Chương II - THAM GIA CUỘC NỔI DẬY CỦA THỦY THỦ PHÁP Ở BIỂN ĐEN, BẢO VỆ CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA (1916 - 1920)

Cập nhật lúc 15h45  -  Ngày 12/10/2016

share facebookgửi emailin bài này

THAM GIA CUỘC NỔI DẬY CỦA THUỶ THỦ PHÁP

Ở BIỂN ĐEN, BẢO VỆ CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

(1916-1920) 

Tôn Đức Thắng học xong năm thứ nhất, sang năm thứ hai, do nhu cầu của chiến tranh, chính quyền thuộc địa Đông Dương ra lệnh lấy lính thợ. Tôn Đức Thắng bị động viên vào đợt giữa năm 1916, trong đội quân lính thợ, xuống tàu đi Pháp tháng 9-1916. Tháng 10, tàu đến cảng Mácxây, các tốp lính thợ được lệnh phân tán đi nhiều nơi. Tôn Đức Thắng được điều đến quân cảng Tulông ở miền Nam nước Pháp, bên bờ Địa Trung Hải, không xa Mácxây là mấy, bắt đầu nhận việc trên chiến hạm Phơrăngxơ (France) trong hạm đội lênh đênh trên biển. Mọi nhu cầu về vũ khí, lương thực, chất đốt .. đều có tàu từ đất liền tiếp tế ra.

Từ đây, Tôn Đức Thắng bắt đầu sống cuộc đời anh thợ (công nhân quốc phòng), tổ chức và kỷ luật như quân nhân, chỉ có khác người lính chiến là không mang vũ khí, mà làm công việc của người thợ máy.

Cuối năm 1916 trở đi, chiến tranh ngày càng mở rộng, ác liệt đòi hỏi người lính thợ phải làm việc căng thẳng hơn, kỷ luật hơn. Mọi thông tin tới họ đều phải qua kiểm duyệt của cơ quan nhà binh, gần như cách biệt với xã hội bên ngoài về mọi biến động chính trị, tư tưởng. Mọi tin tức của quê hương, đất nước đều không đến được với Tôn Đức Thắng.

Là một công nhân người thuộc địa, Tôn Đức Thắng bị phân biệt đối xử của bọn sĩ quan kỳ thị chủng tộc. Trong công nhân quốc phòng không có tổ chức nghiệp đoàn như bên ngoài, nên họ chưa có ý thức giai cấp và đấu tranh chính trị. Nhưng với điều kiện lao động và sinh hoạt chung, trong họ có tinh thần thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau một cách rất tự nhiên như một bản năng xã hội. Tôn Đức Thắng hoà vào cuộc sống của những người lao động Pháp trong cùng một công xưởng, không phân biệt chủng tộc, quốc gia, thiếu tình cảm quê hương, đất nước, nhưng lại được sưởi ấm bằng tình đồng nghiệp mang tính quốc tế.

Chiến sự diễn ra quyết liệt, nhưng không lan đến miền Nam nước Pháp, công xưởng nơi Tôn Đức Thắng làm việc rất ổn định, tuy vẫn mang hơi thở của chiến tranh, bốn bề sóng biển dồn dập ngày đêm.

Tháng 2-1917, chính quyền Nga hoàng sụp đổ, kích thích phong trào cách mạng vô sản trong nước phát triển mạnh mẽ. Ngày 7-11-1917, Cách mạng xã hội chủ nghĩa bùng nổ, lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và địa chủ, thiết lập chính quyền Xôviết.

Theo đề nghị của Lênin, Đại hội các Xôviết quyết định ban hành Sắc lệnh hoà bình, xoá bỏ mọi hiệp nghị chiến tranh do Nga hoàng ký, lên án chiến tranh được xem là phương tiện giải quyết các quan hệ phức tạp giữa các quốc gia, tố cáo “tội ác lớn nhất chống lại loài người; đề nghị các dân tộc và Chính phủ trên toàn thế giới mở ngay nhưng cuộc thương thuyết để lập lại một nền hoà bình, công bằng và dân chủ không có điều kiện".

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là một nhân tố quan trọng thúc đẩy đấu tranh của quần chúng chống chiến tranh, chống chủ nghĩa tư bản, đẩy chiến tranh thế giới đi vào thời kỳ cuối, mau kết thúc.

Chính quyền đế quốc hiếu chiến xuyên tạc tính chất và ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười, chống lại Sắc lệnh hoà bình và chính quyền. Nhưng sự thật chính nghĩa dần dần sáng tỏ. Phong trào ủng hộ Chính quyền Xôviết của công nhân, nhân dân lao động và binh lính các nước đã hình thành và mở rộng.

Ở Pháp, tâm trạng chán ghét và thù địch với chiến tranh lan rộng. Thư của binh lính thường được đăng trên báo La Vague (Ngọn sóng), tờ báo có xu hướng hoà bình, phát hành với số lượng rất lớn (30 vạn bản), được phổ biến khắp cả nước, kể cả lưu hành bí mật trong quân đội, kích thích những cuộc phản kháng của binh lính, đòi hoà bình lên án chủ nghĩa tư bản và đặt niềm tin, hy vọng vào Chính quyền Xôviết.

Ngày 2-11-1917, những trí thức tiến bộ bậc nhất của nước Pháp lập ra Hội cựu chiến binh (ARAC) tập hợp các cựu chiến binh, những nạn nhân của chiến tranh, cùng với các tổ chức chính trị và nghiệp đoàn chống chiến tranh đế quốc và các phần tử phản động ủng hộ chính quyền theo đuổi chiến tranh.

Đã đến lúc phe chủ chiến đứng đầu là đế quốc Đức thất bại nặng, buộc phải đầu hàng phe Đồng minh không điều kiện, ký Hiệp nghị đình chiến ngày 11-11-1918.

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các đế quốc Anh, Pháp, Mỹ bàn liên minh tiêu diệt nước Nga Xôviết bằng vũ trang can thiệp, ủng hộ các thế lực phản cách mạng tư sản và địa chủ đã bị lật đổ, âm mưu khôi phục lại chính quyền; đồng thời trao đổi ý kiến về việc chia nhau thuộc địa và bồi thường chiến tranh của các nước thua trận cho các nước thắng trận, tiến tới Hội nghị Vécxây, ký kết Hiệp nghị vào ngày 28-6-1919.

Ngày 27-10-1918, sau ngày bùng nổ Cách mạng Tháng Mười Nga vừa được một năm và những tín hiệu về một cuộc đình chiến sắp tới đã báo, Thủ tướng Pháp Clêmăngxô ra lệnh điều động chiến hạm, phối hợp với các nước đế quốc khác bao vây, bắn phá vào thành thị và làng mạc Nga trên bờ biển Ôđétxa và Xêvátxtôpôn thuộc Ucơraina theo thoả ước ký giữa Clêmăngxô và Minnơ ở Pari, 6 tuần sau Cách nạng Tháng Mười.

Binh sĩ và công nhân trên các chiến hạm mong chiến tranh kết thúc sẽ sớm được trở về với xưởng máy, đồng ruộng, với gia đình. Nhưng cuộc chiến tranh này kết thúc lại bắt đầu một cuộc chiến tranh khác, từ chiến sự diễn ra trên đất Pháp nay lại mang quân đi xa đánh nhau, nhất là nước đó đã tự rút ra khỏi cuộc chiến sớm nhất, làm cách mạng thắng lợi, nên mọi người đều chán nản, bất mãn.

Từ cuối tháng 12-1918, những tờ báo theo xu hướng hoà bình, như L’Humanité, Le Populaire, Le Journal du people, La Vague... đăng những bài bình luận thời sự, đưa tin chống chiến tranh và hô các khẩu hiệu: ''Đả đảo chiến tranh với Nga!", "Không một xu, một người cho chiến tranh với Nga!".

Theo mệnh lệnh, các hạm đội Pháp lên đường ngày 8-12-1918. Tàu Phơrăngxơ (France) đi trong đội hình tiến đến Xêvátxtôpôn. Ở đây, ngày 16-12-1917, Chính quyền Xôviết đã thành lập; tháng 3-1918, Đức chiếm; đến tháng 11-1918, Anh, Pháp, Hy Lạp chiếm.

Trong hai ngày 27 và 29-l2-1918, Nghị viện Pháp họp tranh luận sôi nổi giữa phái chủ trương tiến hành chiến tranh với Nga và phái kịch liệt phản đối (trong đó, hăng hái nhất là M.Caxanh, A.Blăng, E.Laphông, Bơridông).

Trong khi xuống tàu viễn chinh, trạng thái tinh thần quân đội các nước đế quốc đã xấu đi nhanh chóng. Nói riêng quân đội Pháp, như trung đoàn 4 và 8 thuộc địa được lệnh đi Salôníchcơ ở bán đảo Bancăng, trên bờ biển Êgiê đã dự nhiều cuộc biểu tình chống chiến tranh. Thời hạn đi phương Đông là 18 tháng, nghe nói khí hậu nóng lạnh bất thường khác xa Pháp sẽ ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ, làm cho những người chỉ huy rất lo; thêm vào đó là những cuộc tuyên truyền miệng và truyền đơn phản chiến, ủng hộ cách mạng Nga. Những người chỉ huy hiếu chiến tuyên truyền xuyên tạc về Đảng Bônsêvích Nga là tổ chức của những tên kẻ cướp, tên tù phạm được phóng thích hoạt động khủng bố, cướp bóc, gây tai hoạ, cho nên quân đội Pháp và các nước đồng minh đến sẽ mang lại bình yên cho nhân dân. Đồng thời, chúng thẳng tay đàn áp những người không tuân lệnh, cảnh cáo, bắt giam. Báo L’Humanité ngày 22-1-1919 đưa tin: anh lính bộ binh Giăng Mianlari thuộc trung đoàn 21 thuộc địa bị bắn chết vì đã dũng cảm chống lệnh.

Hành động phản chiến từ cá nhân, đến nhóm nhỏ và cả một tập thể đông đảo, trước hết là trung đoàn 58 bộ binh ngày 2-2-1919, vận động được hai trung đoàn sơn pháo cùng đấu tranh. Bộ chỉ huy quân đội Pháp phải huỷ bỏ lệnh tiến đánh các đơn vị quân đội Xôviết ở Tiraxpôn, thuộc Mônđavi, theo kế hoạch đã định.

Giữa tháng 3-1919, Ôđétxa và Xêvátxtôpôn bị bọn phản cách mạng chiếm. Ngày 6-4-1919, những người Bônsêvích tổ chức cho Hồng quân tiến vào giải phóng.

Đoàn chiến hạm Pháp có Đô đốc hạm Giăng Ba (Joan Bart), tàu chiến Phơrăngxơ (France), Đuy Sayla (Duchayla)... vượt qua Địa Trung Hải, biển Êgiê, eo biển Đácđanen (Dardanelles) nằm giữa lãnh thổ hai nước Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ tiến vào Biển Đen. Đoàn tàu hướng vào Xêvátxtôpôn, ngày 15-4-1919 đến nơi quy định.

Sáng ngày l7-4, qua đêm, đến sáng ngày 18-4, tàu Phơrăngxơ nhả những loạt đạn pháo 140mm và 305mm xuống nhà cửa, phố xá, nơi Hồng quân chiếm giữ ở Xêvátxtôpôn. Cùng với tàu Phơrăngxơ (France) là tàu Giăng Ba (Jean Ban) và Vécnhiô (Vergmaud) cũng phối hợp bắn pháo suốt ngày 17 đến 5 giờ sáng ngày 18-4.

Binh sĩ công nhân trên chiến hạm biểu thị sự phẫn nộ trước hành động hiếu chiến điên cuồng, bàn nhau chống lại. Một số người đưa ra ý kiến bắt bọn sĩ quan chỉ huy ném xuống biển. Họ hô các khẩu hiệu: ''Ngừng chiến, không can thiệp vào nước Nga!", "Trở về Pháp!". Bọn sĩ quan thấy tình hình không bình thường, đã cảnh giác và kiên quyết đối phó. Chúng ra lệnh bắt giam một số người chống đối mạnh mẽ nhất, như Uynlơmăng, Đơlaruy, Côettơ, Xôsu, làm cho không khí bất bình càng tăng.

Ngày thứ bảy, 19-4-1919, tàu Phơrăngxơ (France) nhận được lệnh vào lúc 15 giờ ngày 20-4-1919 phải xếp lên tàu 700 tấn than, khi đó đang đậu phía sau Đô đốc hạm Giăng Ba, bên cạnh các tàu Vécnhiô và Đuysayla.

Ngày 20-4-1919 là chủ nhật và cũng là ngày lễ phục sinh (Pâques) của Đạo Thiên chúa, theo quy định hằng năm mọi người đề nghị được nghỉ làm việc.

16 giờ 30 phút, sau khi nhận lệnh 1 giờ 30 phút, vào lúc hạ cờ hằng ngày, trong hàng ngũ binh sĩ đang tập hợp có 18 người trên tàuPhơrăngxơ (France) từ chối ngả mũ chào cờ và kêu gọi: "Tất cả những ai không muốn vác than ngày mai thì lên bãi biển trước".

Suốt bữa ăn chiều, binh lính trao đổi sôi nổi.

19 giờ 40 phút, thuỷ thủ họp mặt trên bãi biển, cất tiếng hát đồng thanh bài Ôđétxa. Tên quan ba rút súng ngắn bắn anh lính Lulenơ làm cho không khí căng thẳng hơn, họ lại đồng thanh hát bài Quốc tế ca. Bọn chỉ huy bất ngờ, hoang mang sợ bị hành hung, rủ nhau lui về phía sau bãi, tay cầm vũ khí, sẵn sàng đánh trả, nhưng không dám tiến công trước.

Hai bên tranh luận to tiếng. Có tiếng kêu ''Hãy cầm vũ khí!". Số khác kịp thời ngăn lại, nói to: ''Chúng ta không muốn đổ máu?''.

Trong lực lượng chống bọn chỉ huy, công nhân quốc phòng tỏ ra mạnh mẽ hơn, nhất trí hơn thuỷ thủ.

Khoảng 20 giờ 30 phút, một số được cử đi mở cửa các phòng giam cho đồng đội của họ ra, trở về đội ngũ. Những khẩu hiệu phản chiến: "Trở về Tulông tức khắc!", "Không chiến tranh với Nga!" liên tục vang lên, át cả sóng biển.

8 giờ sáng ngày 20-4, binh lính và công nhân trên chiến hạm Phơrăngxơ và đô đốc hạm Giăng Ba cùng nhau tổ chức một cuộc mít tinh và biểu tình lớn trên bãi biển, ngay trước mũi chiến hạm.

Họ đưa ra bản yêu sách 9 điểm:

1. Không khuân vác than ngày 20 và cả ngày 21.

2. Chấm dứt can thiệp vào Nga và trở 1ại Pháp.

3. Cho thuỷ thủ nghỉ phép (gần 19 tháng không có phép).

Giảm kỷ luật căng thẳng, cải thiện đời sống, cho nhận thư thường xuyên, v.v..

Họ lên án: chiến tranh với nước Nga là chống lại Hiến pháp; Thủ tướng Clemăngxô vi phạm Hiến pháp!

Giờ này cũng là lúc chào cờ hàng ngày. Nhưng lúc này, không có cờ ba sắc kéo lên như mọi ngày, mà thay vào đó là một lá cờ đỏ cùng với bài Quốc tế ca trầm hùng nổi lên, phá tan không khí nặng nề. Mọi người hướng về lá cờ đỏ chào mừng những người anh em Nga anh hùng.

Lá cờ đo được kéo lên trên chiến hạm Phơrăngxơ lúc 8 giờ sáng ngày 20-4-1919 là do Tôn Đức Thắng cùng với những người bạn còn lại trên tàu tiến hành.

Về sự kiện này, trong bài Tôi đã tham gia cuộc khởi nghĩa Biển Đen, đăng trên báo Người thuỷ thủ Xôviết nhân kỷ niệm lần thứ 40 Cách mạng Tháng Mười, Tôn Đức Thắng viết: ''Đêm sau đó, tuần dương hạm vượt qua eo biển Đácđanen. Bầu không khí trên tàu căng thẳng hơn. Một vài đồng chí hô hào thuỷ thủ họp mít tinh để thanh toán bọn chỉ huy. Họ đã bảo tôi: "Họp mít tinh, cậu hãy kéo cờ đỏ lên, để cho người Nga biết rằng chúng ta là bạn, không phải là thù''. Tôi vui vẻ nhận lời. Vào lúc rạng đông, tuần dương hạm tới Biển Đen. Kèn tập hợp vang lên đó là kèn tập hợp thông thường của thuỷ thủ. Song lần này, kèn đã vang lên không phải do lệnh của Bộ chỉ huy, và giờ đây, cờ đỏ đã được giương lên"l.

Đây là bước ngoặt thứ ba trong cuộc đời cách mạng của Tôn Đức Thắng, thể hiện ý thức và định hưởng chính trị trong cuộc đời đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Các tàu neo đậu gần đó nghe tiếng reo hò và nhìn thấy cờ đỏ từ tàu Phơrăngxơ cũng sôi lên. Họ cử đại biểu đến gặp bọn chỉ huy đưa yêu sách đều bị từ chối và nghe lời đe doạ. Tức thì, các đại biểu kêu gọi binh sĩ và công nhân tỏ rõ thái độ. Một lá cờ mới đã được chuẩn bị, liền kéo lên trên cột cờ của đô đốc hạm Giăng Ba (Jean Bart), đồng thời với bài Quốc tế ca là những bài hát khác nối tiếp nhau vang lên. Hai trăm người đứng thành hàng rào bảo vệ lá cờ đỏ này, không cho bọn chỉ huy gỡ xuống để mọi người được chiêm ngưỡng thoả thích, cho những người bạn Nga trên đất của họ nhìn thấy sự ủng hộ của các bạn Pháp từ chiến hạm.

Nguyện vọng hoà bình đã ăn sâu, lan rộng trong binh sĩ và công nhân trên các chiến hạm; noi gương tàu Phơrăngxơ phất cờ đầu, các chiến hạm Vonte ở Bidéctơ, ngư lôi hạm Ghisen ở Itêa, chiến hạm Prôvăngxơ (Provence) và Oanđéc Rútxô, v.v. cũng nổi lên phản chiến.

10 giờ ngày 21-4-1919, tàu Phơrăngxơ được lệnh rời Xêvátxtôpôn quay mũi trở về Pháp, 16 giờ đến Côngxtantinôpơlơ (Constantmople), thuộc Thổ Nhĩ Kỳ...

Ngày 19-11-1920 Xêvátxtôpôn được Hồng quân giải phóng, sau hai tháng bị quân bạch vệ chiếm lại.

Các tàu khác cũng nối đuôi nhau ra khỏi Biển Đen, trở về Pháp với sự phá sản của âm mưu bóp chết nước Nga Xôviết của tập đoàn đế quốc chủ nghĩa trong đó có đế quốc Pháp.

Nguyên nhân của tình hình này, trước hết là bởi tinh thần đấu tranh cho hoà bình, chán ghét chiến tranh của binh sĩ Pháp, dẫn tới những cuộc phản chiến, chống đối mệnh lệnh của bọn chỉ huy hiếu chiến mù quáng; các tổ chức chính trị, xã hội, các báo chí tiến bộ Pháp cổ vũ cho cuộc đấu tranh vì hoà bình, phản đối chiến tranh với nước Nga cách mạng, được đông đảo nhân dân đồng tình, hưởng ửng, làm hậu thuẫn.

Mặt khác, hoạt động của những người cộng sản Pháp ở Nga và những người Bônsêvích Nga làm công tác binh vận trong quân đội Pháp có một tác dụng lớn. Gian Labuốcbơ (Jeanne Labourbe), người nữ chiến sĩ cộng sản Pháp, sáng lập nhóm cộng sản Pháp ở Mátxcơva từ năm 1918, lãnh đạo công tác binh vận đến công tác ở vùng có quân Pháp, Anh chiếm giữ, bị Pháp bắt ở Ôđétxa cùng với 10 chiến sĩ nữa (5 nam, 5 nữ) đã hy sinh anh dũng trước loạt đạn của bọn sĩ quan Pháp. Đài phát thanh Mátxcơva phát trên làn sóng điện các thư tiếng Pháp, Đức, Anh vào các buổi sáng đến với các thuỷ thủ trên Biển Đen. Nội quy cấm ngặt nghe đài phát thanh Nga Xôviết, nhưng không dập tắt được những buổi nghe bí mật, nhờ vậy tin tức lan truyền đi trong nội bộ.

Những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc bất thường trên đường phố giữa những người Bônsêvích Nga và thuỷ thủ Pháp, từ đó nảy sinh tình anh em hiểu biết lẫn nhau, về nguyện vọng hoà bình, tinh thần ủng hộ cách mạng Nga và Nhà nước Xôviết.

Tất cả những nhân tố trên tác động cùng chiều là nguyên nhân đưa đến phá vỡ cuộc vũ trang can thiệp của đế quốc Pháp vào nước Nga và dẫn tới kết thúc nhanh chóng cuộc tiến công của các nước đế quốc đồng minh Anh, Pháp vào Nga. Cách mạng Nga kiên cường, quyết bảo vệ mình, chống kẻ thù đến cùng đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của tinh thần quốc tế cao đẹp.

Để trừng phạt những cuộc nổi dậy, Chính phủ Pháp ra lệnh bắt hàng loạt, đưa ra xét xử trước toà án quân sự về tội chống mệnh lệnh.

Đô đốc Amê có lần nói: tàu Phơrăngxơ có 200 tên hạnh kiểm xấu, khi trở về đến Tulông hắn ra lệnh bắt 33 người, trong đó 5 thợ máy, 2 công nhân học nghề, 1 tổ trưởng thợ điện, còn lại là thuỷ thủ các loại, giam và chờ ngày xét xử trước toà án. Ngoài ra, còn một số khác rất đông bị các hình thức kỷ luật khác theo điều lệnh nhà binh.

Những tổ chức tiến bộ, hoà bình và nhân đạo, những trí thức tiêu biểu của nền văn minh Pháp cùng nhau ra lời kêu gọi nhân dân Pháp kịch liệt lên án hành động quân phiệt của Chính phủ và bọn sĩ quan hiếu chiến. Họ tổ chức các Uỷ ban bảo vệ những người tham gia cuộc nổi dậy ở Biển Đen làm cho giới cầm quyền phải chùn tay.

Ăngđơrê Mácty, kỹ sư cơ khí, 34 tuổi, làm trên tàu phóng lôi Pơrôtét chạy từ Galát vào Ôđétxa, bắt tay với Hồng quân. Ngày 28-4-1919, Mácty bị bắt, được dư luận tặng danh hiệu "Anh hùng của cuộc nổi dậy ở Biển Đen". Ra toà ngày 5-7-1919 bị kết án 20 năm khổ sai, nhưng trước dư luận của đông đảo nhân dân Pháp, toà phải xét lại, giảm án, đến ngày l7-7-1923 Mácty được trả lại tự do, sau hơn 4 năm bị cầm tù.

*

*  *

Sự kiện cuộc nổi dậy của thuỷ thủ và công nhân Pháp ở Biển Đen tháng 4-1919 đã đi vào lịch sử nước Pháp, Anh và của cách mạng Nga vĩ đại và dư âm của nó còn vọng mãi với thời gian.

Sự tham gia của Tôn Đức Thắng vào sự kiện kéo cờ đỏ trên chiến hạm Phơrăngxơ ở Biển Đen rất có ý nghĩa. Bởi vì ông là người Việt Nam đầu tiên biểu thị tinh thần yêu nước bằng hành động dũng cảm của mình cùng đồng đội trực tiếp tham gia bảo vệ nước Nga Xôviết, con đẻ của Cách mạng Tháng Mười vào thời điểm rất quan trọng, làm thất bại âm mưu xoá bỏ nước Nga cách mạng của bọn đế quốc hiếu chiến.

Tuy vậy lúc bấy giờ một vài tờ báo chữ Pháp và chữ Việt vào hùa với nhau xuyên tạc sự kiện trọng đại đó, theo giọng điệu của bọn đế quốc và phản động quốc tế, chỉ được lưu hành trong một số công chức, quan lại cao cấp không có ảnh hưởng gì trong nhân dân, nhất là công nhân và nông dân.

Những tài liệu còn để lại cho biết ngay cả những người tiêu biểu cho tinh thần dân tộc chống chủ nghĩa thực dân như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường khi đó sống ở Pháp, trong không khí đấu tranh chính trị mạnh mẽ như thế, nguồn tin tức nhiều chiều cực kỳ phong phú cũng không có thái độ, chính kiến của mình.

Vào thời gian này, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Pháp, Người đã tích cực tham gia quyên tiền, vải truyền đơn lên án sự an thiệp của Chính phủ Pháp vào nước Nga Xôviết hoan nghênh Cách mạng Tháng Mười Nga2.

Việc kéo cờ đỏ chào mừng nước Nga Xôviết của Tôn Đức Thắng trên chiến hạm Phơrăngxơ là một vinh dự có ý nghĩa lịch sử quốc tế trong cuộc đời của Người và của nhân dân Việt Nam.

Năm 1957, đồng chí Tôn Đức Thắng viết: "Tôi tin rằng, bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào nhất là công nhân được tham gia vào những giờ phút lịch sử đó tại Biển Đen (Mer Noire) không thể hành động khác tôi, bởi vì yêu Tổ quốc và căm thù đế quốc, cũng có nghĩa là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù những kẻ chống lại Cách mạng Tháng Mười3.

Câu viết thật kiêm tốn, bình dị, rất tình cảm như con người của nhà cách mạng Tôn Đức Thắng, nhưng mang tính lý luận sâu sắc như một quy luật tự nhiên. Lịch sử đã sinh ra một con người – người công nhân cơ khí – có những nhân tố chủ quan đáp ứng được yêu cầu khách quan của thời cuộc, đó chính là Tôn Đức Thắng.

Trở lại quân cảng Tulông (Toulon) một thời gian, Tôn Đức Thắng nhận được quyết định giải ngũ, trở về Đông Dương. Anh mang theo tinh thần dân tộc kết hợp với tình cảm quốc tế cao đẹp của đồng đội, đồng nghiệp Pháp và những người Bônsêvích Nga, của Cách mạng Tháng Mười Nga, được hình thành trong thực tiễn sinh hoạt và đấu tranh, tiếp tục cuộc đời làm thợ, nhưng trên quê hương, đất nước mình, điều đó có ý nghĩa quan trọng hướng tới tương lai, trên các chặng đường cách mạng về sau của Người.

____________

1. Tôn Đức Thắng: "Tôi đã tham gia cuộc khởi nghĩa tại Biển Đen trong Chủ tịch Tôi Đức Thắng (1888-1980), An Giang, 1988, tr.248.

2. Xem: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Viện Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử (1890-1929), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.I, tr.86

3. Bài viết của đồng chí Tôn Đức Thắng nhân dịp kỉ niệm lần thứ 40 Cách mạng Tháng Mười, đăng báo Matrốt (Người thủy thủ, tiếng Nga)số 24, năm 1957.