Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 25 tháng 10 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Thực hiện chính sách an sinh xã hội cần gắn với tạo việc làm và giảm nghèo
21:20 | 06/03/2012

(ĐCSVN) - Năm 2012, bảo đảm an sinh xã hội được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Việc triển khai có kết quả nhiệm vụ này là hết sức nặng nề, khi nhiều vấn đề lớn được ưu tiên triển khai trong năm như: tái cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, sắp xếp đổi mới đơn vị sự nghiệp công... sẽ tác động lớn tới an sinh xã hội.

Theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 3/1/2012 của Chính phủ, chỉ tiêu chủ yếu về an sinh xã hội phải đạt được trong năm 2012 là: tạo việc làm khoảng 1,6 triệu người; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị khoảng 4%; tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế đạt 46%; tỷ lệ hộ nghèo giảm 2%, riêng các huyện nghèo giảm 4%. Tuy vậy, qua 2 tháng đầu năm 2012, sức ép về việc làm và giảm nghèo đã hiện hữu.

Cũng theo Báo cáo của Tổng Cục Thống kê, về cơ bản, qua 2 tháng đầu 2012, an sinh xã hội tiếp tục được đảm bảo. Theo đó, trong tháng 2/2012, cả nước có 53,9 nghìn hộ thiếu đói, giảm 62,4% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 214,7 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 63,4%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 13,6 nghìn tấn lương thực và 22,4 tỷ đồng, riêng tháng 2 đã hỗ trợ khoảng 900 tấn lương thực. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm, tai nạn giao thông cơ bản được kiểm soát dù vẫn còn nơi, còn lúc gia tăng. Các cấp, ngành đang tích cực tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc về trật tự an toàn xã hội cũng như chăm lo, giải quyết tốt đời sống cho người dân...

 

 Chăm lo tạo công ăn việc làm ngay từ chính các làng nghề truyền thống (Ảnh: HNV)


Căn cứ vào Báo cáo về thực hiện chính sách an sinh xã hội gắn với tạo việc làm và giảm nghèo năm 2012 của Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, cần triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp trong đó gồm:

Một là, tiếp tục thực hiện chính sách khuyến khích về tài chính, tín dụng, thuế, hỗ trợ dạy nghề, thông tin thị trường, cải cách thủ tục hành chính... nhằm ổn định và phát triển sản xuất, kinh doanh của các lĩnh vực, các thành phần kinh tế đảm bảo ổn định việc làm cho người lao động và tạo việc làm trong nước cho 1.510 người lao động, trong đó: với khu vực công nghiệp, xây dựng cơ bản thì chú trọng đầu tư phát triển, khuyến khích, hỗ trợ vào các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, làng nghề sử dụng nhiều lao động, tạo việc làm cho khoảng 630.000 người; với khu vực dịch vụ thì khuyến khích, hỗ trợ phát triển các dịch vụ phục vụ du lịch, văn hóa, dịch vụ nông nghiệp, nông thôn, đầu tư phát triển dịch vụ chất lượng cao, tạo việc làm cho khoảng 580.000 người; khu vực sản xuất nông nghiệp thì khuyến khích phát triển các vùng chuyên canh theo cây, con chất lượng cao gắn với sản xuất hàng hóa đặc biệt chú trọng hỗ trợ có hiệu quả dạy nghề cho lao động nông thôn theo các mô hình cây – con để tạo việc làm, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập; đối với các vùng khó khăn, sản xuất nhỏ lẻ cần kết hợp giữa hỗ trợ vốn với phát triển các hoạt động dạy nghề, chuyển giao kỹ thuật, khuyến công – nông – ngư đảm bảo ổn định việc làm, tăng thu nhập và tạo việc làm cho khoảng 350.000 người.

Hai là, tăng cường các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm của hệ thống Trung tâm giới thiệu việc làm, đa dạng hóa các hoạt động giao dịch việc làm, tiếp tục phát huy và nâng cao năng lực hoạt động sàn giao dịch việc làm, góp phần tích cực kết nối cung – cầu lao động; thực hiện việc thu thập cơ sở dữ liệu về thị trường lao động cũng như quản lý cung – cầu lao động. Đẩy mạnh thực hiện dự án cho vay vốn tạo việc làm với lãi suất thấp thông qua Quỹ quốc gia về việc làm, đồng thời phải đảm bảo cho vay đúng mục đích, đúng đối tượng.

Ba là, theo dõi kịp thời, cập nhật tình hình biến động lao động trong các doanh nghiệp, đặc biệt là tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, các thành phố lớn; lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, kịp thời đề xuất giải pháp xử lý những vấn đề mới phát sinh. Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, phấn đấu đưa 90.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, nhất là các thị trường có thu nhập cao, an toàn cho người lao động; nâng cao năng lực các doanh nghiệp, cơ sở sự nghiệp có chức năng, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đảm bảo hiệu quả, công khai, minh bạch; đổi mới công tác tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện lao động trước khi đưa đi làm việc ở nước ngoài. Theo dõi chặt chẽ tình hình lao động làm việc ở nước ngoài, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động khi làm việc ở nước ngoài, đi đôi với việc theo dõi, hỗ trợ và phát huy lực lượng lao động này khi về nước.

 

Không ngừng chăm lo tới đời sống của bà con dân tộc thiểu số, khó khăn với
phương châm từng bước “đưa miền núi tiến kịp miền xuôi” (Ảnh: HNV)

Bốn là, mở rộng quy mô, đi đôi với nâng cao chất lượng dạy nghề, gắn dạy nghề với giải pháp tạo việc làm, tự tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động trên cơ sở thực hiện Đề án đổi mới và phát triển dạy nghề, đề án dạy nghề cho người lao động nông thôn, huy động nguồn lực đầu tư cơ sở vật chật, thiết bị, giáo viên dạy nghề đồng bộ theo từng nghề đạt chuẩn, trong đó lựa chọn một số nghề đạt cấp độ quốc tế, khu vực; đa dạng hóa các hình thức, các phương pháp dạy nghề phù hợp với đối tượng học nghề và yêu cầu sản xuất; phát triển mạnh các hình thức dạy nghề cho lao động nông thôn để chuyển dịch cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, mở rộng hình thức dạy nghề theo hợp đồng đào tạo hoặc đặt hàng giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm đảm bảo cho người học nghề xong có việc làm.

Năm là, rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống các chính sách giảm nghèo theo hướng hiệu quả, người nghèo tiếp cận thuận tiện khơi dậy ý chí vươn lên của người nghèo, hạn chế tính ỷ lại. Nâng mức hỗ trợ người nghèo người cận nghèo mua bảo hiểm y tế; hỗ trợ tiền điện sinh hoạt, kêu gọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia mạnh mẽ hơn nữa trong việc giảm nghèo; đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về giảm nghèo; đổi mới phương pháp đánh giá, xác định hộ nghèo theo từng nhóm nguyên nhân nghèo để có giải pháp hỗ trợ thoát nghèo cho từng nhóm đối tượng; lập sổ theo dõi hộ nghèo đến từng huyện, xã, ấp làm căn cứ cho việc hoạch định chính sách, kế hoạch theo dõi giám sát và đánh giá hộ thoát nghèo.

Thực tế, thời gian qua, công tác đảm bảo an sinh xã hội ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống an sinh xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện với diện bao phủ ngày càng được mở rộng. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. An sinh xã hội đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho người nghèo và đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội, góp phần hình thành xã hội không có sự loại trừ, và giữ vững định hướng XHCN. Tính đến nay, công tác đảm bảo an sinh xã hội đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, được nhân dân đồng tình, quốc tế đánh giá cao: số hộ nghèo giảm; hệ thống pháp luật về an sinh xã hội ngày càng được hoàn thiện hơn, đã trở thành căn cứ pháp lý quan trọng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội; Hệ thống bảo hiểm xã hội được quan tâm phát triển với nội dung và hình thức ngày càng phong phú, nhằm chia sẻ rủi ro và trợ giúp thiết thực cho những người tham gia; các chính sách ưu đãi đối với người có công không ngừng được hoàn thiện; các chính sách trợ giúp xã hội (cả thường xuyên và đột xuất) được thực hiện rộng hơn về quy mô, đối tượng thụ hưởng với mức trợ giúp ngày càng tăng. Các phong trào “tương thân tương ái”, “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn” được tổ chức thường xuyên và được sự hưởng ứng tham gia của nhiều thành phần trong xã hội, đóng góp đáng kể vào việc nâng cao an sinh xã hội cho mọi người, nhất là những người nghèo, vùng nghèo.

Mặc dù vậy, việc thực hiện an sinh xã hội ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập và yếu kém, đó là: giảm nghèo chưa thật bền vững, người dân ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, phân hoá giàu nghèo ngày càng lớn. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn, ở vùng đô thị hoá và thất nghiệp ở thành thị còn nhiều. Nguồn lực để thực hiện an sinh xã hội còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, với diện bao phủ và mức hỗ trợ còn thấp, chưa theo kịp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN. Các hình thức bảo hiểm chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân; chất lượng các dịch vụ nhìn chung còn thấp, vẫn còn không ít tiêu cực, phiền hà.

Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 – 2020 đã khẳng định: Đảng và Nhà nước ta tiếp tục coi bảo đảm an sinh xã hội là một nhiệm vụ chủ yếu thường xuyên với quan điểm "tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hoà với tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả". Điều này càng tạo cơ sở và tiền đề để chúng ta tin tưởng vào những thành tựu mới trong công tác an sinh xã hội, nhất là trong năm 2012 này và thời gian tiếp theo./.

Các từ khóa theo tin:

HA.NV

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Muốn thoát nghèo phải có ba quyết tâm (24/10/2014)
"Dô dô, dô dô"..."cạch" rồi đến đánh, chửi nhau! (22/10/2014)
Nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 nói về bình đẳng giới (18/10/2014)
Đổi mới công tác trợ giúp pháp lý: Cần dựa vào nhu cầu thực tiễn (15/10/2014)
“Hải quan – Doanh nghiệp thực thi Hiệp định tạo thuận lợi thương mại của WTO” (14/10/2014)
Giúp dân nghèo miền Trung an toàn khi sống trong vùng bão lũ (14/10/2014)
Hà Nội cần thêm nhiều không gian xanh (11/10/2014)
TP. Hồ Chí Minh: Gian nan "bài toán" chống ngập (10/10/2014)
Để phụ nữ thực sự được bình đẳng (08/10/2014)
Phát triển nông nghiệp Hà Nội theo hướng nào? (06/10/2014)
 Trang 1 / 62 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Dư luận nhất trí cao và kỳ vọng vào Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) (06/03/2012)
Cần lắm vai trò xung kích của thanh niên (02/03/2012)
"Kịch bản” nào di dời trụ sở bộ, ngành ra ngoài trung tâm Hà Nội? (24/02/2012)
Để nghệ thuật truyền thống sống cùng cơ chế thị trường (23/02/2012)
Những tiếng nói tâm huyết từ cực Nam của Tổ quốc (22/02/2012)
Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân (22/02/2012)
Cần trả cho lễ hội những nét đẹp vốn có (20/02/2012)
Cần tăng cường công tác phòng, chống dịch cúm gia cầm (19/02/2012)
Giữ gìn nét đẹp văn hóa của các lễ hội (17/02/2012)
Chấn chỉnh, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng ở các chi bộ (16/02/2012)
 Trang 1 / 463 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet