Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 24 tháng 11 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Đường phố Hà Nội theo vần C
08:34 | 25/02/2010

CẢM HỘI

 

Phố: dài 260m; từ giữa phố Nguyễn Cao rẽ vào, ngoặt góc thước thợ qua khu chung cư của Đại học Quốc gia sang đến phố Lò Đúc (cạnh số 149). 

 

Đất hai thôn Cảm ứng và Yên Hội hợp nhất thành Cảm Hội, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc hai phường Phạm Đình Hổ và Đống Mác, quận Hai Bà Trưng.

 

Thời Pháp thuộc: đường 334 (voie 334). Tên mới được đặt từ năm 1994.

 

CAO BÁ QUÁT


 Phố Cao Bá Quát     (Ảnh tư liệu)

 

Phố: dài gần 500m; từ đầu phố Lê Duẩn cắt ngang phố Hoàng Diệu, ngoặt chéo sang phố Nguyễn Thái Học, cạnh Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

 

Vốn là con đường men theo hào phía nam thành Thăng Long thời Nguyễn. Nay thuộc phường Điện Biên, quận Ba Đình.

 

Thời Pháp thuộc có tên là phố Tuyên Quang.

 

Cao Bá Quát (1808 - 1855): tự Chu Thần, hiệu Cúc đường, Mẫn Hiên, nhà thơ, người xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, sang sống ở Thăng Long. Năm 1831 đỗ cử nhân. 1851 làm Giáo thụ Quốc Oai (Sơn Tây), 1854 cùng Lê Duy Cự khởi nghĩa Mỹ Lương (nay là Mỹ Đức, Hà Nội) bị đàn áp dã man, ông hy sinh vào đầu năm 1855. Nhà thơ lớn để lại hơn 1300 bài thơ, ông còn là nhà thư pháp, người đời tôn là “Thánh Quát”.

 

CAO ĐẠT

 

Phố: dài 125m; từ phố Lê Đại Hành đến đường Đại Cồ Việt.

 

Đất thôn Long Hồ, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

 

Nay thuộc phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng.

 

Thời Pháp thuộc gọi là đường H1 (voie H1).

 

Cao Đạt: người Bầu Thượng, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, tham gia khởi nghĩa Phan Đình Phùng (1885). Phong trào tan vỡ, năm 1895 ông bị Pháp bắt ở Xiêm (Thái Lan) và đem về giam tại Côn Đảo. Mãi về già mới được thả, về chết ở quê. Có thuyết nói ông bị bắt năm 1891 và bị chém đầu ở Thanh Hoá.

 

CAO LỖ

 

Đường: dài 1,8km; từ ngã tư quốc lộ 3 (Bưu điện Đông Anh) đến ngã tư Nhà máy Chế biến thức ăn chăn nuôi, thuộc thị trấn Đông Anh.

 

Vốn là đất xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh trước đây. Tên mới được đặt từ tháng 8-2005.

 

Cao Lỗ (? - 180 TCN): một danh tướng thời An Dương Vương. Theo dã sử, ông còn có tên là Thông, vốn là người bộ Vũ Ninh (nay thuộc Bắc Ninh). Thuở trẻ ông đã tinh thông võ nghệ, được tôn là Đô Lỗ. Ông theo Thục Phán đánh giặc lập nhiều công nên được phong tước hầu. Khi xây thành Cổ Loa, vua Thục được thần Kim Quy giúp và tặng cho chiếc móng để làm lẫy nỏ, mỗi lần bắn ra hàng trăm mũi lên, diệt hàng trăm giặc, gọi là Linh Quang thần nỗ. Cao Lỗ là người chế tạo nỏ và đã diệt quân Triệu Đà nhiều lần. Sau họ Triệu cho con trai là Trọng Thủy sang ở rể với âm mưu phá hoại nỏ thần. Ông can ngăn không được lại bị vua Thục đuổi về quê. Quả nhiên vua Thục mất cảnh giác, bị Triệu Đà đem quân sang chiếm nước Âu Lạc, An Dương Vương phải tự vẫn. Ông chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược và đã ngã xuống trên đất quê hương.

 

CAO THẮNG

 

Phố: dài 140m; từ đường Trần Nhật Duật đến phố Nguyễn Thiện Thuật, phía sau chợ Đồng Xuân.

 

Đất thôn Nguyên Khiết Thượng, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ.

 

Nay thuộc phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm.

 

Thời Pháp thuộc là phố Gơrappanh (rue Grappin). Sau Cách mạng: phố Nguyễn Cảnh Chân. Sau hoà bình: đổi thành tên này.

 

Cao Thắng (1864 - 1893): người làng Yên Đức, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, tham gia khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng chỉ huy năm 1885, ông hy sinh trong một trận đánh đồn Pháp ở Thanh Chương (Nghệ An) ngày 21 - 11 – 1893.

 

CÁT LINH



 Phố Cát Linh     (ảnh tư liệu)


Phố: dài 725m; từ ngã tư phố Tôn Đức Thắng - Quốc Tử Giám đi tới phố Giảng Võ, nối đầu với phố Giang Văn Minh.

 

Đất cũ phường Bích Câu, sau thuộc thôn An Trạch và Cát Linh, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ.

 

Nay thuộc phường Cát Linh, quận Đống Đa.

 

Di tích xếp hạng năm 1990 là Bích Câu đạo quán ở số 12, thờ Tú Uyên, nhân vật trong truyện Bích Câu kỳ ngộ, đây là nơi tu hành của những người theo Đạo giáo. Chùa Trại ở sau số nhà 40, tên chữ là Xiển Pháp tự, xưa là cơ sở ấn loát kinh Phật, đã xếp hạng di tích năm 2003; chùa Phổ Quang ở trong ngõ 27.

 

Thời Pháp thuộc đã mang tên này (route de Cat Linh).

 

CẨM VĂN

 

Ngõ: từ cuối ngõ Quan Thổ 1 (phố Tôn Đức Thắng rẽ vào) đi thông sang đường đê La Thành ở gần Ô Chợ Dừa.

 

Đất làng Hào Nam, phường Thịnh Hào, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ.

 

Nay thuộc phường Hàng Bột, quận Đống Đa.

 

Cẩm Văn là tên gọi cũ của một trang trại ở đây.

 

CẦU BƯƠU

 

Đường: dài 2,1km; từ cầu Bươu, nối tiếp đường Phan Trọng Tuệ đến hết địa phận xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, giáp địa giới thành phố Hà Đông, một đoạn tiếp của đường 70A.

 

Cầu Bươu là tên cây cầu bắc qua con sông đào nối sông Tô Lịch, đoạn thuộc xã Thanh Liệt, sang sông Nhuệ ở địa phận xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì.

 

Tên mới được đặt từ tháng 8-2005.

 

CẦU DIỄN



 Phố Cầu Diễn                 (Ảnh tư liệu)

Đường: dài 3,4km; từ cầu Diễn đến ngã tư Nhổn. Đây là một đoạn của đường 32 (Hà Nội - Sơn Tây) đi qua hai xã Phú Diễn và Minh Khai huyện Từ Liêm trước đây, nay thuộc thị trấn Cầu Diễn, xã Phú Diễn, xã Minh Khai huyện Từ Liêm. Tên mới được đặt từ tháng 1-2002.

 

Cần Diễn là tên cây cầu bắc qua sông Nhuệ, đất thôn Kiều Mai, xã Phú Diễn (sau có một thời gian sáp nhập với xã Minh Khai thành xã Phú Minh), và vùng đất hai bên cây cầu này được cắt ra lập thành thị trấn Cầu Diễn năm 1982.

 

CẦU ĐẤT

 

Phố: dài 260m, từ đường Hồng Hà, cạnh đê đường Trần Quang Khải, gần Bảo tàng Lịch sử, đến đường Bạch Đằng ở ngoài đê sông Hồng.

 

Tên này thành phố chính thức đặt tháng 1-1999.

 

CẦU ĐÔNG

 

Phố: gần 150m; từ phố Nguyễn Thiện Thuật đến phố Đồng Xuân, sát cạnh chợ Đồng Xuân, phố mới mở khi xây dựng lại chợ này năm 1991.

 

Đất phường Đồng Xuân, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ, xưa có cây cầu bắc qua sông Tô và có chợ họp ngay đầu cầu, nên có tên gọi là chợ Cầu Đông. Thời Pháp thuộc lấp đoạn sông Tô này, nhập hai chợ cũ Cầu Đông và Bạch Mã thành chợ Đồng Xuân.

 

Nay thuộc phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm.

 

Tên mới được đặt từ năm 1991.

 

CẦU GIẤY

 

Đường: dài 1,8km; từ ngã ba Voi Phục - Kim Mã – La Thành chạy qua Cầu Giấy trên sông Tô, đến ngã ba với phố Nguyễn Phong Sắc và nối với đường Xuân Thủy.

 

Đoạn đường thiên lý cũ từ kinh thành lên xứ Đoài, sau là quốc lộ 11, rồi đổi là quốc lộ 32 (Hà Nội - Sơn Tây), chạy trên đất trại Thủ Lệ, tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận; xã Yên Hoà và xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức cũ.

 

Nay thuộc phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình; phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy.

 

Trước đây, phố Cầu Giấy chỉ có đoạn đầu, còn phần sau là phố Dịch Vọng, khi thành lập thị trấn Cầu Giấy mới kéo dài thêm. Tháng 9-1997, quận Cầu Giấy mới thành lập, thị trấn Cầu Giấy đổi tên là phường Quan Hoa, còn phường Cầu Giấy, quận Ba Đình đổi lại thành phường Ngọc Khánh.

 

Tên mới điều chỉnh lại tháng 1-1998.

 

Thượng Yên Quyết, một thôn của xã Yên Hoà là làng làm giấy, nên còn có tên nôm là Làng Giấy, thường đem sản phẩm bày bán ở chiếc cầu cổ có mái bắc qua sông Tô cạnh làng nên thành tên Cầu Giấy. Đầu đường có đền cổ Voi Phục thờ Linh Lang, trấn phía tây kinh thành, di tích xếp hạng năm 1962.

 

Đừng lẫn với Ô Cầu Giấy là tên gọi khác của Ô Thanh Bảo ở phía tây kinh thành, nay là phố Thanh Bảo (xem thêm phố này).

 

CẦU GỖ

 

Phố: dài 250m; nối phố Hàng Thùng (ở ngã tư với Hàng Dầu - Hàng Bè) đến giáp góc hai phố Hàng Đào - Hàng Gai, cạnh quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục.

 

Đất hai thôn Nhiễm Thượng và Hương Mính, tổng Hữu Tức, huyện Thọ Xương cũ. Xưa có chiếc cầu gỗ bắc qua con mương nối hồ Thái Cực (Hàng Đào) với hồ Gươm, thời Pháp thuộc lấp hồ Thái Cực và con mương có chiếc cầu gỗ để làm phố. Nay thuộc phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm.

 

Thời Pháp thuộc đã gọi là phố Cầu Gỗ (rue du Pont en bois).

 

Ngõ: nối phố Gia Ngư với phố Cầu Gỗ, nay là một phần của chợ Hàng Bè.

 

Thời Pháp thuộc gọi là phố Nguyễn Trọng Hợp. Sau Cách mạng: phố Trần Cao Vân. Thời tạm chiếm: phố Cao Bá Nha. Từ tháng 6-1994 đổi là ngõ Cầu Gỗ.

 

CHẢ CÁ

 

Phố: dài 180m; nối phố Hàng Lược (ở ngã tư Hàng Mã) đến phố Lãn Ông, cắt ngang qua phố Hàng Cá.

 

Đất thôn Đồng Thuận, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Trước bán sơn ta. Nay thuộc phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm.

 

Thời Pháp thuộc là phố Hàng Sơn (rue de la Larue). Sau Cách mạng đối thành phố Chá Cá.

 

Đầu thế kỷ XX, có nhà họ Đoàn ở số 14, mở hàng bán chả cá ngon nổi tiếng, thường gọi là Hiệu Chả Cá Lã Vọng, do đó sau đặt thành tên phố, Chả Cá đã trở thành món ăn đặc sản của Hà Nội.

 

CHÂN CẦM

 

Phố: gần 140m; từ phố Lý Quốc Sư thông sang phố Phủ Doãn.

 

Đất thôn Chân Tiên và Minh Cầm, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ. Sau nhập thành thôn Chân Cầm, có nghề làm các loại đàn dân tộc.

 

Nay thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc là phố Lagítkê (rue Lagisquet). Sau Cách mạng mang tên này.

 

CHÂU LONG

 

Phố: dài 440m từ phố Phó Đức Chính cắt ngang qua phố Nguyễn Trường Tộ đến phố Quán Thánh.

 

Đất thôn Lạc Chính và Châu Yên, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Châu Yên là tên của 2 thôn Châu Long và Yên Canh sáp nhập.

 

Đền Lạc Chính ở số 5 thờ Nguyễn Minh Không, ông tổ nghề đúc đồng. Chùa Châu Long ở số 44, đã được xếp hạng năm 1994.

 

Nay thuộc phường Trúc Bạch, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc là 3 đoạn: phố Ăngtoan Bonnê (Antoine Bonnet) ở phía bắc; đường 95 (voie 95) ở giữa; phố Nguyễn Công Trứ, đoạn cuối phía nam. Sau Cách mạng nhập thành một phố mang tên này.

 

Ngõ: từ phố Cửa Bắc chạy ngang qua phố Châu Long sang phố Đặng Dung. Thời Pháp thuộc cũng gọi là ngõ Châu Long (ruelle Châu Long).

 

CHIẾN THẮNG

 

Ngõ: cuối phố Khâm Thiên, bên số 271 rẽ vào thông sang đường đê La Thành. Thuộc phường Thổ Quan, quận Đống Đa,

 

Tên mới được đặt từ sau hoà bình 1954.

 

CHÍNH KINH

 

Phố: dài 450m; từ đường Nguyễn Trãi chạy qua cổng làng Nhân Chính, thôn Cự Chính đến phố Quan Nhân.

 

Chính Kinh là tên một thôn của xã Nhân Mục Môn (Kẻ Mọc) sau nhập với thôn Cự Lộc thành Cự Chính. Đất xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm trước đây, nay thuộc phường Nhân Chính và Thượng Đình, quận Thanh Xuân.

 

Trên đồng làng xưa có di tích 7 gò Đống Thây, nơi chôn quân Minh chết trong trận Cầu Mọc năm Bính Ngọ 1426.

 

Tên mới được đặt từ tháng 1- 1999.

 

CHỢ GẠO

 

Phố: chỉ dài 75m; từ đường Trần Nhật Duật (bờ sông) đến phố Đào Duy Từ.

 

Vốn là cửa sông Tô Lịch nhập vào sông Hồng trước đây, được lấp đi thành phố. Bến sông thuộc giáp Giang Nguyên, thôn Hương Nghĩa, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ, là một trung tâm buôn bán gạo. Nay thuộc phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm.

 

Thời Pháp thuộc có tên Quảng trường Thương mại (Place du Commerce).

 

CHỢ KHÂM THIÊN

 

Ngõ: dài tới 750m; từ đầu phố Khâm Thiên, cạnh số nhà 15 đi vào tới đường đê La Thành. Chợ ở ngay đầu ngõ. Dọc hai bên ngõ có tới 25 ngõ xương cá, trong đó có những ngõ thông sang nhau, sang các ngõ khác ra ngoài phố Khâm Thiên hoặc ra phố Lê Duẩn.

 

Bên số chẵn có các ngõ: Hồ Cây Sữa, Khâm Đức, Nam Lai, ngõ Trường Học và một số ngõ mang số.

 

Bên số lẻ có các ngõ: Đình Tương Thuận, Miếu Chợ, chùa Mỹ Quang, Vạn Ứng, Xã Đằng, Gia Tụ, Đình Trung Phụng, Trung Phụng và một số ngõ mang số.

 

Trong ngõ có chùa Mỹ Quang, di tích xếp hạng năm 1990.

 

Đất các thôn Mỹ Đức, tổng Tiền Nghiêm; Trung Phụng, Trung Tự, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

 

Nay thuộc hai phường Khâm Thiên, Trung Phụng, quận Đống Đa. Thời Pháp thuộc gọi là ngõ Chợ. Sau Cách mạng là hai ngõ: Mỹ Đức (từ phố Khâm Thiên đến ngõ Xã Đằng); Trung Phụng (đoạn còn lại đến đê La Thành). Sau hoà bình gọi chung là ngõ Chợ Khâm Thiên.

 

CHỢ MƠ CŨ

 

Ngõ: ở phố Bạch Mai (cạnh số nhà 295 rẽ vào), nên cũng gọi là ngõ 295 phố Bạch Mai, nối với phố Bùi Ngọc Dương. Trước đây trong ngõ có chợ Mơ, đến năm 1920 mới chuyển chợ xuống cuối phố như hiện nay. Lúc đầu, chợ này được gọi là chợ Mới Mơ, phiên chính vào các ngày 2, ngày 7 lịch âm. Nay thuộc phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng.

 

CHU VĂN AN

 

Phố: dài 500m; từ đường Điện Biên Phủ tới phố Nguyễn Thái Học, cắt ngang qua các phố Lê Hồng Phong, Trần Phú.

 

Đất Thành Nội cũ.

 

Nay thuộc phường Điện Biên, Ba Đình. Thời Pháp thuộc là đại lộ Van Vôlenhôven (avenue Van Vollenhoven). Sau Cách mạng: phố Nhâm Diên. Từ thời tạm chiếm mang tên này.

 

Chu Văn An (1292 - 1370): Nhà giáo, nhà thơ, hiệu Tiều Ẩn, người làng Quang, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì. Ông đỗ thái học sinh đời Trần Anh Tông (1293 - 1314), không ra làm quan, mở trường dạy học ở Huỳnh Cung bên sông Tô, có nhiều học trò nổi danh. Vua Trần Minh Tông (1313 - 1329) vời ông ra làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Thấy bọn quan lại vô đạo, ông dâng sớ xin vua Dụ Tông chém 7 tên gian nịnh không được bèn từ quan về ở ẩn và mất ở núi Phượng Hoàng, huyện Chí Linh (Hải Dương). Ông có tập thơ Tiều Ẩn thi tập. Vua Trần cho thờ ông ở Văn Miếu. Đình Thanh Liệt thờ ông làm Thành hoàng làng.

 

CHÙA BỘC

 

Phố: dài 730m; từ ngã ba với phố Tôn Thất Tùng - Phạm Ngọc Thạch đến ngã tư với phố Tây Sơn - Thái Hà, chạy qua trước cổng chùa Bộc, di tích thờ Quang Trung ở nơi diễn ra chiến thắng Đống Đa lịch sử mùa xuân Kỷ Dậu (1789), đã được xếp hạng năm 1964.

 

Đất trại Khương Thượng, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Quang Trung, quận Đống Đa. Tên mới được đặt từ năm 1990.

 

CHÙA HÀ

 

Phố: dài 800m; từ đường Cầu Giấy đến phố Tô Hiệu, chạy qua trước cổng chùa Hà, trường Tiểu học Dịch Vọng và cạnh hồ Nghĩa Tân.

 

Đất xã Dịch Vọng, huyên Từ Liêm trước, nay phố thuộc hai phường Dịch Vọng và Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy. Tên mới được đặt từ tháng 1-2002.

 

Chùa Hà là di tích lịch sử - cách mạng được xếp hạng 1995. Chùa có tên chữ là Thánh Đức tự ở xóm Bối Hà, Thôn Trung, xã Dịch Vọng cũ. Đây là nơi Thành ủy Hà Nội họp các đội trưởng tự vệ và thanh niên xung phong ngày 15-8-1945, chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội.

 

CHÙA HƯNG KÝ

 

Ngõ: ở phố Minh Khai (cạnh số nhà 228) lối vào làng Hoàng Mai, huyện Thanh Trì xưa. Nơi có chùa Hưng Ký với phong cách kiến trúc độc đáo, di tích đã xếp hạng năm 1994.

 

Nay thuộc phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng. Hưng Ký là tên xưởng gạch ngói ở bờ bắc cầu Đuống của nhà tư sản xây ngôi chùa này.

 

CHÙA HƯƠNG TUYẾT

 

Ngõ: ở phố Bạch Mai (cạnh số nhà 205 rẽ vào nên còn gọi là ngõ 205), cuối ngõ có chùa Hương Tuyết đã xếp hạng, một di tích cách mạng; là cơ quan liên lạc của Công hội Đỏ Bắc Kỳ và sau là trụ sở Ủy ban lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Avia năm 1929.

 

Đất phường Hồng Mai, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng.

 

CHÙA LÁNG

 

Phố: dài 1km; từ phố Nguyễn Chí Thanh đi qua cổng chùa Láng đến đường Láng.

 

Đất trại Yên Lãng, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận, thành Thăng Long sau thuộc huyện Thanh Trì rồi chuyển về Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. Xã Yên Lãng (Kẻ Láng) có 3 thôn: Láng Thượng, Láng Trung, Láng Hạ; nay thành 2 phường Láng Thượng và Láng Hạ thuộc quận Đống Đa. Phố này ở phường Láng Thượng.

 

Trước đây, dân làng gọi là Ngõ Giếng, lối chính đi vào, chùa Láng. Tên mới được đặt từ chính thức tháng 7-2001.

 

Chùa Láng tên chữ là Chiêu Thiền tự, xây dựng từ thế kỷ XII đời Lý Thần Tông (1128 - 1138) ở bên sông Tô. Chùa được tôn là “đệ nhất tùng lâm” của Thăng Long, cảnh quan và kiến trúc rất đẹp. Chùa thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh ở nền nhà cũ của ông. Tương truyền ông tu ở chùa Thầy, đắc đạo, lúc mất đầu thai làm con Sùng Hiền Hầu, sau được lập làm vua Lý Thần Tông. Di tích lịch sử - văn hoá - kiến trúc này được xếp hạng năm 1962.

 

Hội Láng mở ngày 7 tháng 3 lịch âm, là một hội lớn của kinh đô.

 

CHÙA LIÊN

 

Ngõ: ở phố Bạch Mai (cạnh số 182 rẽ vào), trong có chùa Liên Phái còn gọi Liên Tôn tự, di tích nổi tiếng vì có nhiều ngọn tháp đẹp, đã được xếp hạng năm 1962. Ngõ có lối thông sang ngõ Tô Hoàng.

 

Đất phường Hồng Mai, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng.

 

CHÙA MỘT CỘT

 

Phố: dài hơn 500m; từ đường Điện Biên Phủ cắt ngang đường Hùng Vương đến phố Ông Ích Khiêm, ngay cạnh chùa Một Cột - Diên Hựu.

 

Tên chữ là Liên Hoa đài, di tích kiến trúc độc đáo nổi tiếng của Thăng Long xưa, tương truyền có từ năm 1049 thời Lý: đã được xếp hạng năm 1962. Trước phố kéo dài đến phố Ngọc Hà, nay đoạn cuối nằm trong khu Bảo tàng Hồ Chí Minh. Một bên phố là bãi cỏ, vườn hoa, thuộc quảng trường Ba Đình.

 

Đất thôn Phụ Bảo, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Điện Biên, quận Ba Đình.

 

Thời Pháp thuộc là phố Êli Gơrôlô (rue Élie Groleau).

 

CHÙA NAM ĐỒNG

 

Ngõ: ở phố Nguyễn Lương Bằng (cạnh nhà 64 rẽ vào), còn gọi ngõ 64. Đây là cổng chùa làng Nam Đồng, có tên chữ là “Càn An tự”, di tích đã xếp hạng năm 1992. Ngõ thông với nhiều ngõ ngách ra phố Nguyễn Lương Bằng, vào các khu tập thể Thịnh Hào, Hoàng Cầu, lên đê La Thành. Nay thuộc phường Nam Đồng, quận Đống Đa.

 

CHÙA NỀN

 

Ngõ: ở đường Láng rẽ vào chùa Nền, di tích đã được xếp hạng năm 1992.

 

Tương truyền chùa được xây trên nền nhà cũ của bố mẹ Từ Đạo Hạnh - vị thánh thờ ở chùa Láng cùng thôn. Trước có tên là ngõ Đường Nam (đi vào xóm 1), làng Láng Thượng – làng có nghề trồng rau nổi tiếng kinh kỳ. Đất trại Yên Lãng, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ, sau thuộc huyện Thanh Trì rồi nhập vào Từ Liêm. Nay là nội thành, thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa.

 

Tên ngõ mới đặt năm 1998.

 

CHÙA VUA

 

Phố: dài 260m; từ phố Trần Cao Vân đến đường Trần Khát Chân, cắt ngang qua phố Thịnh Yên, trong khu vực Chợ Trời cũ. Nơi có di tích điện Thiên Đế và chùa Hưng Khánh thờ vua cờ Đế Thích, đã được xếp hạng năm 1992. Hội chùa Vua mở ngày 6 tháng giêng âm lịch, có tục thi đánh cờ người.

 

Đất thôn Thịnh Yên, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường phố Huế, quận Hai Bà Trưng.

 

Thời Pháp thuộc là đường 332 (voie 332). Sau Cách mạng: phố Đô Lương. Thời tạm chiếm lại gọi phố 332. Tên mới được đặt từ năm 1994.

 

CHƯƠNG DƯƠNG ĐỘ

 

Phố: dài 400m; từ bờ sông Hồng chạy qua đường Bạch Đằng vào tới đường Hồng Hà, cạnh đê phố Trần Quang Khái. Phố bãi ngoài đê.

 

Đất xóm chài Thủy Cơ thôn Đông Trạch, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ, nay thuộc phường Chương Dương.

 

Tên dân gian thường gọi là phố Cầu Đất. Đến thời tạm chiếm mới đặt tên là Dốc Chương Dương Độ. Chương Dương là tên xã bên hữu ngạn sông Hồng thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội.

 

Chương Dương Độ: là bến Chương Dương, nơi quân dân nhà Trần dưới sự chỉ huy của tướng Trần Quang Khải đã chiến thắng quân Mông - Nguyên năm 1285, được nêu trong bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư với câu mở đầu Đoạt sáo Chương Dương độ...

 

CỔ BI

 

Đường: dài l,7km, từ ngã tư Trâu Quỳ quốc lộ 5 - phố Ngô Xuân Quảng, chạy qua trường Phổ thông trung học Cao Bá Quát đến dốc Hội. Xã Cổ Bi là vùng đất cổ, thuộc tổng Đặng Xá, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, năm 1961 là ngoại thành Hà Nội. Có thời kỳ gọi tên là xã Trung Thành. Nơi đây còn dấu tích cung điện Cổ Bi của chúa Trịnh Cương xây dựng năm 1727. Đây là đất địa linh “tam cổ”: Cổ Bi, Cổ Loa, Cổ Pháp - đất phát tích đế vương của trấn Kinh Bắc xưa.

 

CỔ LOA

 

Đường: dài 4,8km; từ ngã ba Đống Lủi trên quốc lộ 3 đến cuối đường Cao Lỗ (ngã ba xay xát Đông Quan), thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh. Tên mới đặt: 12-2006.

 

Cổ Loa gồm 5 thôn: Cầu Cả, Cổ Loa, Mạch Tràng, Sằn Giả và Thư Cưu, trước đây thuộc huyện Đông Anh, Phúc Yên. Từ 1961 nhập vào Hà Nội. Ở đây còn di tích thành Cổ Loa của An Dương Vương, thế kỷ III TCN, toà thành cổ nhất còn dấu vết đến nay và là vùng di chỉ khảo cổ từ thời hậu kỳ đồ đá cũ với nhiều mộ cổ, tên đồng, trống đồng, được xếp hạng quốc gia năm 1962.

 

CỔ NHUẾ

 

Đường: dài 3,2km; từ ngã tư Phạm Văn Đồng - Trần Cung đến ngã ba vào trường Đại học Mỏ - Địa Chất, xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm. Tên mới đặt: 12-2006.

 

Cổ nhuế là làng cổ có tên Kẻ Noi gồm 4 thôn: Hoàng, Trù, Đống, Viên; có truyền thống hiếu họ và nghề thợ may lâu năm. Trước 1942 thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, sau thuộc Đại lý đặc biệt Hà Nội, trong kháng chiến chống Pháp thuộc quận V ngoại thành. 1961 là xã thuộc huyện Từ Liêm.

 

CỔ TÂN

 

Phố: dài 180m; từ phố Lý Đạo Thành đến phố Tràng Tiền, cạnh vườn hoa Nhà hát thành phố.

 

Đất thôn Thạch Tân, sau bến sông lùi ra xa đổi là Cổ Tân (Bến Cũ), thuộc tổng Phúc Lâm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm.

 

Thời Pháp thuộc là phố Thống chế phốc (rue Maréchal Foch). Sau Cách mạng và thời tạm chiếm là phố Trương Định. Năm 1964 đổi thành tên này.

 

CỐNG TRẮNG

 

Ngõ: ở hai bên phố Khâm Thiên cạnh số nhà 91 và 100 rẽ vào, nguyên là đoạn cống và mương thoát nước từ hồ Văn Chương sang hồ Xã Đàn và sông Kim Ngưu. Do cải tạo Cống Trắng năm 1956 thành ra ngõ có nhà ở hai bên. Trong ngõ có chùa Phụng Thánh, di tích được xếp hạng năm 1988.

 

Nay thuộc phường Khâm Thiên và Trung Phụng, quận Đống Đa.

 

CỔNG ĐỤC

 

Phố: dài 110m; từ cuối phố Hàng Mã thông sang phố Hàng Vải.

 

Đất thôn Đông Thành Thị, tổng Tiến Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm.

 

Gọi Cổng Đục là vì có cái cổng mở ra ở tường thành phía đông, cuối thế kỷ XIX. Có thuyết cho là Cổng Đục mở ra để đưa thi hài Lý Huệ Tông (tu ở chùa Chân Giáo) ra ngoài thành cổ an táng năm 1226.

 

Tên dân gian từ xưa. Thời Pháp thuộc còn có tên ngõ Hàng Vải (ruelle Des étoffes).

 

CỐNG GẠCH

 

Ngõ: ở phố Bạch Mai (cạnh số nhà 335 rẽ vào). Còn có tên là ngõ Mai Hương cũ (Xem thêm Mai Hương).

 

Nay thuộc phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng.

 

CỘT CỜ

 

Ngõ: ở đường Giải Phóng - trước cửa Bệnh viện Bạch Mai- rẽ vào phường Đồng Tâm, chạy chéo qua phố Lê Thanh Nghị.

 

Tên dân tự đặt.

 

CÙ CHÍNH LAN

 

Phố: dài 600m, từ đường Trường Chinh đến phố Hoàng Văn Thái. Đất sân bay Bạch Mai cũ, thuộc làng Khương Trung, huyện Thanh Trì trước. Nay thuộc phường Khương Mai, quận Thanh Xuân. Tên mới được đặt từ tháng 7-2000.

 

Cù Chính Lan (1930 - 1952): người xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; 15 tuổi đã tham gia cướp chính quyền huyện trong Cách mạng Tháng Tám. 1946 nhập ngũ, làm liên lạc, rồi làm tiểu đội trưởng. Chiến dịch Quang Trung (1950) được nêu gương “Anh hùng tay không diệt giặc”. Chiến dịch Hoà Bình (1951), anh dùng lựu đạn diệt xe tăng địch trên đường số 6. Tháng 2-1952, anh tham gia đánh đồn GôTô, bị cụt hai tay và một chân vẫn anh dũng chỉ huy đến hơi thở cuối cùng. Cù Chính Lan được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1952).

 

CỰ LỘC

 

Phố: dài 650m; từ đường Nguyễn Trãi chạy qua ao đình Cự Chính (di tích xếp hạng năm 1990) đến phố Quan Nhân. Cự Lộc là một thôn thuộc xã Nhân Mục Môn (Mọc), tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Nội. Sau thuộc xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, ngoại thành. Nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân.

 

Tên mới được đặt từ tháng 7-1999.

 

CỬA BẮC

 

Phố: dài 670m, từ đường Yên Phụ đến phố Phan Đình Phùng, cắt ngang các phố Phó Đức Chính, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Trường Tộ, Quán Thánh, qua cổng Nhà máy Điện Yên Phụ cũ.

 

Vốn là con đường cổ từ cửa ô Yên Tĩnh đến cạnh mang cá, cửa chính bắc thành Thăng Long thời Nguyễn, đây là cửa Diệu Đức trông ra hồ Tây của thành Thăng Long thời Lý - Trần.

 

Đất các thôn Yên Định, Yên Viên, Yên Canh, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Đình Yên Định ở số 18, chùa phố Quang số 29, đình Yên Canh số 48, đình Yên Viên số 66.

 

Nay thuộc phường Trúc Bạch và phường Quán Thánh, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc gọi là phố Đỗ Hữu Vị.  

 

CỬA ĐÔNG

 

Phố: dài 230m; từ phố Hàng Gà đến phố Lý Nam Đế, xuyên qua phố Phùng Hưng và cầu cạn đường xe lửa, tới cửa chính đông của thành Thăng Long thời Nguyễn; thời Lý - Trần gọi là cửa Tường Phù, trông ra khu vực chợ Cầu Đông.

 

Đất thôn Tân Lập, Tân Khai, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm.

 

Tên dân gian trước đây gọi là Cửa Đông - Cổng Tỉnh. Thời Pháp thuộc: đại lộ tướng Bisô (avenue Général Bichot). Sau Cách mạng gọi tên này.

 

CỬA NAM

 

Phố: dài 250m; từ góc phố Phan Bội Châu cạnh ngã sáu Cửa Nam đến ngã năm với phố Lê Duẩn - Hai Bà Trưng - Nguyễn Khuyến chỗ chợ Cửa Nam. Một đoạn dài chỉ có một bên phố. Vốn là cạnh cửa đông nam thành nhà Nguyễn, thời Lý - Trần là cửa Đại Hưng - cửa vào triều của các quan, nơi có đình Quảng Văn.

 

Đất thôn Yên Trung Thượng, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Cử Nam, quận Hoàn Kiếm.

 

Thời Pháp thuộc là phố Nâyrê (rue Neyret).

 

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Hà Nội - Từ 1000 đến… (01/10/2010)
Phố Hàng Đào (07/09/2010)
Phố Xã Đàn (07/09/2010)
Đường Điện Biên Phủ (07/09/2010)
Phố Chùa Láng (07/09/2010)
Làng cổ bên sông Đáy (04/09/2010)
Hướng dẫn tra cứu tìm địa điểm các đường phố Hà Nội (01/08/2010)
Đường Xuân Thủy (01/07/2010)
Phố Hàng Tre (01/07/2010)
Hướng đến Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội: Đậm đà hương vị quê hương (30/05/2010)
 Trang 1 / 7 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Đường phố Hà Nội theo vần B (25/02/2010)
Đường phố Hà Nội theo vần A (25/02/2010)
Hà Nội: Đón Tết trong thanh bình (15/02/2010)
Đường Lâm - Nơi lưu giữ “hồn” làng Việt cổ (11/02/2010)
Đêm ca trù, quan họ mừng Xuân, mừng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (11/02/2010)
Cây đa thần Rùa ngàn năm tuổi (10/02/2010)
Cách gọi đường và phố Hà Nội (09/02/2010)
Phiên chợ đồ cũ và đồ cổ ở Hà Nội (07/02/2010)
Phố Hàng Mã những ngày giáp Tết (06/02/2010)
Hà Nội: Tết này, chợ hoa họp sớm (05/02/2010)
 Trang 1 / 2 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet