng tạo đã được áp dụng để tạo điều kiện cho những người nói các ngôn ngữ thiểu số được tham gia đầy đủ trong nền văn hoá và chính trị quốc gia. Các nước đa ngôn ngữ cần áp dụng cơ chế ba ngôn ngữ, bao gồm: một ngôn ngữ chính thức của quốc gia, một ngôn ngữ chung (trong một số trường hợp, đó là ngôn ngữ chính thức) để thuận tiện cho việc giao tiếp giữa các nhóm dân cư với nhau, và chính thức công nhận các ngôn ngữ bản địa khác. Điều hết sức quan trọng là tạo điều kiện cho trẻ em được học tập bằng tiếng mẹ đẻ của chúng. Các nghiên cứu toàn cầu cho thấy trẻ em đạt kết quả tốt hơn khi được học tập bằng chính ngôn ngữ của dân tộc mình, và cơ hội đó không gây bất lợi cho trẻ em về sau này. Suy cho cùng, việc đồng hoá một cách khiên cưỡng theo ngôn ngữ quốc gia không phải là giải pháp tốt nhất.
3. Chỉ số Phát triển con người
Chỉ số Phát triển con người (HDI) bao gồm ba khía cạnh cơ bản, đó là: một cuộc sống khoẻ mạnh và trường thọ (được đo bằng tuổi thọ con người); tri thức (được đo bằng tỷ lệ biết chữ ở người lớn và tỷ lệ nhập học chung tổng hợp cho các cấp tiểu học, trung học và đại học); và mức sống khấm khá (được đo bằng GDP bình quân đầu người chuyển đổi theo sức mua tương đương (PPP) theo Đô La Mỹ).
Chỉ số HDI được công bố trong Báo cáo Phát triển con người năm 2004 sử dụng số liệu từ năm 2002. Các số liệu này được thu thập từ 175 nước thành viên của Liên Hợp Quốc, cùng với Hồng Kông (thuộc Trung Quốc) và Lãnh thổ Palétxtin bị chiếm đóng. Hai nước - Đông Timo và Tông-ga lần đầu tiên được đưa vào bảng xếp hạng về chỉ số HDI. Việc đưa Tông-ga vào bảng này (ở vị trí 63) làm cho vị trí xếp hạng của Việt Nam bị tụt đi một bậc. Việc bổ sung thêm Đông Timo, nước nghèo nhất ở khu vực châu Á, không ảnh hưởng tới vị trí của Việt Nam trong bảng xếp hạng chỉ số HDI. Hiện có 16 nước thành viên của Liên Hợp Quốc bị thiếu các số liệu so sánh nên không thể đưa vào bảng xếp hạng về chỉ số HDI.
Báo cáo Phát triển con người năm 2004 trình bày chỉ số HDI theo các giai đoạn 5 năm, trong thời gian từ 1975 đến 2002 (xem Bảng 2 ). Những con số ước tính này, được tính toán theo một phương pháp thống nhất và sử dụng số liệu có thể so sánh về tình hình phát triển con người ở mỗi nước. Ví dụ, theo Báo cáo năm nay, GDP bình quân đầu người của Ghi-nê Xích đạo, được chuyển đổi theo sức mua tương đương, đã tăng gần gấp đôi lên tới 30.130 USD, vì vậy đã nâng vị trí của nước này từ 116 lên 109 trong bảng xếp hạng theo chỉ số HDI (vượt lên trên Việt Nam). Sự thay đổi đó một phần là do nước này có rất ít dân (500.000) nhưng đã khám phá và khai thác những trữ lượng dầu lớn, và do có những điều chỉnh về số liệu giá cả trong nước. Trên thực tế, vị trí xếp hạng tăng lên không thể hiện kết quả cải thiện thực sự về phát triển con người trong một giai đoạn dài.
Vì vậy, kết quả so sánh chỉ số HDI hay vị trí xếp hạng các nước theo chỉ số này qua từng năm không có ý nghĩa về mặt thông tin. Sẽ bổ ích hơn nếu chúng ta xem xét những thay đổi về chỉ số HDI về trung và dài hạn. Khu vực Nam á cũng đạt kết quả rất tốt trong 15 năm qua. Khu vực cận Sahara của châu Phi đạt kết quả kém nhất trong giai đoạn đó, và trên thực tế chỉ số HDI của khu vực này đã giảm sút kể từ sau 1995. Tình hình ở các nước chuyển đổi trong khu vực Trung và Đông Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) trở nên tồi tệ hơn sau 1990, nhưng bắt đầu phục hồi sau 1995, và kết quả là chỉ số HDI của các nước này giờ đây đã xấp xỉ mức ban đầu. Do đợt khủng hoảng về nợ nước ngoài bắt đầu vào những năm đầu thập kỷ 80, quá trình cải thiện về chỉ số HDI ở châu Mỹ La tinh và vùng Ca-ri-bê diễn ra với tốc độ chậm. Chỉ số HDI ở các nước A-rập cũng tăng chậm trong những năm gần đây.
Nói chung, chiều hướng đó tương ứng với chiều hướng tăng trưởng GDP ở các khu vực. Tuy nhiên, trong một số trường hợp có những sự khác biệt giữa thước đo về phát triển dựa trên thu nhập và chỉ số HDI. Ví dụ, Việt Nam và Pakixtan đều có mức thu nhập bình quân đầu người tính theo PPP xấp xỉ như nhau trong năm 2002. Tuy nhiên, chỉ số HDI của Việt Nam cao hơn chỉ số này của Pakixtan 40%, chủ yếu là do Việt Nam có tỷ lệ nhập học của trẻ em gái và tỷ lệ biết chữ ở người lớn cao hơn. Tuổi thọ trung bình ở Việt Nam cao hơn đáng kể so với Pakixtan. Trên thực tế, chỉ số HDI của Việt Nam còn cao hơn cả Ai-cập mặc dù mức thu nhập bình quân đầu người ở Ai-cập cao hơn so với Việt Nam 65%.
Đổi mới, phát triển con người và Tuyên bố Thiên niên kỷ
Tuyên bố Thiên niên kỷ, được Việt Nam cùng với tất cả các nước thành viên khác của Liên Hợp Quốc thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ vào năm 2000, là nền tảng cho các hoạt động hỗ trợ phát triển của Liên Hợp Quốc tại Việt Nam và trên toàn cầu, khẳng định lại những giá trị cơ bản như tự do, bình đẳng, đoàn kết, vị tha và tôn trọng thiên nhiên. Tuyên bố còn đề ra tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) mà tất cả các quốc gia đã cam kết đạt được vào năm 2015.
Để quá trình toàn cầu hoá mang lại lợi ích cho nhân dân Việt Nam, Nhà nước Việt Nam đã cam kết đạt được các MDG vào năm 2015. Các MDG có thể tạo ra khuôn khổ lý tưởng cho việc định hướng, theo dõi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và tác động của quá trình này đối với người dân. Việc đạt được các MDG cũng sẽ góp phần đáng kể vào việc cải thiện hơn nữa tình hình phát triển con người ở Việt Nam.
Sứ mệnh của Liên Hợp Quốc tại Việt Nam là phối hợp với Chính phủ và nhân dân Việt Nam thúc đẩy sự nghiệp phát triển con người, là quá trình mở rộng sự lựa chọn và giúp cho người dân có được một cuộc sống hạnh phúc với đầy đủ chân giá trị của mình. Như vậy, phát triển con người đòi hỏi phải giúp người dân thoát khỏi cảnh nghèo đói và không ngừng cải thiện cuộc sống vật chất. Phát triển con người còn bao hàm các khía cạnh xã hội, văn hoá và chính trị. Tất cả tiền bạc trên thế giới không mua được hạnh phúc nếu người dân còn sống trong cảnh thiếu kiến thức, bị cô lập hay hoảng sợ.
Những khái niệm này đã được nhiều người biết đến và trân trọng ở Việt Nam, một đất nước từ lâu vẫn coi bình đẳng, nhân phẩm, giáo dục và đời sống tinh thần của người dân cùng với độc lập dân tộc và phát triển kinh tế là những mục tiêu then chốt của quốc gia. Công cuộc đổi mới là một bước tiến lớn trên con đường đạt được các mục tiêu này. Công cuộc đổi mới đã mở rộng sự lựa chọn, nâng cao thu nhập và tăng cường năng lực của quốc gia để bảo vệ những nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất, trong đó có những người bị thiếu đói và nghèo khổ ở mức nghiêm trọng.
4. Hướng tới tương lai
Ở Việt Nam, Báo cáo Phát triển con người của Việt Nam lần thứ hai đang được xây dựng, tập trung vào việc giải quyết thách thức về đẩy nhanh tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ đề của Báo cáo mới này là “Hội nhập phục vụ phát triển con người Việt Nam”. Chủ đề này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với Việt Nam. Việt Nam đang đẩy nhanh tốc độ hội nhập kinh tế thông qua AFTA, Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam - Hoa Kỳ và WTO; tiếp tục tăng nhanh lượng đầu tư trực tiếp của nước ngoài và tài chính quốc tế; phát triển nhanh ngành du lịch; mở rộng tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông, dịch vụ internet, truyền hình vệ tinh; và các hoạt động khác.
Tất cả những điều đó sẽ mở ra nhiều cơ hội mới, kể cả các cơ hội tiếp tục mở rộng năng lực và sự lựa chọn cho người dân, song cũng làm nảy sinh một số nguy cơ to lớn cần được theo dõi và giảm thiểu, để đảm bảo cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thực sự mang lại lợi ích cho nhân dân Việt Nam.
Tuy nhiên, quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng đặt ra các vấn đề liên quan tới năng lực cạnh tranh, tạo việc làm, chất lượng đầu tư nước ngoài, tác động về môi trường, ổn định về tài chính, bất bình đẳng gia tăng, tác động đối với các vùng nông thôn, di cư, HIV/AIDS và rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội có liên quan khác, góp phần quyết định phương hướng của sự nghiệp phát triển con người ở Việt Nam trong những năm tới.
Vì vậy, một nhu cầu cấp bách đặt ra là cần phải thực hiện công tác phân tích chính sách với chất lượng cao, xác định xem tất cả những vấn đề đó sẽ có tác động như thế nào đối với cuộc sống của người dân, văn hoá và xã hội ở Việt Nam, giúp cho các cán bộ hoạch định chính sách xác định được phương hướng giải quyết thách thức về hội nhập kinh tế quốc tế.
Vẫn còn nhiều việc cần phải làm, thách thức đối với Việt Nam hiện nay là tăng cường về chiều sâu và duy trì công cuộc cải cách, đồng thời bảo trợ cho các nhóm dân dễ bị tổn thương nhất trong xã hội. Việt Nam cần đạt được những mục tiêu này trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá trên thế giới đang diễn ra nhanh chóng và quá trình hội nhập quốc tế đang đến gần hơn bao giờ hết. Các vấn đề phức tạp và cấp bách này đặt ra những thách thức hết sức to lớn về mặt quản lý đối với các cán bộ hoạch định chính sách. Vai trò của Liên Hợp Quốc giờ đây là hỗ trợ những nỗ lực của Chính phủ và nhân dân Việt Nam nhằm tăng cường tối đa sự nghiệp phát triển con người, đồng thời tiếp tục khẳng định những giá trị cơ bản và niềm tin của con người vào tiến trình phát triển văn minh nhân loại.

Jordan Ryan
Đại diện Thường trú UNDP;
Điều phối viên Thường trú của LHQ tại Việt Nam

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Bộ đội cụ Hồ niềm tự hào của nhân dân Việt Nam (24/12/2004)
Chữ Nôm Một di sản văn hoá dân tộc (24/12/2004)
Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và những điểm mới trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo (20/12/2004)
Hà Nội - Thủ đô văn hiến vì hoà bình (20/12/2004)
Thành tựu và cống hiến của dân tộc ta trong sự nghiệp phát triển và bảo vệ quyền con người (12/12/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Cần tiếp tục ủng hộ nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam (12/12/2004)
Một chính sách nhất quán và hiện thực
Tự do tôn giáo ở Việt Nam cội nguồn và thực tiễn (12/12/2004)
Thành tựu về nhân quyền ở Việt Nam trong những năm qua (24/06/2004)
Festival Huế 2004
Di sản văn hoá với hội nhập và phát triển (24/06/2004)
Về nhã nhạc cung đình Huế
Di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (24/06/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ
· Đón nhận dòng dầu đầu tiên mỏ Sư Tử Nâu, khu vực mở rộng mỏ Sư Tử Vàng
· Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc làm việc với thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia
· Liên minh quốc tế chống "Nhà nước Hồi giáo" tự xưng dự kiến họp tại Kuwait
· Tăng trưởng kinh tế của Vương quốc Anh cao nhất trong Nhóm G7
· “Tự hào Doanh nhân Việt Nam” 2014
· Hai trang điện tử bị Bộ Thông tin và Truyền thông xử phạt
· Venezuela thay Bộ trưởng Quốc phòng, xét lại quan hệ với Tây Ban Nha
· Xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm Dịch vụ - Du lịch quốc tế
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet