Hiệp ước ngày 30-12-1999 về biên giới trên bộ Việt – Trung

Cập nhật lúc 15h46  -  Ngày 12/10/2016

share facebookgửi emailin bài này

Hiệp ước ngày 30 tháng 12 năm 1999 về biên giới trên bộ Việt – Trung 1

Hoàng Linh – Long Việt

Ngày 30 tháng 12 năm 1999, Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Trung đã được hai Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và Đường Gia Triền, thay mặt Chính phủ hai nước ký kết chính thức tại Hà Nội. Hiệp ước này đã đặt một dấu son mới trong quan hệ giữa hai nước Việc Trung trước thềm thiên niên kỷ mới.

Lịch sử vấn đề

Nằm trên bán đảo Đông Dương, Việt Nam có đường biên giới trên bộ dài khoảng 4.510km tiếp giáp với ba nước: Trung Quốc, Lào và Campuchia.

Ngay sau khi giành được độc lập, ngày 2 tháng 11 năm 1957, Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã gửi thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị hai bên tôn trọng đường biên giới lịch sử do hai Công ước Pháp Thanh 1887 và 1895 để lại và giải quyết mọi tranh chấp có thể bằng đàm phán. Bức thư nhấn mạnh: "Vấn đề quốc giới là một vấn đề quan trọng cần giải quyết theo những nguyên tắc pháp lý đương có hoặc được xác định lại do Chính phủ hai nước quyết định". Tháng 4 năm 1958, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trả lời đồng ý với đề nghị của phía Việt Nam, tôn trọng hiện trạng đường biên giới lịch sử được Công ước 1887 và 1895 xác lập. Lập trường này thể hiện sự tôn trọng luật quốc tế, theo đó các Hiệp ước về biên giới không chấm dứt hiệu lực ngay cả khi hoàn cảnh thay đổi2. Trung Quốc và Việt Nam đã thừa nhận tính hợp lý của hai Công ước 1887 và 1895.

Đường biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hình thành qua quá trình lịch sử và tồn tại một cách tương đối ổn định kể từ khi Việt Nam thoát khỏi ách Bắc thuộc thế kỷ thứ X. Tạp chí Geographer của Vụ Tình báo và Nghiên cứu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 29 tháng 10 năm 1964 viết: "Sau hơn 10 thế kỷ bị đô hộ, năm 939 Bắc Kỳ phá vỡ ách đô hộ của Trung Quốc và thành lập Vương quốc Đại Cồ Việt… nhà nước mới này đã bảo vệ được nền độc lập của mình… một đường biên giới gần giống như ngày nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc gia cách đây 10 thế kỷ.

Hai Công ước Pháp Thanh về hoạch định biên giới năm 1887 và 1895 khẳng định lại về mặt pháp lý đường biên giới truyền thống giữa hai nước. Trong thời gian từ năm 1886 đến 1897, hai bên đã tiến hành phân giới và cắm 341 mốc. Với hai Công ước này, đường biên giới trên bộ Việt Nam Trung Quốc đã trở thành đường biên giới quốc tế đầu tiên của Việt Nam. Các Công ước này, nhìn chung đã xác lập đường biên giới trừ một số điểm và khu vực biên giới không lớn, tại đó hai bên không nhất trí với nhau trong khi giải thích các Công ước.

Trải qua hơn 100 năm tồn tại do điều kiện thời gian, kỹ thuật và tình hình quản lý, đường biên giới này trên thực địa có một số thay đổi, đòi hỏi phải xác định rõ.

Chiến tranh chống đế quốc Mỹ đã làm gián đoạn việc thực hiện ý tưởng tốt đẹp của Đảng và Chính phủ hai nước Việt - Trung. Sau khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình tại Việt Nam được ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bắt đầu đặt kế hoạch khôi phục lại đất nước, mà vấn đề đầu tiên là xác định lại đường biên giới.

Đàm phán Việt Trung về biên giới lần thứ nhất đã được bắt đầu tại Bắc Kinh ngày 15 tháng 8 năm 1974. Cuộc đàm phán lần thứ hai bắt đầu từ ngày 7 tháng 10 năm 1977 đến tháng 6 năm 1978 ở cấp thứ trưởng Ngoại giao. Đàm phán bị gián đoạn bởi cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Ngày 18 tháng 4 năm 1979, đàm phán về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc được nối lại tại Hà Nội. Phía Việt Nam đã ra đề nghị ba điểm, trong đó điểm 3 nêu rõ:

“3. Việc giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa hai nước tuân theo nguyên tắc tôn trọng nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại và đã được hoạch định bởi các Công ước 1887 và 1895 do Chính phủ Pháp và nhà Thanh ký, và đã được phía Việt Nam và phía Trung Quốc đồng ý chấp nhận”3.

Sau khi bình thường hoá quan hệ, đàm phán về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam Trung Quốc lần thứ tư bắt đầu từ tháng 10 năm 1992. Đây là cuộc đàm phán dài nhất (7 năm) trên nhiều diễn đàn nhất (cấp chính phủ 6 vòng, cấp chuyên viên - 16 vòng, cấp kỹ thuật...) và thành công nhất với kết quả là ký Hiệp ước ngày 30 tháng 12 năm 1999.

Kết quả đạt được là do

1. Sớm giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước là phù hợp với lợi ích căn bản và nguyện vọng của nhân dân hai nước: cùng nhau xây dựng đường biên giới hai nước trở thành đường biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định và hợp tác. Mong muốn này thể hiện rõ trong "Tuyên bố chung Việt Nam Trung Quốc" nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc” của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 2 tháng 3 năm 1999 “xây dựng quan hệ Việt Nam – Trung Quốc láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai"4.

2. Hai nước cũng đã có kinh nghiệm giải quyết vấn đề biên giới. Trung Quốc đã giải quyết và ký kết Hiệp định biên giới với 12/15 quốc gia láng giềng. Việt Nam cũng đã hoàn thành xong việc hoạch định và phân giới, cắm mốc biên giới với Lào. Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước đã ký được "Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào". Ngày 24 tháng 1 năm 1986, hai bên ký Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt – Lào.

3. Việc giải quyết vấn đề biên giới Việt Trung luôn được sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ của lãnh đao Đảng và Nhà nước Việt Nam Trung Quốc.

Tháng 11 năm 1991 tại Bắc Kinh, Tổng Bí thư Đỗ Mười và Tổng Bí thư, Chủ tịch Giang Trạch Dân đã thoả thuận: “Hai bên đồng ý thông qua thương lượng giải quyết hoà bình vấn đề lãnh thổ, biên giới, v.v. tồn tại giữa hai nước".

Tháng 12 năm 1992 tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Quốc Vụ viện Trung Quốc Lý Bằng cùng tuyên bố: "Hai bên khẳng định lại những thoả thuận đạt được trong cuộc gặp cấp cao hai nước năm 1991 là thông qua đàm phán giải quyết hòa bình các vấn đề tranh chấp về biên giới lãnh thổ giữa hai nước…"*.

Tháng 11 năm 1994 tại Hà Nội, Tổng Bí thư Đỗ Mười, Chủ tịch nước Lê Đức Anh và Tổng Bí thư, Chủ tịch Giang Trạch Dân thoả thuận: "Hai bên khẳng định lại những thoả thuận tại các cuộc gặp cấp cao hai nước từ năm 1991 đến nay, kiên trì thông qua đàm phán hoà bình giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước...".

Quyết tâm này được thể hiện cụ thể vào tháng 7 năm 1997, trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Đỗ Mười, lãnh đạo cấp cao hai nước đã thoả thuận "Cố gắng ký Hiệp ước biên giới trên bộ và Vịnh Bắc Bộ trước năm 2000".

Tháng 10 năm 1998, trong chuyến thăm Trung Quốc của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phan Văn Khải, hai bên đã khẳng định lại quyết tâm thực hiện thoả thuận chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước. Tháng 2 năm 1999, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và Tổng Bí thư, Chủ tịch Giang Trạch Dân đã chỉ thị: "Hai bên đồng ý tiếp tục với tinh thần lấy đại cục làm trọng, thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau, công bằng hợp lý, hiệp thương hữu nghị và căn cứ vào luật pháp quốc tế, tham khảo thực tiễn quốc tế, thông qua đàm phán hòa bình, giải quyết thoả đáng những vấn đề biên giới lãnh thổ tồn tại giữa hai nước.

Hai bên quyết tâm đẩy nhanh tiến trình đàm phán, nâng cao hiệu suất công tác, ký kết Hiệp ước về biên giới trên bộ trong năm 1999; giải quyết xong vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000; cùng nhau xây dựng đường biên giới hai nước trở thành đường biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định”5.

Các nguyên tắc xác định biên giới trên bộ

Thỏa thuận nguyên tắc ngày 19 tháng 10 năm 1993, phần nói về biên giới trên bộ quy định: "Hai bên đồng ý căn cứ vào công ước hoạch định biên giới ký giữa nhà Thanh và Pháp ngày 26 tháng 6 năm 18876 và Công ước bổ sung Công ước hoạch định biên giới ngày 20 tháng 6 năm 1895 cùng các văn kiện và bản đồ hoạch định và cắm mốc biên giới kèm theo đã được Công ước và Công ước bổ sung nói trên xác nhận hoặc quy định, cũng như các mốc quốc giới cắm theo quy định, đối chiếu xác định lại toàn bộ đường biên giới trên bộ giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc".

Như vậy, nguyên tắc đầu tiên, chủ đạo trong đàm phán là công nhận hiệu lực pháp lý của hai Công ước 1887 và 1895, lấy đó làm căn cứ để đối chiếu xác định tại toàn bộ đường biên giới trên bộ giữa hai nước.


 

Trong quá trình đàm phán, hai bên đã trao cho nhau bản đồ thể hiện đường biên giới do mỗi bên xác định căn cứ vào việc giải thích các Công ước Pháp Thanh. Qua đối chiếu phần lớn đường biên giới chủ trương của hai bên hoàn toàn trùng nhau, khu vực khác biệt không lớn. Các khu vực này được xác định rõ lý do khác biệt và phân thành ba loại:

- Loại A khác nhau vì lý do kỹ thuật hai Bên vẽ chồng lấn sang nhau.

- Loại B khác nhau vì lý do kỹ thuật hai Bên đều không vẽ tới.

- Loại C khác nhau do quan điểm hai Bên trong giải thích Công ước.

Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc công bằng, hợp lý để giải quyết các khu vực khác biệt. Đối với các khu vực Công ước Pháp Thanh quy định rõ ràng thì căn cứ vào quy định của Công ước để xác định hướng đi của đường biên giới; đối với các khu vực một bên quản lý hoặc vạch quá đường biên giới đó thì về nguyên tắc cần trao trả cho phía bên kia không điều kiện.

Đối với các khu vực Công ước quy định không rõ ràng thì cần xem xét tổng hợp các yếu tố, cơ sở pháp lý của các Công ước Pháp -Thanh còn có thể vận dụng được, lịch sử quản lý, địa hình, bản đồ lịch sử, mốc giới, thuận tiện cho quản lý biên giới, để xác định hướng đi của đường biên giới; nếu cần, chuyên gia hai bên đi thực địa khảo sát, thương lượng hữu nghị trên tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau để tìm giải pháp công bằng, hợp lý.

Đối với số ít những khu vực hai bên không thể đạt được thoả thuận thì có thể tìm biện pháp giải quyết cả gói trên tinh thần hiệp thương hữu nghị, thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau, công bằng, hợp lý.

Kết quả, toàn bộ tuyến biên giới Việt Trung đã được đối chiếu và hoạch định đầy đủ. Diện tích tranh chấp khoảng 231km2 giữa hai bên đã được giải quyết.

Ý nghĩa của Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt - Trung ngày 30 tháng 12 năm 1999

Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Trung là một thắng lợi của cả hai nước. Cái được lớn nhất là từ nay giữa hai nước có một đường biên giới rõ ràng, ổn định. Hiệp ước đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước, trước hết là nhân dân biên giới và đáp ứng yêu cầu giữ gìn hoà bình, ổn định ở Đông Nam Á.

Hiệp ước này đã hoạch định 1/3 chiều dài biên giới quan trọng nhất của Việt Nam, khẳng định trên thực tế thoả thuận 16 chữ vàng giữa hai Tổng Bí thư: xây dựng quan hệ Việt Nam Trung Quốc “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Hiệp ước là thắng lợi của nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, tạo điều kiện xây dựng một đường biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định và bền vững lâu dài, mở ra bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Trung cũng như tập trung xây dựng đất nước.

Hiệp ước đánh dấu nhân nhượng và thể hiện rõ quyết tâm của hai Đảng, hai Chính phủ, hai dân tộc trong việc giải quyết bằng thương lượng hoà bình tất cả các vấn đề biên giới lãnh thổ còn tồn đọng trong quan hệ hai nước. Vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ sẽ được giải quyết vào năm 2000. Hai nước cũng đang tiếp tục đàm phán giải quyết các vấn đề trong Biển Đông.

Cùng với Hiệp định về phân định biển Việt Nam Thái Lan ngày 9 tháng 8 năm 1997, Hiệp ước này cho thấy thiện chí và quyết tâm của Việt Nam sẵn sàng giải quyết mọi tranh chấp về biên giới lãnh thổ, về các vùng biển và thềm lục địa với các nước láng giềng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Hiệp ước này phản ánh xu thế chung của thời đại và đóng góp vào việc khẳng định các nguyên tắc chung của luật quốc tế đàm phán hoà bình giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ; không sử dụng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp quốc tế. Hiệp ước góp phần củng cố hoà bình, an ninh trong khu vực, khẳng định vai trò của hai nước trong đảm bảo hoà bình, ổn định của khu vực cũng như trong phạm vi thế giới.

_____________

1. Bài đăng trên Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng, số 1, năm 2000.

2. Báo Quân đội nhân dân, ngày 26 tháng 2 năm 1999.

3. A. Dauphin: “La frontière Sino – Vietnamienne de 1895 – 1986 à nos jours” (Biên giới Việt – Trung từ 1895-1896 đến ngày nay), Lesfrontières du Vietnam, histoire des frontières de la péninsule indochinoise (Biên giới Việt Nam, lịch sử các đường biên giới của bán đảo Đông Dương). L’Harmattanm 1989, tr.115.

4. Báo Quân đội nhân dân, ngày 26 tháng 2 năm 1999.

* Những chữ in nghiêng là do tác giả nhấn mạnh.

5. F.Joyaux: Gesopolitique de l’Extrême-Orient (Địa chính trị vùng Viễn Đông), quyển II, Nxb. Complexe, 1991, tr.96.

6. Công ước hoạch định biên giới Trung Quốc – Bắc Kỳ (BT)