Chương I - THỜI NIÊN THIẾU VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG YÊU NƯỚC ĐẦU TIÊN (1888 - 1916)

Cập nhật lúc 15h45  -  Ngày 12/10/2016

share facebookgửi emailin bài này

THỜI NIÊN THIẾU VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG YÊU NƯỚC ĐẦU TIÊN

(1888 – 1916)

1. Sớm có lòng yêu nước, giải phóng đồng bào (1888 - 1906)

Tôn Đức Thắng (ở quê hương quen gọi là Hai Thắng) sinh ngày 20-8-1888 tại quê nội là Cù lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng, tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên (nay thuộc thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang). Quê ngoại của Tôn Đức Thắng là rạch Cái Sơn, xã Mỹ Phước, cũng thuộc tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên1.

Cù lao Ông Hổ là một cù lao nhỏ nằm giữa chia dòng Cửu Long khi chảy vào Việt Nam thành sông Hậu và sông Tiền, có chiều dài 3km, chiều ngang nơi rộng nhất 5km, nằm chếch 4km về hướng Tây Bắc thành phố Long Xuyên. Cù lao Ông Hổ nằm song song với Cù lao Ông Chưởng, cũng ở giữa dòng Cửu Long, tạo nên cảnh thơ mộng cho vùng đất phù sa màu mỡ, trù phú. Đất trên Cù lao Ông Hổ là loại đất phù sa được bồi hằng năm, khi nước sông Hậu chảy tràn vào đưa đến cho vùng đất này lớp phù sa mới vào mỗi mùa nước nổi kéo dài nửa năm một kỳ. Ở đây, nông dân thường sau mỗi mùa sạ cấy xong, lại bắt tay vào chuẩn bị ghe xuồng, câu lưới, đặt lờ, lợp, trúm... đánh bắt cá tôm ngay trên những con rạch từ sông Hậu chảy vào. Nông dân cù lao thường có những câu dân ca khi đưa xuồng ra sông rạch:

''Bao phen quạ nói với diều

Cù lao Ông Chưởng thiệt nhiều cá tôm'' ...

Thiên nhiên dành cho Cù lao Ông Hổ thật nhiều ưu đãi nhưng cũng kèm theo những thử thách khắc nghiệt vào mùa lũ hàng năm, thường từ tháng 7 đến tháng 9. Chính vì thế, người dân cù lao phóng khoáng, hiền lành, chịu thương, chịu khó, đoàn kết giúp đỡ nhau, và cũng rất táo bạo, dũng cảm trước thiên tai, chống chọi được với mỗi con lũ lên hàng năm.

Nơi sinh ra Tôn Đức Thắng là một ngôi nhà sàn, vách ván, lợp ngói âm dương, được dựng lên trước lúc Tôn Đức Thắng chào đời 4 năm. Ngôi nhà có một khoảng sân rộng chừng mười thước rợp bóng xoài, mận và một hàng rào dâm bụt cùng dãy nhóm hoa mẫu đơn, bây giờ còn giữ lại2 tại khu di tích Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại Cù lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng, Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Cách bài trí bên trong theo kiểu nhà Nam Bộ xưa: có hàng hiên rộng gần nửa lòng nhà, bộ tràng kỷ và hai bộ ván ngựa hai bên, bên trong hàng cửa chính giữa là bàn thờ ông bà; phía bên trái có căn chái dùng làm bếp, và là nơi chứa lúa. Ngôi nhà nằm trước mặt dòng sông Hậu, giữa một khu vườn khá rộng, bao quanh bởi một lũy tre dày đặc như để ngăn gió bão, lũ lụt hàng năm cho cả nhà.

Tôn Đức Thắng sinh ra trong một gia đình nông dân tương đối khá giả. Thân phụ của Tôn Đức Thắng là Tôn Văn Đề và thân mẫu là Nguyễn Thị Dị đều là những người nông dân hiền lành, cần cù, chịu khó, chất phác như bao người nông dân Cù lao Ông Hổ. Khi hai người được ông bà ngoại giúp đỡ cất xong nhà, bốn năm sau con trai đầu lòng là Tôn Đức Thắng ra đời và sau đó là 3 người em ruột. Cả 4 anh em, hai trai, hai gái đều khỏe mạnh, lớn lên ai cũng cần cù, chịu khó nên bà con, cô bác ở cù lao đều thương mến.

Khi Tôn Đức Thắng sinh ra thì chợ Long Xuyên đã khá đông đúc. Dưới sự cai trị của thực dân Pháp, cuối thế kỷ XIX, Long Xuyên được tách ra thành một tỉnh gồm 3 quận: Châu Thành, Thốt Nốt, Chợ Mới. Chợ Long Xuyên là một điểm hội tụ ghe xuồng đông đảo từ quận Thốt Nốt lên, Châu Đốc xuống, Chợ Mới qua, Rạch Giá lên nên thường rất đông đúc, nhộn nhịp bốn mùa. Trước và sau mỗi dịp Tết Nguyên đán ở đây là nơi hội tụ của cả vùng rộng lớn đầu dòng sông Hậu và sông Tiền trước khi đổ về các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Năm 1894, khi Tôn Đức Thắng 6 tuổi, cha mẹ gửi ông về quê ngoại ở rạch Cái Sơn, xã Mỹ Phước để theo học chữ. Ông Nguyễn Thượng Khách (Năm Khách), một thầy giáo làng đáng kính là người thầy giáo đầu tiên của Hai Thắng. Ông Nguyễn Thượng Khách là một nhà Nho yêu nước, sau này có tham gia nhóm Đông kinh Nghĩa thục do cụ cử Vũ Hoành3 phụ trách. Nhà ông ở Đường Ngang gần rạch Cái Sơn, quê ngoại của Hai Thắng. Ông Năm Khách mở tiệm thuốc Bắc, bắt mạch, hốt thuốc để sinh sống. Tiệm thuốc của ông Năm Khách cũng là nơi tụ họp của các cụ đồ, ông tú, ông cử cùng chí hướng trong vùng Long Xuyên xướng họa thơ văn yêu nước với nhau.

Có một lần trong khi các bạn nhà Nho yêu nước đang bình thơ văn yêu nước, thầy Năm Khách bắt gặp Tôn Đức Thắng đứng say sưa nghe trộm. Thấy Tôn Đức Thắng là một đứa trẻ thông minh, thầy giáo đã không la rầy mà sau những giờ học, hoặc lúc Tôn Đức Thắng sang nhà ông chơi, ông thường kể cho Thắng nghe về những tấm gương yêu nước: Trương Định, Nguyễn Trung Thực, Thủ Khoa Huân, Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Dương..., nhiều lúc ông còn đọc cho trò Thắng nghe những đoạn thơ của những nghĩa sĩ trong nhóm Đông kinh Nghĩa thục.

Lớp học của thầy Nguyễn Thượng Khách (Năm Khách) là một căn nhà ngang, sát ngay nhà thầy giáo và kề bên con rạch Cái Sơn, Cù lao Ông Hổ. Từ nhà ngoại, Tôn Đức Thắng chỉ cần qua con lộ xuyên qua đường, đi một lối ngắn, dưới những rặng xoài, vú sữa của đất cù lao ngay bên dòng sông Hậu, con sông lớn nhất của sông Mê Công chảy qua quê hương ông là có thể đến được lớp học.

Thầy giáo làng Năm Khách, là người có tinh thần yêu nước, những lúc rảnh rang, ông thường kể cho người học trò Hai Thắng ham học, ham hiểu biết về những sự kiện đã xảy ra tại quê hương, khi ông chưa ra đời. Khi học, Hai Thắng thường nêu nhiều câu hỏi với thầy, chẳng hạn tại sao đất nước mình lại có những người nơi khác đến mà họ lắm quyền hành thế? Tại sao họ muốn giết người mình lúc nào cũng được? Thuế mình nộp để người Pháp làm gì? Tại sao mình phải đi xâu? Khi chết cũng không được đền mạng? Nước Pháp ở tận đâu? Bên cạnh có người nước ngoài đến cai trị như nước mình không? Họ có làm ruộng, làm thợ như mình không? Những câu hỏi của người học trò được thầy giáo Năm Khách giải đáp, và nhờ trí thông minh, đức hiếu học, cậu học trò Hai Thắng đã chắp nối và dần dần hiểu ra thời cuộc. Tôn Đức Thắng được học thật ra không lâu, nhưng cái chính là ông đã được dạy cách làm người, biết yêu cái đúng, ghét cái sai, cái lòng say mê thiên nhiên đất nước, trung thành với sự nghiệp của cha ông.

Sau khi học chữ quốc ngữ ở trường tiểu học tại làng, Hai Thắng vẫn thường tìm về thầy giáo Năm Khách và coi thầy giáo như người cậu trong nhà, nên ông gọi là cậu Năm. Thầy Năm Khách là người nhớ kỹ, lại chăm đọc sách báo nên biết rất tường tận nhiều chuyện trong làng, chuyện thiên hạ. Ông thường chỉ cho Hai Thắng những loại sách cần đọc, từ đó càng nung nấu thêm lòng ham hiểu biết, ham học của một người trẻ tuổi. Từ những mẩu chuyện và những cuốn sách mà thầy Năm Khách cho mượn, Hai Thắng hiểu được thêm vì sao miền Nam sớm rơi vào tay thực dân Pháp, và họ đến xâm chiếm cả nước ta để làm gì.

Học hết lớp ba trường tiểu học, Tôn Đức Thắng đi thị xã Long Xuyên để học hết bậc tiểu học. Học với trò Hai Thắng có 4 người bạn thân. Nhóm 5 cậu ''nhứt Thắng, nhì Lạc, tam Vinh, tứ Mẹo, ngũ Sung'' là những anh em thân thiết nhất, tuy khác tuổi, khác họ, nhưng là những bạn học giỏi, lễ phép với thầy cô giáo, tốt bụng với bạn bè. Cả nhóm 5 người vừa thông minh, ham học và thích bênh vực người hèn yếu, kể cả việc ra tay trị những kẻ lớn tuổi, ỷ thế ăn hiếp người khác. Có lúc, những người trong nhóm của Hai Thắng đã trị những người ăn hiếp bạn bè lớn hơn mình cả chục tuổi. Những năm học tiểu học ở thị xã Long Xuyên, Hai Thắng thường ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ, tóc để dài, chải ngược, lộ rõ vầng trán cao sáng sủa.

Từ quê ngoại, những lúc nghỉ học, được về thăm nhà ở Cù lao ông Hổ, Tôn Đức Thắng thường chống xuồng đi dỡ lợp, dỡ lờ theo các xuồng chài trên dòng sông quê hương. Mùa nước lên, anh chống xuồng đi hái rau muống, nhổ bông súng về làm dưa chấm với mắm kho sả ớt. Mùa nước xuống, anh vẫn thích có cá linh kho hầm, chấm với đọt xoài, đọt bằng lăng, đọt lá lụa. Đặc biệt, Tôn Đức Thắng thích nhất cá rô kho tộ, bỏ thật nhiều tiêu, ăn ngon đậm, sau này khi là Chủ tịch nước, về thăm quê hương, ông vẫn mang theo món ăn quê hương mình ra tận Hà Nội4.

Đốc học trường tiểu học lúc đó là Pơledơ người Pháp, phụ việc cho đốc học là một người Việt tên là Phan Văn Ngân, thầy giáo dạy lớp nhất. Hai Thắng là học trò ham hiểu biết, ham học, nhưng không chịu tư tưởng coi thường người bản xứ của đốc học người Pháp. Có những lần đốc học nhắc Hai Thắng cắt tóc, trái với những thư sinh Hán học thời ấy, tan học về Hai Thắng đã ra tiệm cạo trọc đầu ngay, rồi nói với chúng bạn: "Tao cạo rồi, tụi bay có cạo thì cạo". Thế là từ đó Hai Thắng nổi tiếng là cứng cỏi, bướng bỉnh nhất lớp và dám bênh cả những bạn học bị đốc học người Pháp phạt không có căn cứ, kể cả việc vận động cả lớp nhất của trường phản đối đốc học vô lý phạt hai học trò lớp nhất bắt ra đứng phơi nắng ngoài sân trường.

Khoảng 12 tuổi, Tôn Đức Thắng thường tìm thầy Năm Khách để hỏi và nghe kể về những chí sĩ yêu nước như Hồ Huân Nghiệp, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thông, Nguyễn Đình Chiểu..., và khi nghe tin Phan Bội Châu sắp vào Nam thì Hai Thắng đã dò tìm cách gặp được nhà chí sĩ họ Phan để hiểu biết thêm về những hành động yêu nước của cụ.

Ý định ấy của Tôn Đức Thắng đã dẫn anh đi tìm phương hướng mới mà sau này lịch sử đã chứng minh đó là ''phương hướng tốt, hợp thời đại"5.

2. Những hoạt động yêu nước đầu tiên (1906 - 1916)

Năm 1906, Tôn Đức Thắng học xong bậc tiểu học ở trường tỉnh Long Xuyên. Không có điều kiện tiếp tục học bậc trung học, nhưng qua những điều tiếp nhận được từ lời giảng của thầy, qua kiến thức sách vở, theo nhận thức cảm tính ban đầu, Tôn Đức Thắng quyết định rời quê hương và hành động theo tiếng gọi của trái tim mình. Vào một ngày đầu xuân năm 1907, với tuổi thanh niên rực lửa, trong lòng mang nặng truyền thống yêu nước, thương nòi, nhân nghĩa, hiếu đễ, khoan dung của quê hương và nỗi nhục, nỗi đau của người dân nô lệ bị mất nước, mất độc lập tự do, Tôn Đức Thắng lên Sài Gòn sinh sống.

Việc Tôn Đức Thắng chọn đường đi riêng cho cuộc đời mình thể hiện khát vọng và ý chí tự lập lớn. Ý chí tự lập ngay từ tuổi trẻ là một nét độc đáo trong tính cách của Tôn Đức Thắng, là một nhân tố quan trọng góp phần tạo nên nhân cách toàn diện của Tôn Đức Thắng sau này.

Chọn Sài Gòn để đến tìm việc và sinh sống, Tôn Đức Thắng đã đặt chân lên một trong hai trung tâm kinh tế chính trị lớn nhất nước ta hồi đó.

Sài Gòn trong những năm đầu thế kỷ XX đã sầm uất. Dân số đã lên trên trăm ngàn. Nếu tính cả Chợ Lớn thì dân số lên tới ba trăm ngàn người. Thành phố còn rất trẻ, nhưng sự phát triển khá nhanh. Vào thế kỷ XVIII, Nguyễn Ánh xây dựng thành Gia Định gọi là thành Quy. Vì Lê Văn Khôi khởi binh cố thủ ở thành Quy mà thành này to lớn, kiên cố nên sau khi đánh bại Khôi, Minh Mạng ra lệnh triệt hạ, xây lại một thành nhỏ hơn gọi là thành Phụng hay là thành Gia Định. Thành Gia Định bị quân Pháp chiếm năm 1859. Từ thế kỷ XIX, Sài Gòn (thành Gia Định) đã là một thị trấn thương mại quan trọng. Sau khi Pháp chiếm, Sài Gòn càng phát đạt vì chính quyền thực dân mở cảng buôn bán rộng lớn hơn với các nước, đặc biệt là vơ vét xuất cảng lúa gạo, lập xưởng sửa chữa tàu lớn, đóng tàu nhỏ và biến Sài Gòn thành bàn đạp để xâm lược cả Đông Dương. Phong trào Cần Vương ở hai miền Trung và Bắc chấm dứt, thực dân Pháp bắt đầu chương trình , ''khai thác lần thứ nhất" thì Sài Gòn - Chợ Lớn đã trở thành thành phố tương đối lớn, nhộn nhịp nhất nước ta về kinh tế.

Công cuộc mở mang kỹ nghệ và thương mại tại Sài Gòn Chợ Lớn ngày càng phát triển. Tư sản Pháp, tư sản Hoa kiều rồi tư sản người Việt bỏ vốn ra kinh doanh sản xuất, dịch vụ. Tiệm buôn, tiệm ăn mở ra ngày càng nhiều. Ngành điện, nước đã được phát triển trước tiên để phục vụ cho các công sở, cơ quan, nhà máy, nhà ở của bọn thống trị và một phần phục vụ cho sinh hoạt dân dụng của thành phố. Cuối thế kỷ XIX, tuyến đường sắt đầu tiên trên đất nước Việt Nam từ Sài Gòn đi Mỹ Tho được xây dựng và đưa vào khai thác để vơ vét lúa gạo vùng Cửu Long về Sài Gòn xuất khẩu. Trong những năm đầu thế kỷ XX, nhiều cầu cống, đường sá được xây dựng như cầu Bình Lợi, đường Sài Gòn Bà Rịa, đường sắt Sài Gòn Nha Trang. Ngành xay xát lúa gạo là một ngành được quan tâm phát triển nhằm vơ vét lúa gạo xuất khẩu. Năm 1905, Sài Gòn - Chợ Lớn có tới 9 nhà máy xay, máy động lực mỗi cái tới bảy, tám trăm mã lực, vốn một cái từ 1,2 đến 1,5 triệu phơrăng, xay được hàng triệu tấn thóc và ba phần tư số thóc là do xay ở các nhà máy này. Lúc đầu thực dân Pháp không chú ý nên các nhà máy xay phần lớn nằm trong tay tư sản Hoa kiều. Về sau thấy dễ ăn, tư sản Pháp cũng lao vào ngành xay xát. Năm 1912, thành lập Công ty Pháp - Đông Dương mua bán và xay xát lúa gạo, có chi nhánh tại Sài Gòn là hãng Denis Frères. Các ngành chế biến đường, rượu, giấy, xà bông, dệt nhuộm... cùng lần lượt ra đời.

Sự phát triển công nghiệp và thương mại tại Sài Gòn Chợ Lớn kéo theo sự xuất hiện của các lớp dân cư mới. Đó là lực lượng thợ thuyền. Theo sự tính toán của Liên hiệp Công đoàn Thành phố Hồ Chí Minh thì số công nhân doanh nghiệp ở Sài Gòn Chợ Lớn năm 1929 có khoảng trên 25.000 người so với dân số Sài Gòn Chợ Lớn khoảng 317.000 người, chiếm tỷ lệ 7% dân số, một tỷ lệ khá cao lúc đó6. Nguồn gốc của những người thợ rất khác nhau. Một số ít là dân nghèo thành thị, số ít hơn được đào tạo trong các trường dạy nghề của thực dân Pháp, còn lại phần lớn là nông dân mất đất từ lục tỉnh lên. Thời đó, thực dân Pháp không đầu tư kỹ thuật hiện đại, vẫn sử dụng lao động thủ công vốn rẻ mạt ở thuộc địa. Tuy vậy, đối với các ngành cơ, điện thì một phần chúng phải đào tạo thợ, nhân viên kỹ thuật người bản xứ. Họ đi làm công cho các hãng, xưởng lớn với lương bổng đủ bảo đảm, nếu không thì hành nghề tự do bằng dịch vụ sửa chữa, lắp ráp, chế tạo phụ tùng, v.v.. Nhiều gara, đềpô mọc lên. Nhiều người từ đó ngoi lên thành chủ và trở thành tư sản bản xứ7.

Lên Sài Gòn hơn một năm, Tôn Đức Thắng đi lại quan sát, tìm hiểu khá nhiều nơi. Nhờ vậy, anh phân biệt và đánh giá Sài Gòn có bốn hạng người.

- Sài Gòn của bọn thống trị người Pháp. Bọn này có nhà cao cửa rộng, có đủ mọi tiện nghi sinh hoạt. Kể cả chơi bời ăn uống, giải trí cũng có nơi riêng. Những nơi đó có lính canh phòng cẩn mật, cấp người bản xứ ra vào kể cả đi ngang, ngó lâu cũng bị theo dõi. Kiểu cách đó cũng không khác gì ở Long Xuyên quê anh, khu bănggali, bể bơi, sân tennít dành riêng cho người Pháp ở bên Bình Đức cũng không ai được bén mảng tới. Vốn ghét Tây, anh cũng không mong muốn vào đó làm gì cả!

- Sài Gòn của giới công chức, thầy chủ. Đây là thế giới mà anh chú ý nhiều nhất. Bởi vì, theo thói thường mọi người đều khuyên anh đi vào thế giới đó. Thực ra, nếu muốn, anh cũng gia nhập vào thế giới đó không khó mấy. Sức học sẵn có, vào trường Sácsơlu Lôba ít năm ra thì trở nên "thầy" ngay. Vốn đã không thích nên càng quan sát anh càng thấy đa số hạng người này có nhiều cái khó ưa. Ngoài sự luồn cúi, nịnh bợ của họ, anh thấy thêm họ là lớp người lai căng, nói thì nửa tây, nửa ta, với dân lành thì họ cũng hống hách hơn cả chủ Tây. Tuy vậy họ cũng là những người đáng thương. Cũng có lúc họ bị chủ bợp tai, đá đít, bị chửi những câu rất thô tục. Vậy mà họ vẫn chịu được sao? Sau những ngày suy nghĩ, Tôn Đức Thắng dứt khoát không đi theo con đường "nhàn nhã, ấm thân" đó.

- Sài Gòn thương mại với những tiệm tạp hóa, tiệm ăn, nhà ngủ, tiệm rượu, tiệm hát... Đó là một thế giới ồn ào, náo nhiệt, hoạt động suốt ngày đêm. Nhất là trong Chợ Lớn, các tiệm buôn, tiệm ăn của người Hoa thì lại càng ồn ào hơn. Nhưng Tôn Đức Thắng đi học không phải để đi vào con đường thương mại. Anh quan sát, nhưng không bao giờ có ý nghĩ nào muốn vào con đường đi buôn để kiếm sống cả.

- Sài Gòn của người lao động. Đây là một thế giới đa dạng rất phức tạp. Đâu cũng thấy những người lao động gánh thuê, vác mướn không có việc nhất định, những ngươi làm phu xe kéo, xe lôi, xe ba gác... quanh năm làm cật lực mà vẫn không đủ ăn. Trong xã hội của những người lao động này, có những tay "anh chị" ngang tàng, bướng bỉnh, nói năng thô tục, sống nay không biết mai. Anh suy nghĩ mãi về hạng người này. Họ tập hợp em út lại, đành rằng có bênh vực nhau khi bị lính tráng ức hiếp nhưng rồi chính họ cũng bắt nạt lẫn nhau. Như vậy, ngẫm ra tập hợp để làm gì? Xét ra trong hạng người này, cuối cùng hay nhất là cuộc sống của người thợ. Thợ máy, thợ điện, thợ mộc, thợ hồ mỗi người có một nghề, sinh sống bằng chính nghề của mình. Người thợ làm ra cái gì cũng đều phải có đầu óc suy nghĩ, sang chế các dụng cụ theo ý muốn của mình. Trong các nghề thợ, Tôn Đức Thắng thích nhất là nghề thợ máy và thợ điện. Vậy làm Tôn Đức Thắng quyết tâm vào học nghề làm thợ.

Lên Sài Gòn, bắt đầu cuộc đời làm thợ, Tôn Đức Thắng đã đến ngay với giai cấp công nhân Việt Nam, lúc đó đang trong quá trình hình thành. Lúc đầu Tôn Đức Thắng đi làm công cho các gara, đềpô tư nhân. Năm 1910, anh vào làm công nhân cho hãng Cơrốp (Krupp) thuộc Sở Kiến trúc cầu đường và nhà cửa Sài Gòn. Với tư cách người thợ, Tôn Đức Thắng đã nhận thấy sức mạnh của thợ thuyền, chứng kiến sự bóc lột của bọn chủ đối với anh em công nhân. Vì vậy anh đã sớm có những hoạt động yêu nước, tham gia vận động anh em học sinh lính thủy bỏ học (năm 1909), anh chị em công nhân Sở Kiến trúc cầu đường và nhà ở Sài Gòn chống bọn chủ cai, ký, cúp phạt, đánh đập vô lý và đòi tăng lương (năm 1910). Năm 1912, Tôn Đức Thắng tham gia lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son và vận động học sinh trường Bá Nghệ Sài Gòn bãi khóa. Sự kiện lịch sử này in dấu ấn rất sâu đậm trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng.

Vào những năm chuẩn bị bước vào cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất khoảng từ năm 1911 1912 trở đi, để chuẩn bị cho chiến tranh thực dân Pháp đã ra sức bóc lột tài nguyên, nhân vật lực của nước ta và các nước thuộc địa khác. Ở các xí nghiệp công nghiệp, chúng ra sức bóc lột sức lao động của công nhân, buộc công nhân phải sản xuất nhiều hàng hóa vũ khí và thu nhiều lợi nhuận cho chúng. Từ năm 1911, ở trường Bá Nghệ Sài Gòn đã áp dụng chế độ học tập và làm việc thực tập 10 giờ một ngày dưới sự giám sát, quản lý chặt chẽ của thực dân Pháp. Thực tập thêm giờ, nhưng không được trợ cấp bồi dưỡng, trái lại học sinh làm hỏng sản phẩm lại phải bồi thường. Sự bất công đó đã được một số học sinh kể lại với Tôn Đức Thắng. Sẵn lòng căm ghét bọn thực dân Pháp, anh đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của học sinh trường Bá Nghệ đòi bọn chỉ huy nhà trường không được bắt làm thêm giờ, không được bóc lột sức lao động của học sinh, đòi phải giữ nguyên chế độ học tập, thực tập tám giờ một ngày như trước. Trước sự đấu tranh của học sinh, bọn chủ không những không sửa đổi "chế độ lao động thực tập" mà còn thẳng tay đàn áp những người chúng nghi cầm đầu, bằng cách báo cho mật thám bắt giam vào xà lim.

Việc đàn áp này đã "đổ thêm dầu vào lửa" làm cho học sinh càng phẫn uất, đồng loạt bỏ học, bỏ thực tập. Bọn thực dân được tin, một mặt lập tức tìm cách đe dọa khủng bố, mặt khác dụ dỗ học sinh không nên có hành động quá khích, nhưng học sinh trường Bá Nghệ đã được Tôn Đức Thắng hướng dẫn từ trước nên kiên quyết không chịu nếu bọn chỉ huy không chịu chấp nhận yêu sách của anh em và không chịu thả những anh em bị bắt, cho được trở lại nhà trường học tập bình thường.

Trước cuộc đấu tranh của học sinh Bá Nghệ, chính quyền thực dân ở Sài Gòn lệnh cho Giám đốc xưởng Ba Son đưa công nhân Ba Son sang làm thay cho học sinh nhà trường để kịp hoàn thành sản phẩm đúng thời gian. Nhưng công nhân Ba Son lúc này cũng đã được Tôn Đức Thắng báo tin và vận động từ trước nên không chịu đi làm thay. Trước hành động chống lệnh của công nhân Ba Son, chủ xưởng liền cho bắt một số thợ đấu tranh kiên quyết, đưa vào xà lim giam giữ. Lập tức cuộc đình công ở Ba Son nổ ra, toàn thể công nhân ở 11 xưởng trại nhất loạt bỏ việc và đưa ra các yêu sách:

- Phải thả ngay những người bị bắt và gọi công nhân đi làm.

- Không được hành hạ đánh đập công nhân trong khi làm việc.

Cuộc đình công của công nhân Ba Son tác động mạnh tới học sinh trường Bá Nghệ. Trường Bá Nghệ cũng nêu các yêu sách tương tự: phải thả ngay các người bị bắt để tiếp tục học tập, phải sửa đổi chế độ thực tập mới, không được bóc lột sức lao động của học sinh, chế độ mới về thực tập phải được quy định rõ ràng và công bố trước toàn thể học sinh...

Cuộc đình công của công nhân Ba Son và bãi khoá của học sinh trường Bá Nghệ Sài Gòn giành được thắng lợi. Quan chức Pháp ở hai cơ sở này đã phải đáp ứng những đòi hỏi của công nhân và học sinh.

Cuộc đình công năm 1912 là cuộc đấu tranh đầu tiên của công nhân Ba Son chống lại sức mạnh cường quyền của bọn tư sản thực dân, cùng với những cuộc đấu tranh, đình công khác của công nhân Sài Gòn và cả nước vào thời gian này, báo hiệu một thời kỳ mới của giai cấp công nhân Việt Nam, thời kỳ giai cấp công nhân đang chuyển mình từ một giai cấp "tự mình" đến một giai cấp "cho mình". Riêng với người thợ cơ khí Tôn Đức Thắng, thắng lợi của cuộc đình công bãi khoá này đã một lần nữa mang đến cho anh một niềm vui, một niềm tin vào sức mạnh của giai cấp thợ thuyền, giai cấp mà anh đã tự nguyện gia nhập ngay từ tuổi thanh niên khi một bước vào cuộc sống tự lập. Thắng lợi đó đã giúp Tôn Đức Thắng có thêm những kinh nghiệm bước đầu trong việc vận động đoàn kết tập hợp công nhân đấu tranh chống lại bọn tư bản thực dân8.

Những cuộc đấu tranh đầu tiên đó của giai cấp công nhân đã giành được thắng lợi và biểu lộ sức mạnh của lực lượng xã hội mới. Do đó, đã làm cho bọn thống trị phải lo lắng, hoảng sợ, vì đã đến lúc chúng "... phải cuốn gói ra đi, vừa vái chào dân tộc Việt Nam đã được hồi sinh bằng những cuộc bãi công''9.

Như vậy, rời quê hương lên Sài Gòn, Tôn Đức Thắng chọn con đường làm thợ và đến với giai cấp công nhân Việt Nam. Đây là bước ngoặt đầu tiên, kết hợp tư tưởng yêu nước với tư tưởng cách mạng, một kết quả hợp lôgíc, phù hợp với sự phát triển thế giới nội tâm của một người thanh niên có học, có khát vọng làm những việc hữu ích cho đất nước, dân tộc và nhân dân, đã có chí hướng thích lao động kỹ thuật, thích hoạt động khám phá, sáng tạo ngay từ thuở nhỏ.

Tuy nhiên, đứng trước một nền công nghiệp mới của tư bản phương Tây, muốn trở thành một người thợ lành nghề, được đào tạo chính quy và có điều kiện thực tập, tiếp xúc với máy móc, phương tiện kỹ thuật của nền công nghiệp tư bản, thì phải được theo học ở một trường cơ bản, chính quy. Với suy nghĩ đó, qua nhiều năm làm nghề tự do với một tay nghề khá thành thạo, đã có thể biết nghe, biết nhìn, biết phán đoán những chỗ hư hỏng của máy móc, đạt đến trình độ nghe tiếng máy chạy đã có thể biết máy hỏng hóc ở chỗ nào; cùng với trình độ tay nghề hơn người, Tôn Đức Thắng đã tích luỹ cho mình một vốn sống khá toàn diện, phong phú và quyết định vào học tại trường Cơ khí châu Á ở Sài Gòn (École des mécaniciens Aslatiques de Sai Gon), thường được gọi là trường Bá Nghệ Sài Gòn*.

Trường Bá Nghệ Sài Gòn được thành lập ngày 20-2-1906. Trường có nhiệm vụ đào tạo thợ cơ điện người bản xứ để làm việc cho các công xưởng của thực dân Pháp ở thuộc địa, thực hiện chương trình khai thác thuộc địa mà toàn quyền Đông Dương Pôn Đume đã đề ra. Học sinh tốt nghiệp trường này bắt buộc phải làm việc cho các hãng xưởng của Pháp, trước hết là tuyển vào làm cho hãng Arsenal de Sai gon (Xưởng Ba Son), ít nhất là ba năm, sau đó mới có thể tự do tìm chỗ làm khác. Quy định này mang tính bắt buộc. Nhà trường chiêu sinh mỗi khoá không quá 20 học sinh. Hiệu trưởng nhà trường là người Pháp có tên Emmanuel Rosel. Ông này đã giữ chức hiệu trưởng trong vòng hơn 33 năm từ khi thành lập trường. Trong nhà trường, bên cạnh các phòng học, lớp học, các mô hình, đồ dùng dạy học, còn có một xưởng máy đủ các ngành: điện, nguội, hàn, rèn, cơ khí... Học sinh, ngoài các buổi học lý thuyết, phải thực tập tại trường theo một chế độ bắt buộc. Trường Bá Nghệ là một kiểu trường vừa học vừa làm. Vì thế, nhà trường nhận việc sửa chữa, gia công các phụ tùng điện máy của tư nhân, của các hãng xưởng khác và cho học sinh thực tập ngay trên các máy đó. Học sinh có điều kiện thực hành, vận dụng lý thuyết, rèn luyện, nâng cao tay nghề. Chế độ lao động của trường Bá Nghệ hết sức nặng nề. Ngoài thời gian lên lớp nghe giảng, mỗi học sinh mỗi ngày còn phải đứng máy 5-6 giờ liền. Nếu học sinh nào vô tình hay cố ý làm hư hỏng, chậm trễ thì bị đánh dập, chửi mắng, cúp phạt hết sức hà khắc, ngặt nghèo. Cũng vì lý do này mà một số học sinh trong thời gian theo học rơi vào tình trạng thiếu đói, cùng quẫn.

Trong nhà Bảo tàng Cách mạng thành phố Hồ Chí Minh còn lưu giữ một cuốn sổ ghi chép danh sách những học sinh tốt nghiệp các khoá của trường Bá Nghệ. Ở trang 20, danh sách học sinh tốt nghiệp niên khoá 1915- 1917 dòng đầu tiên ghi:

1) Tôn Đức Thắng, Province: Long Xuyên. Date et lieu de naissance: 20 ans, An Hoà, Long Xuyên. Moyenne générale de l'examen: 1610.

Tôn Đức Thắng học ở trường Bá Nghệ theo chương trình hai năm, bắt đầu từ tháng 3 năm 1915 đến tháng 9 năm 191611.

Trong phòng truyền thống của nhà trường hiện nay còn nhiều hình ảnh, hiện vật giới thiệu một quãng trong cuộc đời thanh niên sôi nổi, đầy ý nghĩa của Tôn Đức Thắng khi anh còn học ở trường. Trong các hiện vật còn lại đáng quý nhất là một cái rương bằng gỗ đã có vài chỗ bị mọt đục thủng, có dòng chữ nắn nót, chân phương, rõ ràng "Tôn Đức Thắng" trên một miếng kẽm nhỏ gắn vào mặt trước. Đó là cái rương của Tôn Đức Thắng dùng đựng đồ dùng cá nhân thời theo học tại trường.

Trước khi vào học trường Bá Nghệ, Tôn Đức Thắng đã có một trình độ tay nghề thành thạo. Việc học tập và thực hành đối với anh không có gì khó khăn; anh có điều kiện giúp đỡ nhiều anh em khác trong lớp, trong trường. Khi làm thợ cũng như khi học ở trường Bá Nghệ, Tôn Đức Thắng đã cảm nhận được sức mạnh của thợ thuyền, nếu họ đồng lòng, dốc sức, liên kết và biết nương tựa, giúp đỡ lẫn nhau. Chẳng hạn, nếu không đoàn kết, thương yêu, đùm bọc nhau thì học sinh Bá Nghệ do Thắng cầm đầu không thể đấu nổi với du côn Đường Mới, Cầu Muối hoặc không có sự đồng lòng thì Thắng và các bạn học cũng không thể buộc tên giám đốc Rôden (Rosel) phải xin lỗi vì thái độ hống hách, đánh người vô cớ, v.v..

Đứng máy, sản xuất trên dây chuyền công nghệ, Tôn Đức Thắng thấy rõ mọi người có gắn kết chặt chẽ với nhau, việc của người này đều ảnh hưởng tới việc của người khác, một người nghỉ việc thì việc trước còn dở, việc sau khó hoàn thành. Nếu tất cả thợ thuyền đồng lòng trên dưới, nghe theo người cầm đầu, nghỉ việc thì nhà máy ngừng hoạt động. Bọn chủ sợ nhất công nhân đình công bãi khoá. Ngừng một giờ máy, nhiều sản phẩm không được làm ra, chủ sẽ bị thiệt hại rất nhiều. Vì thế, chủ vừa đánh chửi, đe nẹt, vừa mua chuộc, lấy lòng thợ. Thợ càng giỏi thì chủ càng ưa thích, càng có uy tín và vị trí cao trong anh em. Tôn Đức Thắng khi đó có một thân một mình nhưng lại là thợ giỏi, nên rất được chủ nể sợ, tín nhiệm. Sống gần gũi gắn bó mật thiết với nhau, Tôn Đức Thắng thấy được thông cảm với tình cảnh nhiều người quá đói rách, cực khổ. Một số người vợ yếu con đông, nhà cửa lụp xụp, áo quần rách rưới, họ làm việc cật lực, vất vả suốt ngày mà vẫn không đủ ăn, đủ mặc, không thể nuôi nổi vợ con, khi ốm đau càng túng bấn, quẫn bách. Thương và thông cảm hoàn cảnh gia đình của anh em, mỗi khi thấy ai bị đánh chửi, cúp phạt là Tôn Đức Thắng bứt rứt, khó chịu. Ở trường, lúc học thực hành, anh tận tâm chỉ vẽ cho anh em từng li từng tí, tránh những sai sót, hư hỏng. Với chủ, cùng lắm, không chịu nổi, anh mới phản đối. Khi đã phản đối thì hết thảy anh em cùng đồng tâm hiệp lực, đấu tranh đến cùng, đạt được yêu cầu, nguyện vọng mới thôi. Những kết quả thu được qua các lần phản đối hồi học ở Long Xuyên, ở trường Bá Nghệ đã củng cố thêm cho Tôn Đức Thắng nhận thức về sức mạnh đoàn kết đấu tranh của những người thợ, anh em học sinh.

Học ở trường Bá Nghệ không lâu, Tôn Đức Thắng đã bộc lộ năng khiếu tổ chức và vai trò của một thủ lĩnh. Về phẩm chất đặc trưng này của Tôn Đức Thắng khi học ở trường Bá Nghệ, Giáo sư Trần Văn Giàu viết: ''Lên Sài Gòn, làm một anh học trò nhỏ, nhỏ con và nhỏ tuổi Tôn Đức Thắng đã tỏ ra ngay là một cậu có năng lực tổ chức và tinh thần đấu tranh. Thắng hay bênh vực kẻ yếu, chống mọi sự hiếp đáp, mọi sự bất bình, tính tình hoà nhã vui vẻ, nên được các bạn mến, lại học giỏi… Lúc còn là học trò trường Bá Nghệ, anh Thắng, người nhỏ thó, cúp tóc "cua" (ngắn), nước da ngăm ngăm, biết tổ chức anh em có trật tự để quản lấy mình. Nhỏ nghe lớn, lớp dưới nghe lớp trên, cả trường nghe Thắng...

Tôn Đức Thắng thanh niên là như vậy đó: Tập hợp đứng mũi, chịu sào được tín nhiệm lắm. Khả năng thiên hướng và tài ba nhiều khi xuất hiện từ tuổi trẻ. Chẳng nghe Đinh Bộ Lĩnh tập hợp đám chăn trâu, bẻ bông lau làm cờ, tập đánh trận đó sao?''12.

Bước vào học trường Bá Nghệ với những hoạt động của năm thứ nhất là dấu ấn in đậm song toàn bộ cuộc đời là sự nghiệp của Tôn Đức Thắng. Đây có thể được coi là bước ngoặt thứ hai, bắt đầu thể hiện năng lực tổ chức thực tiễn, tinh thần đấu tranh kiên cường, không khoan nhượng chống lại mọi sự đè nén, áp bức, cường quyền, bạo hành của người thanh niên yêu nước Tôn Đức Thắng.

_____________

1. Tô Thành Tâm: ''Quê hương, đất nước, thời niến thiếu'', trong Ban Chấp hành Đảng bộ An Giang: Bác Tôn (1888-1980) – Cuộc đời và sự nghiệp, Nxb.Sự thật, Hà Nội, 1988, tr.11.

2. Theo lời kể của ông Tôn Văn Nhung 78 tuổi, em thứ tư của Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

3. Vũ Hoành (1873-1946), là người làng Thanh Liệt, huyện Thanh Toàn, tỉnh Hà Đông, tham gia Đông kinh Nghĩa thục bị Pháp bắt đày đi Cao Miên, hết hạn về quản thúc ở Sa Đéc.

4. Tô Thúc Tâm: ''Quê hương, đất nước, thời niến thiếu'', trong Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ An Giang, Bác Tôn (1888-1980) – Cuộc đời và sự nghiệp, Sđd, tr.13-14.

5. Trần Văn Giàu: ''Bảy ngọn núi An Giang trong cuộc đời trăm năm của cụ Tôn Đức Thắng'', trong Sở Văn hóa và Thông tin An Giang: Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888-1980), An Giang, 1988, tr.75.

6. Ban Sử Liên hiệp công đoàn Thành phố Hồ Chí Minh biên soạn: Công nhân Sài Gòn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1986, tr.22.

7. Tô Thành Tâm: ''Tuổi trẻ của Tôn Đức Thắng'', trong Ban Chấp hành Đảng bộ An Giang: Bác Tôn (1888-1980) – Cuộc đời và sự nghiệp, Nxb.Sự thật, Hà Nội, 1988, tr.26-28.

8. Lịch sử Xí nghiệp liên hợp Ba Son (1863-1998). Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1988, tr.91-95.

9. Dẫn theo: Lịch sử cận đại Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1988, tập IV, tr.133.

* Có một số sách viết, sau cuộc đấu tranh năm 1912, để tránh sự lùng bắt của thực dân Pháp, Bác Tôn "đã bị buộc phải cải trang và thay đổi tên, họ, trốn tránh trên một chiếc tàu thuỷ của Pháp đúng vào lúc mà cuộc bãi công của học sinh trường Bách Nghệ Sài Gòn và của công nhân Ba Son giành được thắng lợi. Từ ngày đó bắt đầu cuộc sống của tôi trên biển cả" (Côn Đảo - Ký sư và tư liệu: Ban liên lạc tù chính trị, Sở Văn hoá Thông tin và Nxb. Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1996, tr.197, Tôn Đức Thắng: Tôi đã tham gia cuộc khởi nghĩa Biển Đen, trong Sở Văn hoá và Thông tin An Giang: Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888 - 1980), An Giang, 1988, tr. 226.

10. Đặc san kỷ niệm 80 năm Trường kỹ thuật Cao Thắng. Tài liệu lưu hành nội bộ, xuất bản năm 1986, tr. 37-38 (Dịch: Tôn Đức Thắng, Tỉnh: Long Xuyên. Nơi và năm sinh: 20 tuổi, An Hoà, Long Xuyên. Điểm thi chung: 16)

11. Có một số sách khác viết: Tôn Đức Thắng vào học Trường Bá Nghệ năm 1906, tốt nghiệp năm 1910, ra làm thợ Ba Son và được tuyển thợ giỏi sang Pháp, nhưng không rõ năm nào (Lê Minh: Người thợ máy Tôn Đức Thắng, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1987).

12. Trần Văn Giàu, "Bảy ngọn núi An Giang trong cuộc đời gần năm của cụ Tôn Đức Thắng", Sở Văn hoá và Thông tin An Giang: Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888-1980), An Giang 1988, tr. 81, 82.