|
|
|
Thế hệ dân số trẻ - tương lai của nước nhà (Ảnh minh họa: HNV) | (ĐCSVN) - Kỷ niệm Ngày Dân số thế giới 11-7 là dịp để cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển nhìn nhận, đánh giá và hành động mạnh mẽ hơn nữa nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, tích cực hơn nữa trong lĩnh vực dân số, vì một quy mô dân số hợp lý, từng bước nâng cao chất lượng dân số, chống lại tình trạng đói nghèo, gắn liền công tác dân số với quá trình phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Nhân ngày Dân số Thế giới 2012, Bộ Y tế và Tổ chức UNFPA tại Việt Nam đã phát động chiến dịch quốc gia với tên gọi “Hành động 7 tỉ người” - phong trào toàn cầu dành cho tất cả nhân loại nhằm thu hút sự chú ý vào thời khắc quan trọng thế giới đạt 7 tỉ người vào cuối tháng 10/2012.
Dân số - mục tiêu và động lực phát triển
Đối với mọi quốc gia, thực hiện kế hoạch hóa gia đình vừa là mục tiêu, vừa là động lực nhằm nâng cao chất lượng sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được khi quy mô, tốc độ tăng trưởng dân số, sự phân bố dân số và nguồn nhân lực thật sự phù hợp và tác động tích cực đến sự phát triển.
Lịch sử phát triển nhân loại cũng đã cho thấy, dân số là động lực, là trung tâm của phát triển. Những biến đổi về quy mô, cơ cấu, phân bổ và chất lượng dân số chính là yếu tố quan trọng liên quan đến phát triển. Các nhà lãnh đạo và quản lý của nhiều quốc gia đã ngày càng nhận thức sâu sắc về sự ổn định quy mô dân số với sự gia tăng hợp lý. Điều đó sẽ giúp đất nước giảm bớt những căng thẳng về nguồn tài nguyên cạn kiệt, suy thoái môi trường, quá tải dân cư đô thị, từ đó tăng các nguồn lực đầu tư phát triển dài hạn, đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm, chăm sóc sức khỏe, giáo dục... cho người dân.
Theo tính toán của các nhà nhân khẩu học kinh tế, giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ phát triển dân số có mối tương quan chặt chẽ theo tỉ lệ nghịch: Nếu tốc độ phát triển dân số là 1% thì tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đương phải đạt 4%. Như vậy, theo mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế - xã hội thì mỗi quốc gia phải xác định và khống chế tốc độ dân số ở mức hợp lý để đảm bảo cho việc phát triển kinh tế, đảm bảo khả năng tích luỹ.
Thực tế cũng đã chứng minh mối quan hệ khăng khít giữa tỉ lệ tăng dân số và tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội của đất nước. Kết quả giảm sinh đã tiết kiệm các khoản chi cho các dịch vụ xã hội để dành vốn đầu tư cho các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân.
Do vậy, Chiến lược dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, một trong những vấn đề hàng đầu tác động trực tiếp đến nền kinh tế - xã hội. Đây cũng là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.
Yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội là nguồn nhân lực mà nguồn nhân lực luôn luôn gắn liền sự biến đổi dân số cả về số lượng và chất lượng. Mục tiêu của sự phát triển suy cho cùng là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được khi quy mô dân số, tốc độ tăng trưởng dân số, sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực thật sự phù hợp và tác động tích cực đến sự phát triển.
Dành ưu tiên hàng đầu cho công tác dân số
Thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Ðảng và Nhà nước ta luôn coi việc xóa đói, giảm nghèo là mục tiêu phát triển cốt lõi, là nhân tố căn bản để bảo đảm công bằng xã hội và phát triển bền vững. Các hoạt động về dân số và sức khỏe sinh sản luôn được dành sự ưu tiên đặc biệt với những chỉ báo và khuôn khổ đầu tư cụ thể. Mối quan hệ tương tác giữa dân số và phát triển kinh tế - xã hội bền vững luôn là mối quan tâm hàng đầu của Ðảng và Nhà nước.
Trong những năm qua, với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đầu tư của Ðảng, Nhà nước, sự tham gia trách nhiệm của các cấp, các ngành, sự đồng tình hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân, chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình đã đạt được những kết quả quan trọng. Quy mô gia đình chỉ có từ một đến hai con được chấp nhận rộng rãi, tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) đã đạt mức sinh thay thế, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đã góp phần giảm bớt được sức ép về sự gia tăng dân số đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, an sinh xã hội, tạo cơ hội cho người dân tiếp cận thuận tiện và hiệu quả hơn các dịch vụ y tế, giáo dục, việc làm và các dịch vụ xã hội khác.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đang đối mặt với những khó khăn, thách thức. Quy mô dân số lớn, vẫn tiếp tục tăng về số lượng tuyệt đối, song tốc độ tăng có xu hướng giảm. Trong 10 năm (2001-2010), dân số Việt Nam tăng thêm 11,2 triệu người, bình quân mỗi năm tăng 1,12 triệu người. Với dân số hiện nay, nước ta đứng thứ 3 ở khu vực Ðông-Nam Á và đứng thứ 13 trên thế giới.
Chỉ số con người tiếp tục gia tăng, nhưng vẫn ở mức thấp so với nhiều nước trong khu vực và thấp xa so với các nước công nghiệp. Ðáng chú ý, các yếu tố về thể lực con người còn thấp, đặc biệt có tới 6,3% dân số bị tàn tật với các mức độ khác nhau, có 1,5% dân số bị thiểu năng về trí tuệ, không đủ khả năng sinh hoạt và tự nuôi bản thân. Các tố chất về tầm vóc thể lực còn nhiều hạn chế, nhất là chiều cao, cân nặng và sức bền còn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực.
Do đó, để đạt được những kết quả vì một chất lượng dân số gắn với sự phát triển bền vững, rất cần sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy đảng, chính quyền và sự tham gia của toàn xã hội; cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo đến củng cố và hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ làm công tác dân số từ trung ương đến cơ sở; cải tiến cơ chế quản lý, chính sách, chế độ, nâng cao hiệu quả truyền thông, giáo dục, vận động và cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản.../.
|