Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 27 tháng 11 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Bài học kinh nghiệm của Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
11:31 | 15/06/2007
(ĐCSVN)- Bạn đọc ở địa chỉ Email: banglangvt128@yahoo.com hỏi: Tôi muốn tìm hiểu những bài học kinh nghiệm của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp?
Trả lời:
Tài liệu “Góp phần tìm hiểu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (hỏi và đáp) đã nêu bật 4 bài học kinh nghiệm của Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp:
Thứ nhất, Đảng phải sớm xác định đường lối kháng chiến đúng đắn và không ngừng bổ sung, hoàn chỉnh trong quá trình tiến hành kháng chiến.
Trên cơ sở đánh giá một cách khách quan âm mưu và hành động của kẻ thù, tình hình quốc tế, khu vực và hoàn cảnh đất nước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh định hình những nét cơ bản nhất của đường lối kháng chiến kể từ sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công. Đến khi thực dân Pháp mở rộng cuộc chiến tranh ra Bắc, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp được phát động trên cả nước. Chúng ta đã có một đường lối kháng chiến được nêu lên trong các văn kiện: Chỉ thị kháng chiến kiến quốc, Công việc khẩn cấp bây giờ, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến; Chỉ thị toàn dân kháng chiến và một loạt bài của đồng chí Trường - Chinh đăng trên Báo Sự thật từ tháng 3 đến tháng 8-1947. Đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh.
Qua từng giai đoạn của cuộc chiến tranh, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có những bổ sung, phát triển. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (1951), đường lối kháng chiến được xem xét và tiếp tục được hoàn chỉnh. Như vậy, từ rất sớm, đường lối kháng chiến đã hình thành những nét lớn. Từ đó, qua thực tế kháng chiến mà cụ thể hóa, bổ sung, phát triển. Nhờ có đường lối đúng đắn đã nhân lên gấp nhiều lần sức mạnh cho cuộc kháng chiến, tạo được niềm tin cho nhân dân vào tiền đồ tất thắng của cuộc kháng chiến.
Thứ hai, vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới, tạo nên hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến. Kết hợp chặt chẽ kháng chiến với xây dựng, xây dựng để kháng chiến.
Kế thừa truyền thống đánh giặc giữ nước của ông cha trong lịch sử, Đảng ta đã sớm xác định phương châm: ''Kháng chiến - kiến quốc". Cùng với mặt trận quân sự, các mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại giao đều được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng phát triển. Các khu căn cứ địa, các vùng an toàn khu, vùng tự do được chú trọng phát triển về tất cả các mặt. Đây chính là những nơi cung cấp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Các căn cứ địa đã trở thành chỗ dựa về cả vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến. Ở các vùng tự do, căn cứ địa, chính quyền nhà nước vẫn tiếp tục hoạt động, điều hành cuộc kháng chiến cùng với Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các thành tựu kinh tế, văn hóa, xã hội được xây dựng, một mặt phục vụ kháng chiến, mặt khác phục vụ cuộc sống của nhân dân đã thể hiện sự gắn bó chặt chẽ kháng chiến với xây dựng cuộc sống mới và xây dựng chế độ mới để đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi.
Thứ ba, không ngừng mở rộng và tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với kháng chiến của nhân dân ta.
Trong quá trình tiến hành cuộc kháng chiến, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm ý thức và đánh giá cao những tác động, sự ủng hộ của quốc tế và khu vực đối với cuộc kháng chiến của dân tộc. Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia được mở rộng và hỗ trợ cho nhau cùng phát triển. Quan hệ với Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc phát triển thuận lợi nhất là từ năm 1950 và việc các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà là một thành công rất lớn về mặt đối ngoại. Phong trào phản đối chiến tranh của Pháp ở Việt Nam đã lan rộng từ nước Pháp đến các thuộc địa ở Châu Phi. Nhân loại tiến bộ đã bắt đầu hướng sự chú ý vào cuộc chiến tranh Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Việc mở rộng và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế đã từng bước tăng cường thế và lực cho cuộc kháng chiến. Chúng ta bước đầu đã kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Đây là một nhân tố góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc kháng chiến.
Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, cả nước chỉ có khoảng 5.000 đảng viên, đến năm 1946 đã có 20.000 đảng viên. Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, số lượng và chất lượng đảng viên ngày càng tăng. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II năm 1951 đã có 766.000 đảng viên trong toàn quốc. Trong quá trình cuộc kháng chiến, công tác xây dựng Đảng đã phát triển mạnh ở trong quân đội và công an. Các tổ chức đảng ở các cấp đã bám sát cơ sở quần chúng, nắm chắc lực lượng vũ trang. Các cơ quan Đảng được kiện toàn thống nhất từ Trung ương đến tận cơ sở. Công tác chính trị tư tưởng trong Đảng được chú trọng. Đội ngũ đảng viên được học tập lý luận chính trị và nghiệp vụ. Cán bộ, đảng viên thực sự là những người gương mẫu, những tấm gương cho quần chúng noi theo. Đảng đã coi trọng xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đồng thời nâng cao năng lực lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Công tác xây dựng Đảng trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ thực sự là một nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Nói về ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hoà bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”. Với những thành công và kinh nghiệm có được từ chiến thắng vẻ vang này, kho tàng lý luận cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng ta được bổ sung và phát triển. Những kinh nghiệm đó đã trở nên hết sức hữu ích đối với sự đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Để biết thêm thông tin, bạn có thể tìm đọc Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-2001; Góp phần tìm hiểu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (hỏi đáp), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-1996.
Chào thân ái!

BBT

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Về quy trình chuyển đảng ra nước ngoài trong trường hợp đang là đảng viên dự bị (26/11/2014)
Về đánh giá thi đua bình xét cuối năm của đảng viên (21/11/2014)
Về thủ tục miễn sinh hoạt Đảng (12/11/2014)
Về việc đóng đảng phí và xét tặng Huy hiệu Đảng (04/11/2014)
Về thủ tục chuyển sinh hoạt và kết nạp đảng (25/10/2014)
Kết nạp Đảng có liên quan yếu tố nước ngoài (18/10/2014)
Thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật do Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện ban hành (10/10/2014)
Về việc kết hôn với người có đạo (09/10/2014)
Về việc khai lý lịch xin vào Đảng (09/10/2014)
Về thủ tục kết nạp Đảng (07/10/2014)
 Trang 1 / 29 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Đặc trưng của CNXH của nước ta theo Văn kiện Đại hội X (14/06/2007)
Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước (13/06/2007)
Về vấn đề thời gian xét kết nạp Đảng (13/06/2007)
Đáp án kỳ thi tốt nghiệp THPT và bổ túc năm 2007 (05/06/2007)
Tìm hiểu về thủ tục kết nạp Đảng (04/06/2007)
Phấn đấu để trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (04/06/2007)
Xuất bản Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (04/06/2007)
Hướng dẫn thực hiện Quy định số 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị (01/06/2007)
Nội dung Hướng dẫn thực hiện Quy định số 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị (18/05/2007)
6 bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (09/05/2007)
 Trang 1 / 44 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet