Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng


Cụ thể, để xử lý tài sản, thu nhập kê khai không trung thực (Điều 72):
Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) quy định qua kết quả xác minh nếu kết luận tài sản, thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ kê khai lớn hơn tài sản, thu nhập đã kê khai, thì cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập có trách nhiệm yêu cầu cơ quan quản lý thuế xem xét, xử lý và truy thu thuế nếu người có nghĩa vụ kê khai giải trình được một cách hợp lý nguồn gốc của phần tài sản, thu nhập chênh lệch; hoặc khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án cấp có thẩm quyền để phán quyết về quyền sở hữu đối với phần tài sản, thu nhập chênh lệch nếu không giải trình được một cách hợp lý.

Tương tự quy định tại Điều 73, Dự thảo quy định trường hợp qua xác minh kết luận người có nghĩa vụ kê khai không giải trình được một cách hợp lý về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm, thì xử lý theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 72 (khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật về tố tụng dân sự).

 Theo Thanh tra Chính phủ, quy định này nhằm thể chế hóa chỉ đạo của Đảng về việc nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng (Chỉ thị 50-CT/TW ngày 07/12/2015 của Bộ Chính trị).

Ảnh minh họa. Nguồn: vietnamnet.vn.

Cũng theo Thanh tra Chính phủ, xuất phát từ tầm quan trọng biện pháp minh bạch và kiểm soát tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng, Dự thảo đã quy định thành một chương riêng với nhiều quy định mới, thực chất nhằm tới việc kiểm soát được tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức và một số người có chức vụ, quyền hạn khác, đặc biệt là trong công ty đại chúng, tổ chức tín dụng và quỹ đầu tư. Nội dung của Chương này bao gồm quy định về kê khai tài sản, thu nhập; quản lý bản kê khai; theo dõi biến động; xác minh tài sản, thu nhập; xử lý vi phạm và xử lý tài sản, thu nhập kê khai không trung thực, không được giải trình hợp lý.

Điều 39 Dự thảo xác định rõ nội hàm và mục đích của minh bạch tài sản, thu nhập, theo đó: Minh bạch và kiểm soát tài sản, thu nhập bao gồm việc kê khai tài sản, thu nhập, quản lý và công khai bản kê khai, xác minh, giải trình, kết luận, xử lý vi phạm về minh bạch, kiểm soát tài sản, thu nhập nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng. Đồng thời, để việc kiểm soát tài sản thu nhập có hiệu quả, dự thảo đã xác định rõ các nội dung của kiểm soát tài sản, thu nhập (Điều 40). Đặc biệt, để khắc phục tính hình thức, Dự thảo lần này đã bổ sung quy định về cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập bao gồm: Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng; Thanh tra Chính phủ; Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước. Thanh tra các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, đơn vị phụ trách công tác tổ chức - cán bộ tại nơi không có cơ quan thanh tra; Ủy ban Kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy; Thanh tra tỉnh (Điều 41).

Mở rộng phạm vi đối tượng kê khai tài sản

Về đối tượng kê khai (Điều 43),
Dự thảo  có sự điều chỉnh lớn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) đối với tất cả công chức khi được bổ nhiệm vào ngạch; viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công chức khi được bầu, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác được giao biên chế và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, để phù hợp với việc mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với khu vực ngoài nhà nước như đã trình bày ở trên, Dự thảo đã quy định người có nghĩa vụ kê khai bao gồm cả những người làm việc trong công ty đại chúng, tổ chức tín dụng và đơn vị sự nghiệp ngoài công lập (điểm g khoản 1 Điều 43).  

Một trong những điểm mới nữa  của Dự thảo là quy định theo dõi biến động về tài sản. Theo Thanh tra Chính phủ, quy định này nhằm khắc phục tính hình thức trong quy định hiện hành. Dự thảo quy định trách nhiệm của cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập trong việc chủ động thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu bản kê khai tài sản, thu nhập; cập nhật thông tin, dữ liệu về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai; yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai và cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, dữ liệu nhằm giải trình, làm rõ về tài sản, thu nhập tăng thêm và quyết định việc xác minh tài sản, thu nhập khi có căn cứ quy định (Điều 53). Dự thảo đồng thời quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập (Điều 54); trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan (Điều 55).

Để đảm bảo cho việc kê khai được chính xác, trung thực nhằm kiểm soát có hiệu quả hơn tài sản, thu nhập của người kê khai Dự thảo đã mở rộng căn cứ xác minh tài sản, thu nhập so với quy định hiện hành, bao gồm: khi có căn cứ việc kê khai không trung thực, không giải trình hợp lý; khi có tố cáo về việc kê khai tài sản, thu nhập; quy định việc xác minh bắt buộc đối với những người dự kiến bầu, bổ nhiệm, phân công giữ chức vụ và hưởng phụ cấp trách nhiệm từ 0,9 trở lên nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính. Ngoài ra, Dự thảo quy định khi người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị xét thấy cần xác minh tài sản, thu nhập của người được dự kiến bầu, bổ nhiệm, cử giữ chức vụ và được hưởng phụ cấp trách nhiệm dưới 0,9 trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.

Dự thảo đã quy định cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập tiến hành xác minh tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai theo thẩm quyền quản lý tập trung và kiểm soát tài sản, thu nhập cho phù hợp với những quy định mới về thẩm quyền quản lý bản kê khai và kiểm soát tài sản, thu nhập. Phương án này cũng giúp khắc phục những quy định chưa rõ ràng trong pháp luật hiện hành về thẩm quyền xác minh tài sản, thu nhập…/.

Thu Hằng