Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 24 tháng 8 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  thuky.dcsvn@gmail.com
bandoc.dcsvn@gmail.com
Đề cương tuyên truyền: Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) - Thời cơ và thách thức
09:17 | 17/11/2006
I. Vài nét về Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Tổ chức Thương mại Thế giới, tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT- 11/1947), được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 1/1/1995. Hiện nay, WTO có 149 nước thành viên và 30 nước quan sát viên (trong đó có Việt Nam).
Nhiệm vụ chính của WTO là bảo đảm tự do hóa thương mại, không áp dụng chính sách phân biệt đối xử và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan trong quan hệ thương mại giữa các nước.
Nguyên tắc chính của WTO là không phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại giữa các nước trên cả hai phương diện quốc tế và quốc gia; thực hiện bảo hộ sản xuất bằng thuế quan, giảm bớt và tiến tới bãi bỏ các biện pháp bảo hộ phi thuế quan không có lợi cho người lao động, người sản xuất, kinh doanh.
Chức năng chính của WTO là tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý, điều hành và những mục tiêu khác của Hiệp định thành lập WTO, các Hiệp định đa biên của WTO, cũng như cung cấp một khuôn khổ để thực thi, quản lý và điều hành việc thực hiện các Hiệp định đa phương; là diễn dàn cho các cuộc đàm phán giữa các nước thành viên về quan hệ thương mại đa biên trong khuôn khổ những quy định của WTO; là cơ quan thực thi các quyết định thông qua đàm phán, thi hành các thỏa thuận giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên, thi hành cơ chế rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên.
Hoạt động chính của WTO là tổ chức các cuộc đàm phán mậu dịch đa biên nhằm thúc đấy tự do hóa mậu dịch giữa các nước trên thế giới, xây dựng các quy tắc quốc tế về thương mại và tổ chức thực hiện các quy tắc đó, giải quyết các mậu thuẫn và tranh chấp thương mại quốc tế, phát triển kinh tế thị trường.
Hội nghị Bộ trưởng WTO gồm đại diện tất cả các nước thành viên, là cơ quan quyền lực cao nhất, họp hai năm một lần. Hội nghị Bộ trưởng có các ủy ban trực thuộc: Ủy ban về Thương mại và Môi trường, Ủy ban về Thương mại và Phát triển, Ủy ban về Hiệp định thương mại khu vực, Ủy ban về các hạn chế nhằm cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, Ủy ban về Ngân sách, tài chính và quản trị.
Đại hội đồng WTO gồm đại diện tất cả các nước thành viên, họp khi cần thiết để giải quyết tranh chấp hoặc rà soát chính sách thương mại. Đại hội đồng có các Hội đồng trực thuộc: Hội đồng Thương mại hàng hóa, Hội đồng Thương mại dịch vụ và Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.
Ban Thư ký WTO có 550 nhân viên. Tổng Giám đốc Ban Thư ký do Hội nghị Bộ trưởng bổ nhiệm. Ban Thư ký có nhiệm vụ trợ giúp về hành chính và kỹ thuật cho các ủy ban, các hội đồng, cho các nước đang phát triển và kém phát triển và các nước mới gia nhập WTO.
II. Vì sao Việt Nam gia nhập WTO?
- Xuất phát từ mục tiêu của WTO là thúc đẩy tự do hoá thương mại, “luật chơi” cơ bản của WTO là cắt giảm thuế quan, xoá bỏ các hàng rào phi thuế quan (hạn ngạch, cấp phép xuất nhập khẩu, mở cửa thị trường, tạo “sân chơi” bình đẳng cho các doanh nghiệp, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm...), Việt Nam gia nhập WTO đạt được lợi ích lớn nhất là thị trường xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam được mở rộng. Hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sẽ được cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ khác, không còn bị vướng nhiều rào cản về thuế quan và hạn ngạch như hiện nay.
- Gia nhập WTO, Việt Nam đạt được bình đẳng thương mại. Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại khu vực và song phương, nhưng hàng hoá Việt Nam vẫn bị đối xử không công bằng (Mỹ áp dụng biện pháp trừng phạt về vấn đề cá da trơn và tôm của Việt Nam trên thị trường Mỹ. EC áp thuế bán phá giá đối với sản phẩm giầy mũ da của Việt Nam. Pê-ru đang tiến hành điều tra bán phá giá đối với sản phẩm giầy mũ da của Việt Nam...). Nếu không được luật lệ của WTO bảo vệ thì Mỹ và các nước khác có thể lại kiện Việt Nam về các mặt hàng xuất khẩu mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam như hàng dệt may.
Việt Nam gia nhập WTO để sử dụng luật lệ và cơ chế hoạt động của tổ chức này nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng nói chung, của doanh nghiệp và người lao động Việt Nam nói riêng.
- Luật lệ của WTO, về lý thuyết, sẽ tạo thuận lớn cho Việt Nam mở rộng thâm nhập thị trường các nước, tranh thủ vốn đầu tư, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của nước ngoài, tham gia thiết lập các “luật chơi” mới, xử lý các tranh chấp thương mại, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phát triển, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng.
- Với Việt Nam, WTO là một phương tiện để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế nước ta còn phụ thuộc đáng kể vào nền kinh tế thế giới vào vốn nước ngoài (cả ODA và FDI) chiếm khoảng 30% tổng của cải xã hội; kim ngạch xuất khẩu chiếm trên dưới 60% trị giá GDP. Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ tranh thủ nguồn vốn nước ngoài cho đầu tư phát triển, kích cầu tiêu dùng trong nước.
- Nếu Việt Nam không sớm gia nhập WTO sẽ bỏ lỡ cơ hội quan trọng vì càng để chậm sẽ càng khó khăn hơn do các quy định và điều kiện gia nhập WTO sẽ ngày càng chặt chẽ, yêu cầu ngày càng cao hơn và thương mại Việt Nam trên thị trường thế giới sẽ chịu nhiều thua thiệt, thị phần của Việt Nam trên thị trường thế giới khó mở rộng, cơ hội làm ăn của doanh nghiệp Việt Nam khó khăn hơn.
- Gia nhập WTO sẽ góp phần nâng cao uy tín thương mại quốc tế của Việt Nam. Các nước thành viên WTO sẽ nhìn nhận Việt Nam đủ năng lực, và các điều kiện tham gia “sân chơi” chung phù hợp xu thể toàn cầu hoá.
III. Việt Nam gia nhập WTO, những thời cơ, thách thức và giải pháp
Gia nhập WTO, Việt Nam có một số thời cơ lớn:

- WTO là sân chơi toàn cầu, tham gia vào đó sẽ tăng vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
- Việt Nam cần thị trường toàn cầu để phát triển kinh tế, thương mại và thu hút đầu tư (năm 2005 kim ngạch xuất khẩu của ta đạt 32,5 tỷ USD; để đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, kim ngạch xuất khẩu của ta cần đạt 100 tỷ USD/năm trở lên).
- Gia nhập WTO, Việt Nam có hệ thống pháp luật minh bạch, rõ ràng, dễ dự đoán, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước (năm 2005 đã sửa và xây mới 29 luật, năm 2006 đã sửa và xây mới 10 luật; đã làm xong 24/25 luật và pháp lệnh mà chúng ta đã cam kết đa phương).
- Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ có điều kiện chủ động tham gia chính sách thương mại toàn cầu. Các tranh chấp thương mại liên quan đến Việt Nam sẽ được giải quyết tốt hơn.
Việt Nam gia nhập WTO, thời cơ rất lớn, nhưng thời cơ chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ. Thời cơ đó không tự trở thành hiện thực mà tuỳ thuộc vào nỗ lực tự thân của ta.
Gia nhập WTO, Việt Nam có một số thách thức lớn:
Thách thức lớn nhất là Việt Nam phải mở cửa thị trường trong nước, phải chấp nhận cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài nhiều thế mạnh.
- Doanh nghiệp Việt Nam tuy có số lượng 230.000 doanh nghiệp nhưng phần lớn là nhỏ và vừa, bị hạn chế về vốn, công nghệ, năng lực nên sức cạnh tranh kém.
- Thực hiện các cam kết cắt giảm thuế sẽ có tác động một phần tới ngân sách, phần đóng góp ngân sách từ thuế nhập khẩu sẽ giảm.
- Vấn đề cạnh tranh nguồn nhân lực sẽ rất quyết liệt, bảo vệ và sử dụng nguồn nhân lực tài năng phục vụ đất nước sẽ nhiều khó khăn hơn. Nhân lực Việt Nam có điểm chung là yếu về ngoại ngữ, tác phong công nghiệp và tính chuyên nghiệp.
Việt Nam gia nhập WTO, thách thức rất lớn, nhưng thách thức nảy sinh cũng không tự động trở thành mối đe doạ ghê gớm nếu ta không có nhu cầu, nếu đối tác không có lợi ích hoặc ta biết cách ứng phó thích hợp.
Thời cơ và thách thức, “cái được” và “cái mất” không thể “cân, đong, đo, đếm” cái nào nhiều hơn, ít hơn. Xét trên bình diện tổng thể toàn bộ nền kinh tế nước ta thì việc gia nhập WTO làm một thời cơ lớn và là sự lựa chọn đúng đắn. Thời cơ và thách thức tác động đến đâu còn phụ thuộc nhiều nhân tố chủ quan và khách quan; phụ thuộc vào các giải pháp và tính khả thi của nó; đồng thời phải được xem xét trên từng lĩnh vực, từng ngành, từng mặt hàng và dịch vụ.
Trong lĩnh vục nông nghiệp và thuỷ sản:
Những thuận lợi khi gia nhập WTO:
- Nông nghiệp nước ta sẽ có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu với các hàng rào thương mại ngày càng hạ thấp, được hưởng các ưu đãi như chưa phải đưa ra các cam kết cắt giảm trợ cấp xuất khẩu hàng nông sản, không phải cắt giảm hỗ trợ trong nước đối với nông dân.
- Các hàng hóa nông sản Việt Nam có ưu thế như gạo, cà phê, cao su, chè, điều, tiêu... sẽ gia nhập thị trường nông sản thế giới có kim ngạch 559 tỷ USD/năm, nông dân sẽ có thêm điều kiện tiếp cận nhiều thị trường, nắm bắt tốt hơn nhu cầu khách hàng nông sản hàng hóa. Nông dân cũng dễ dàng hơn trong việc lựa chọn định hướng phát triển theo tinh thần cạnh tranh về chất lượng và giá cả.
- Đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hoá sẽ đem lại cơ hội cho đổi mới công nghệ sản xuất, bảo quản và chế biến nông sản, nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Sức ép của hàng hoá nông sản nhập khẩu đối với sản xuất và chế biến nông sản trong nước ngay càng gia tăng thúc đẩy việc nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, người nông dân được tự do hơn trong lựa chọn tiêu dùng hàng hóa nông sản phong phú và có chất lượng cao của thế giới.
Những thách thức khi gia nhập WTO:
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta sẽ chịu nhiều tác động ảnh hưởng tới sự phát triển của nông nghiệp, đến kết cấu ổn định của nông thôn và an ninh lương thực cho người nông dân, đặc biệt là nông dân nghèo. Cụ thể là:
- Các nước công nghiệp phát triển bảo hộ rất cao cho nông nghiệp trong khi nền nông nghiệp nước ta còn rất lạc hậu về cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ chế quản lý; chất lượng nông sản hàng hóa chưa cao cả về tiêu chuẩn kỹ thuật, mỹ thuật và nhất là về vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Các sản phẩm hàng hóa như đường, ngô, súc sản của Việt Nam sẽ bị đe doạ hơn cả bởi các mặt hàng này từ Mỹ và EU nhập khẩu vào Việt Nam và được các chính phủ trợ cấp rất cao.
- Sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản sẽ phải giải quyết các vấn đề khó khăn về phế thải, dịch bệnh, thuốc, hoá chất sử dụng; nâng cao dân trí nông thôn ven biển; giá nhiên liệu tăng cao,..
Những giải pháp khi gia nhập WTO:
Bảo đảm cho nông nghiệp, nông thôn phát triển, tăng trưởng nhanh và bền vững, đời sống người nông dân ổn định và từng bước cải thiện khi Việt Nam gia nhập WTO, trong thời gian tới cần có sự liên kết chặt chẽ Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông. Cụ thể là:
- Nhà nước xây dựng và thực hiện chiến lược tổng thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; hướng dẫn nông dân kinh nghiệm thành công; cung cấp dịch vụ tư vấn; giúp tiếp cận các chương trình vay vốn; giúp giao dịch hợp đồng; đưa ra và kiểm soát thực hiện các quy định về chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn nông sản hàng hóa.
- Các nhà khoa học cần đưa ra được các giống cây trồng vật nuôi có chất lượng cao, giúp các căn cứ khoa học lựa chọn hướng phát triển sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ nông dân tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ.
- Các doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn phải vượt qua thử thách để tồn tại, cần năng động sáng tạo, chủ động đổi mới và hội nhập, phải hoạt động có hiệu quả ngay tại thị trường trong nước, có đủ thực lực tham gia và cạnh tranh thắng lợi trên thị trường khu vực và quốc tế.
- Người nông dân cần vươn lên làm chủ kỹ thuật và công nghệ được trang bị, am hiểu các quy định luật pháp, xác định vả phát huy đúng lợi thế, năng động, sáng tạo phấn đấu đạt hiệu quả cao trong sản xuất, kinh doanh.
- Đối với ngành thuỷ sản, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nghề cá, tăng cường nghiên cứu và áp dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nguyên liệu; tăng cường năng lực chế biến về chiều rộng và chiều sâu nhằm đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu; tăng năng lực chế biến mặt hàng giá trị gia tăng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm; phát triển nuôi trồng thuỷ sản là nguồn cung cấp chính nguyên liệu sạch cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng:
Những thuận lợi khi gia nhập WTO:
- Cơ hội lớn nhất ngành công nghiệp-xây dựng Việt Nam có được khi gia nhập WTO là mở ra thị trường mới cho các sản phẩm công nghiệp, mở ra cơ hội mới với khả năng tiếp cận thị trường rộng lớn hơn, thu hút đầu tư nước ngoài nhiều hơn, tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đạt đa dạng hơn.
- Có môi trường và điều kiện để làm quen, tiếp cận và ứng dụng các kỹ thuật công nghệ cao, đặc biệt là của các nền kinh tế công nghiệp phát triển như Mỹ, EU, Nhật Bản. Nhờ tiếp cận những những công nghệ tiên tiến và hiện đại này, các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam có thêm điều kiện đổi mới sản xuất, mở rộng liên doanh, liên kết, nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí về nhân công và nguyên liệu, rút ngắn chu kỳ sản xuất sản phẩm, cho ra đời những sản phẩm đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về chất lượng, mẫu mã của các nước nhập khẩu.
- Việc tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật và công nghệ mới tiên tiến của thế giới góp phần nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp Việt Nam; có thêm cơ hội nâng cao tay nghề cho công nhân lao động, tiếp thu và nâng cao kinh nghiệm quản lý điều hành sản xuất công, nghiệp.
- Các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam có thêm cơ hội tiếp cận các nguồn vốn mới, bảo đảm thúc đẩy quá trình phát triển các doanh nghiệp cả về quy mô và chiều sâu.
Những thách thức khi gia nhập WTO:
- Giảm đáng kể mức độ bảo hộ của Nhà nước và gia tăng sức ép cạnh tranh đối với sản xuất công nghiệp trong nước, phải đối mặt và tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của WTO như các quy định về thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ.
- Chưa hiểu biết đầy đủ pháp luật và tập quán của quốc tế và của từng nước đối tác thành viên WTO; thiếu thông tin về các tiêu chuẩn quốc tế, cách thức tiếp cận thị trường, các quy định điều chỉnh hoạt động kinh doanh ở ngoài nước nên trong cạnh tranh, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều vấp váp.
- Tình trạng thiếu vốn và công nghệ mới sẽ làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm, hạn chế khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường, và tiếp thị sản phẩm hàng hoá.
- Chỗ dựa hậu thuẫn của ngành công nghiệp Việt Nam là ngân hàng, tài chính nhưng các thể chế này phát triển chưa đồng bộ, còn có yếu kém trong khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện.
- Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp Việt Nam, chủ yếu là công nghiệp lắp ráp, công nghiệp chế tạo chưa phát triển, chưa sản xuất được các sản phẩm công nghiệp đòi hỏi dây chuyền công nghệ cao với vốn đầu tư lớn. Thị trường trong nước cũng sẽ chịu nhiều sức ép cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp nhập khẩu có ưu thế quốc tế về thương hiệu, chất lượng, mẫu mã và giá thành.
- Đối với các ngành công nghiệp có đông lao động tham gia như dệt may, da giày... thì thách thức lớn nhất là giữ vững và mở rộng thị trường nhằm bảo đảm công ăn, việc làm và thu nhập ổn định cho nhiều triệu người lao động.
Những giải pháp khi gia nhập WTO:
- Lựa chọn, tập trung phát triển những ngành hàng, những nhóm sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên cơ sở huy động mạnh mẽ những năng lực còn tiềm ẩn.
- Đẩy mạnh đầu tư và đầu tư có trọng điểm, kết hợp đầu tư mới và đầu tư chiều sâu gắn với đổi mới công nghệ.
- Áp dụng rộng rãi những phương pháp quản lý tiên tiến, áp dụng các giải pháp cần thiết để nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
- Cải tiến hệ thống pháp luật, chính sách liên quan tới lĩnh vực công nghiệp, tạo môi trường sản xuất, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, lành mạnh cho các doanh nghiệp công nghiệp. Xây dựng các chính sách theo hướng bảo đảm tính minh bạch, ổn định và phù hợp với yêu cầu của WTO và các thông lệ quốc tế.
- Sắp xếp lại và đổi mới các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước; điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện các đề án chiến lược và các quy hoạch phát triển công nghiệp theo ngành, theo vùng lãnh thổ.
- Gia tăng tốc độ thực hiện chương trình thương mại điện tử, ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin để quản lý các nguồn lực như thiết kế mẫu, quản lý nhân lực, quản lý khách hàng và sản xuất, marketing..., đẩy mạnh việc kinh doanh qua mạng.
- Tăng cường hợp tác quốc tế cả chiều sâu và trên diện rộng trong chiến lược phát triển từng ngành công nghiệp Việt Nam.
Trong các lĩnh vực dịch vụ:
Gia nhập WTO, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, vận tải... sẽ là các lĩnh vực mở cửa mạnh mẽ.
Những thuận lợi khi gia nhập WTO:
- Tăng uy tín và vị thế của từng lĩnh vực trên thị trường dịch vụ khu vực và thế giới, mang lại rất nhiều lợi thế trong khai thác, sử dụng từng loại dịch vụ.
- Có thể sử dụng vốn, công nghệ, kinh nghiệm từ các nước công nghiệp phát triển có trình độ dịch vụ văn minh cao, có điều kiện tiếp cận thị trường dịch vụ quốc tế rộng mở, huy động thêm các nguồn vốn cho đầu tư phát triển.
- Bước trưởng thành và kinh nghiệm của các lĩnh vực dịch vụ Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước sẽ giúp các doanh nghiệp dịch vụ giảm thiểu rủi ro, đứng vững khi hội nhập, vượt qua thử thách và phát triển.
- Có thêm động lực thúc đẩy các lĩnh vực dịch vụ Việt Nam nâng cao tính công khai, minh bạch trong các hoạt động của mình, để mỗi ngành dịch vụ vươn lên, thích nghi, tự hoàn thiện và phát triển với tốc độ cao hơn.
- Lợi thế về uy tín của từng lĩnh vực dịch vụ đối với khách hàng Việt Nam, về hệ thống mạng lưới có sẵn, về khả năng am hiểu thị trường nội địa, về hiểu biết và nắm vững nhu cầu tâm lý khách hàng.
- Tiếp nhận nguồn vốn đầu tư lớn, kỹ thuật tiến tiến, công nghệ hiện đại, phương pháp và kinh nghiệm quản lý... từ bên ngoài.
Những thách thức khi gia nhập WTO:
- Nhiều lĩnh vực dịch vụ Việt Nam có điểm xuất phát thấp về trình độ phát triển thị trường, về quy mô doanh nghiệp dịch vụ, về vốn, về kỹ thuật và công nghệ, về kinh nghiệm quản lý và kinh doanh...lại phải cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp dịch vụ nước ngoài vượt trội về các tiêu chí nêu trên.
- Tiềm lực tài chính so với các tập đoàn kinh tế quốc tế còn quá nhỏ bé, mô ồinh kinh doanh dịch vụ thiếu tính đa dạng, chất lượng dịch vụ thấp và thiếu tính chuyên nghiệp.
- Có thể gặp nhiều rủi ro như giảm thị phần, trong giới hạn nào đó, thậm chí có đổ vỡ, phá sản.
Những giải pháp khi gia nhập WTO:
- Gia tăng tiềm lực tài chính để tiếp nhận kỹ thuật và công nghệ hiện đại.
- Đào tạo bổ sung đội ngũ nhân viên dịch vụ có tính chuyên nghiệp cao, nâng cao chất lượng dịch vụ tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế, giảm giá thành dịch vụ, kinh doanh dịch vụ một cách văn minh, dựa trên và tuân thủ luật pháp.
- Duy trì các biện pháp giám sát nội bộ, phát hiện, phòng ngừa và ngăn chặn rủi ro cả trong phạm vi doanh nghiệp, ngành, địa phương, quốc gia, khu vực và thế giới.
Trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội:
Văn hóa, xã hội hướng vào bảo vệ và chăm sóc con người, là lĩnh vực thể hiện tập trung tính ưu việt của chế độ xã hội ta. Việt Nam gia nhập WTO, các lĩnh vực văn hóa, xã hội tuy không giữ vị trí trọng tâm mở cửa như các lĩnh vực kinh tế nhưng cũng chịu những tác động nhiều mặt, đa dạng, mạnh mẽ, tiềm ẩn các yếu tố gây xung đột xã hội.
Những thuận lợi khi gia nhập WTO:
Có thêm môi trường và không gian mới cho giao lưu và hội nhập, những điều kiện kinh tế mới bảo đảm cho phát triển, góp phần từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống sức khỏe, tri thức, văn hóa, tinh thần nhân dân.
- Tiếp nhận các giá trị bản sắc văn hóa của các dân tộc trên thế giới, các giá trị văn hóa hiện đại và mang tính thời đại, mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân.
- Tiếp cận các cơ hội giao lưu văn hóa và tiếp cận công nghệ thông tin hiện đại, qua đó, thông tin và giới thiệu hình ảnh dân tộc, đất nước và con người Việt Nam với thế giới; thông tin và giới thiệu hình ảnh thế giới với Việt Nam.
- Hợp tác, trao đổi, tiếp nhận, chuyển giao công nghệ và kỹ thuật mới trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, nhất là trong công tác phòng, chống dịch bệnh, công tác điều trị các bệnh, công nghệ sản xuất thuốc, mạng lưới lưu thông phân phối thuốc.
- Hợp tác, tiếp nhận công nghệ giáo dục và đào tạo hiện đại, tăng cơ hội học tập đối với người dân, nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cơ hội tìm kiếm việc làm sau đào tạo do nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về trình độ kỹ thuật, xây dựng các trung tâm đào tạo đạt chuẩn quốc tế.
Những thách thức khi gia nhập WTO:
- Sẽ xuất hiện những diễn biến mới phức tạp trên các lĩnh vực của đời sống tinh thần, văn hóa, xã hội. Các thế lực phản động trong và ngoài nước sẽ tăng cường chống phá cách mạng nước ta trên các vấn đề, quyền tự do cư trú, tự do ngôn luận, báo chí, xuất bản, lập hội; các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; một số vấn đề lịch sử để lại; cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; cuộc đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội; vấn đề chống buôn lậu và tội phạm xuyên quốc gia...
- Bảo vệ bản sắc văn hóa, lối sống văn hóa, truyền thống và tập quán văn hóa tốt đẹp của dân tộc trước sự xâm nhập của các trào lưu lối sống văn hóa thực dụng và các sản phẩm văn hóa độc hại tư tưởng, nhất là đối với thanh niên, sinh viên, học sinh.
- Trong giáo dục và đào tạo; nhiều cơ sở giáo dục sẽ rơi vào tình trạng khó khăn, phân hóa sâu sắc trong những người hưởng thụ giáo dục, khó khăn hơn trong kiểm soát chất lượng giáo dục đối với các trường quốc tế.
- Cạnh tranh quyết liệt hơn với các cơ sở sản xuất văn hóa phẩm; các cơ sở y tế khám, chữa bệnh; các cơ sở giáo dục và đào tạo; các trung tâm huấn luyện thể thao... có yếu tố nước ngoài, do nước ngoài đầu tư.
- Tác động lũng đoạn thị trường của các tập đoàn kinh tế nước ngoài đối với các mặt hàng thiết yếu và quan trọng đối với đời sống tinh thần và sức khỏe nhân dân như: xuất nhập khẩu sách, băng đĩa nhạc, tác phẩm điện ảnh, trò chơi giải trí, thuốc chữa bệnh...
- Hình thành các bộ phận, các nhóm xã hội có công ăn, việc làm, thu nhập, nhu cầu tư tưởng tình cảm, nhu cầu hưởng thụ giá trị văn hóa, phong cách lối sống, thị hiếu thẩm mỹ... gắn bó và phục vụ các lợi ích bên ngoài, xa rời lợi ích trước mắt và lâu dài của đất nước.
Những giải pháp khi gia nhập WTO:
- Đẩy mạnh phổ biến các giá trị văn hóa tốt đẹp Việt Nam cả truyền thống và hiện đại; tôn trọng các giá trị văn hóa tinh thần có tính dân tộc và tính nhân loại của các quốc gia, dân tộc trên thế giới.
- Nhận diện và tổ chức đấu tranh với sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại tư tưởng; chống tư tưởng tôn sùng và vọng ngoại thái quá.
- Bảo vệ trận địa an ninh tư tưởng, văn hóa; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về văn hóa; đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội.
- Trang bị vũ khí tư tưởng, văn hóa cho con người Việt Nam có đủ sức đề kháng trước tác động của các sản phẩm văn hóa độc hại tư tưởng.
- Phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả, bảo đảm cho mọi người dân được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe; xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ, tăng cường thể lực của thanh niên.
- Bảo đảm dự trữ quốc gia các loại thuốc đáp ứng yêu cầu phòng chống dịch bệnh, điều trị bệnh cho nhân đần; tăng cường hợp tác phòng chống thuốc giả, thuốc không rõ nguồn gốc và thuốc kém chất lượng; ổn định thị trường thuốc phòng và chữa bệnh cho nhân dân.
- Hỗ trợ người dân nghèo, người dân vùng sâu, vùng xa, vùng kháng chiến cũ, người dân yếm thế và dễ bỉ tổn thương xã hội về chăm sóc y tế và bảo vệ sức khỏe.
- Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hoá”.
- Chuyển đổi mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình mở - mô hình xã hội học tập, học tập suốt đời; tăng cường hợp tác quốc tế giáo dục đào tạo; hỗ trợ học sinh nghèo, học sinh dân tộc, miền núi, học sinh là đối tượng chính sách, học sinh giỏi.
- Hoàn chỉnh khung pháp lý để tạo lập cơ sở cho hoạt động dịch vụ giáo dục, đào tạo; thành lập tổ chức kiểm định chất lượng; tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các nhà trường; củng cố và phát triển hệ thống các trường ngày công lập; đổi mới cơ chế cấp phát ngân sách nhà nước cho các cơ sở giáo dục, đào tạo.
IV. Các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, doanh nghiệp, người lao động phải làm gì khi Việt Nam gia nhập WTO?
Đối với cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân

- Tạo sự đồng thuận xã hội trong cán bộ, đảng viên, nhân dân ủng hộ quyết định gia nhập WTO của Việt Nam trên cơ sở làm cho mọi người hiểu rõ đây là cơ hội lớn và là sự lựa chọn đúng đắn đối với Việt Nam. Gia nhập WTO sẽ mang lại nhiều lợi ích lớn cho đất nước, phát triển mạnh mẽ thương mại, tăng cường thu hút FDI, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tốc độ cải cách kinh tế trong nước, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền vững mạnh.
- Giải toả tư tưởng tâm lý lo ngại của các doanh nghiệp và người lao động khi Nhà nước giảm thiểu các biện pháp bảo hộ và gia tăng áp lực cạnh tranh quyết liệt cả trong và ngoài nước, bởi cạnh tranh là lợi ích, giúp sàng lọc loại thải những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại phải đổi mới, thích nghi và phát triển.
- Giải toả tư tưởng tâm lý lo ngại về việc giảm thuế nhập khẩu sẽ ảnh hưởng tới nguồn thu ngân sách, bởi cả trước mắt và lâu dài, kinh tế phát triển sẽ tăng thu ngân sách, người lao động sẽ có thêm nhiều việc làm và tăng thu nhập.
- Chuẩn bị về tư tưởng, tâm lý trong cán bộ, đảng viên, nhân dân nhận thức đầy đủ khó khăn, yếu kém của Việt Nam khi hội nhập, từ đó chấp nhận thử thách nghiệt ngã, đoàn kết, phấn đấu để vươn lên.
- Giáo dục công dân sống và làm việc theo pháp luật Việt Nam và tôn trọng luật lệ của WTO.
- Chủ động giải quyết nhiều vấn đề phức tạp về nhận thức, cơ chế, chính sách, môi trường khu vực kinh tế tư nhân.
- Góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, nhất là trong hoạt động tài chính, ngân hàng, viễn thông.
- Rèn luyện thành tập quán tôn trọng nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, bảo vệ thiết kế công nghiệp, tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ.
- Tiếp tục tham gia xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy liên quan tới việc thực thi các cam kết của Việt Nam với tư cách thành viên WTO.
- Phổ biến và hướng dẫn cho các doanh nghiệp biết các cam kết của Việt Nam với WTO để doanh nghiệp có kế hoạch phù hợp trong việc tổ chức sản xuất, kinh doanh, khai thác thị trường xuất nhập khẩu.
- Hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh tạo thuận lợi cho doanh nghiệp làm ăn có lãi.
- Đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính, chống tham nhũng, quan liêu, tạo môi trường đầu tư và kinh doanh lành mạnh; có chiến lược và kế hoạch tăng cường chất lượng nguồn nhân lực, từ đào tạo kỹ năng người lao động đến nâng cao kiến thức và kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh của đội ngũ doanh nhân.
- Xây dựng kế hoạch an sinh xã hội và các phương án thích hợp để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình gia nhập WTO như bảo vệ môi trường, công nhân đình công, doanh nghiệp phá sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động bị vi phạm.
Đối với doanh nhân, doanh nghiệp:
- Chủ động tìm hiểu các quy định của WTO, nhất là luật lệ của các đối tác, các cam kết của Việt Nam để có chiến lược và kế hoạch sắp xếp lại sản xuất kinh doanh, giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
- Chủ động và gia tăng liên kết với nhau tạo thêm tiềm lực tranh thủ thời cơ và ứng phó với những thách thức, rủi ro. Chủ động chiếm lĩnh thị trường nội địa, xâm nhập chiếm lĩnh và từng bước gia tăng thị phần tại thị trường các nước trong khu vực và thế giới.
- Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ người lao động đến cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh.
Đối với người lao động:
- Bình tĩnh trước mọi sự thay đổi có thể, tránh nhận thức phiến diện, hoặc quá kỳ vọng cho rằng Việt Nam vào WTO là thắng lợi huy hoàng mang lại phồn vinh tức thời cho đất nước, hoặc quá bi quan coi WTO như một thực thể nhận chìm nền kinh tế nước ta.
- Có nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia cùng Nhà nước và doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn hiến kế để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
- Tích cực học tập, lao động sáng tạo, vươn lên thích nghi với yêu cầu mới của doanh nghiệp và với biến động của thị trường lao động; đề phòng, chấp nhận và khắc phục những rủi ro khi doanh nghiệp phá sản và người lao động thất nghiệp.
Việt Nam gia nhập WTO, cơ hội lớn đi liền thách thức không nhỏ. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đồng thuận trong nhận thức và hành động, quyết tâm tận dụng thời cơ lớn, nêu cao ý chí vượt qua thách thức, khó khăn, phát huy cao độ nội lực tự thân bằng lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần lao động cần cù sáng tạo. Với bản lĩnh, trí tuệ và truyền thống đoàn kết quật cường của dân tộc Việt Nam, chúng ta vững vàng bước vào chặng đường mới, biến khó khăn thành thuận lợi, sáng tạo mọi biện pháp tích cực để xây dựng đất nước phồn vinh, thịnh vượng./.

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Hướng dẫn, số 51-HD/BTGTW ngày 15 tháng 10 năm 2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương, các cấp ủy đảng chỉ đạo hệ thống chính trị, cộng đồng xã hội và những người nhiễm HIV/AIDS phát động và tiến hành Cuộ (02/12/2008)
Công văn số 2821-CV/BTGTW ngày 28/10/2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương về tuyên truyền kỷ niệm 100 năm ngày sinh đồng chí Ngô Gia Tự (07/11/2008)
Hướng dẫn số 20-HD/BTCTW, ngày 10/10/2008 của Ban Tổ chức Trung ương về đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên (27/10/2008)
Hướng dẫn số 52-HD/BTGTW, ngày 16/10/2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương về tổng kết công tác thi đua khen thưởng (27/10/2008)
Hướng dẫn số 02-HD/BTCTW ngày 10/11/2006 của Ban Tổ chức Trung ương về việc xây dựng, củng cố tổ chức đảng trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (24/10/2008)
Hướng dẫn số 50-HD/BTGTW, ngày 14 tháng 10 năm 2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương về tuyên truyền tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm và những giải pháp cần tập trung thực hiện các tháng cuối n (23/10/2008)
Hướng dẫn số 16-HD/BTCTW, ngày 7-5-2008 của Ban Tổ chức Trung ương về việc nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức cơ quan đảng, đoàn thể và việc cán bộ, công chức thôi tham gia cấp uỷ các cấp (18/10/2008)
Hướng dẫn số 01-HD/BTCTW ngày 14/10/2006 của Ban Tổ chức Trung ương về đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên (17/10/2008)
Hướng dẫn số 57-HD/BTCTW ngày 16/3/2006 của Ban Tổ chức Trung ương về một số vấn đề nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ (09/10/2008)
Hướng dẫn số 49-HD/BTGTW, ngày 1/9/2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương về nhiệm vụ công tác giáo dục lý luận chính trị năm 2009 (02/09/2008)
 Trang 1 / 9 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Hướng dẫn số 07-HD-TTVH ngày2/11/2006 của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương tuyên truyền quá trình Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (17/11/2006)
Hướng dẫn tuyên truyền quá trình Việt Nam gia nhập WTO (10/11/2006)
Hướng dẫn số 05/HD/TTVH ngày 29/9/2006 của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương về nhiệm vụ công tác giáo dục lý luận chính trị năm 2007 (25/10/2006)
Hướng dẫn số 04/HD-TTVH ngày 25/9/2006 của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương về việc tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa X (25/10/2006)
Hướng dẫn số 01-HD/TTVH ngày 12/6/2006 của Ban Tư tưởng- Văn hoá Trung ương tổ chức nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (07/08/2006)
Hướng dẫn hoạt động kỷ niệm 74 năm truyền thống công tác dân vận của Đảng và “Ngày dân vận của cả nước” (12/10/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Việt Nam-Indonesia phấn đấu đạt kim ngạch thương mại 10 tỷ USD
· Thủ tướng Yatseniuk: Ukraine không thể tồn tại nếu thiếu khí đốt của Nga
· Lầu Năm Góc xác định IS là nguy cơ đe dọa an ninh nước Mỹ
· Sống mãi nụ cười Võ Thị Thắng!
· Boeing, Microsoft và Carix muốn đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam
· Phát hiện chim trĩ đỏ nuôi tại Lào Cai bị nhiễm virus cúm H5N6
· 132 thủ khoa xuất sắc được ghi danh Sổ vàng tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám
· Tổng thư ký Liên hợp quốc kêu gọi ngừng bắn lâu dài tại Gaza
· Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân thăm, làm việc tại tỉnh Quảng Ninh
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : thuky.dcsvn@gmail.com
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet