Chương III - THÀNH LẬP CÔNG HỘI BÍ MẬT VÀ LÃNH ĐẠO CÁC CUỘC BÃI CÔNG CỦA CÔNG NHÂN SÀI GÒN - CHỢ LỚN (1920 - 1930)

Cập nhật lúc 15h45  -  Ngày 12/10/2016

share facebookgửi emailin bài này

THÀNH LẬP CÔNG HỘI BÍ MẬT VÀ LÃNH ĐẠO CÁC CUỘC BÃI CÔNG CỦA CÔNG NHÂN SÀI GÒN – CHỢ LỚN (1920-1930) 

1. Xây dựng cơ sở cách mạng và thành lập Công hội bí mật.

Sau vụ binh biến ở Hắc Hải ngày 20-4-1919, Tôn Đức Thắng buộc phải rời khỏi Hải quân Pháp, bị trục xuất khỏi nước Pháp và trở lại Sài Gòn thành phố vốn đã rất quen thuộc với anh. Do vị trí đặc biệt của nó, ngay từ đầu đánh chiếm nước ta thực dân Pháp đã biến Sài Gòn thành bàn đạp để xâm chiếm toàn bộ miền Nam bán đảo Đông Dương đồng thời biến nó thành cơ sở để khai thác xứ này. Ngày 13-5-1862, bản đồ Sài Gòn do đại uý công binh Côffin vẽ đã được công bố. Theo đó, một thành phố cho 50 vạn dân sẽ được xây dựng với các phố rộng 20 mét, cách bến tàu 40 mét. Tiếp đó, ngày 19- 5-1862, thực dân Pháp bán đấu giá công cộng 84 lô đất, chiếm 1/20 thành phố cũ (tiền thu được lên tới 102 ngàn đồng (khoảng 500.000 fr)l. Công việc xây dựng thành phố cũng bắt đầu từ đây. Trong hoàn cảnh đó, ở thành phố này bộ phận công nhân xây dựng ra đời sớm nhất sau đó là công nhân công nghiệp và công nhân giao thông. Còn trên quy mô cả nước, một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam ra đời sớm nhất là ở Sài Gòn. Qua cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, đội ngũ công nhân không những đông đảo thêm về số lượng mà còn tham gia phong trào giải phóng dân tộc với tư cách là một bộ phận của dân tộc. Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, từ năm 1901 đã viết: ''Sự phát triển của những đô thị lớn như Sài Gòn, Chợ Lớn làm nảy sinh một thứ vô sản thành thị và ngoại ô mà thái độ và hành động của họ làm cho số người Âu và giai cấp giàu có người bản xứ đều lo sợ một cách nghiêm trọng và có lý''2. Tôn Đức Thắng trở lại Sài Gòn đúng lúc cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp được đẩy mạnh. Nhiều nhà máy cũ được mở rộng về quy mô, nhiều nhà máy mới được xây dựng. Đội ngũ công nhân cũng vì vậy mà đông đảo thêm lên. Phong trào đấu tranh của công nhân trở nên thường xuyên hơn không còn là một hiện tượng hiếm gặp như trước nữa. Điển hình là cuộc đấu tranh của hơn 600 thợ nhuộm Chợ Lớn (tháng 11-1922). Cuộc đấu tranh này có tiếng vang lớn. Từ Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá cao vai trò và lực lượng của giai cấp công nhân Việt Nam: "Ở đâu giai cấp công nhân cũng bắt đầu giác ngộ về lực lượng và khả năng của mình'' và ca ngợi: ''Đây là lần đầu tiên, một phong trào như thế nhóm lên ở thuộc địa. Chúng ta hãy ghi lấy dấu hiệu đó của thời đại''3. Nhưng cũng phải thấy rằng các cuộc đấu tranh của công nhân Sài Gòn lúc đó vẫn nằm trong phạm trù "tự phát'', mang nặng tính kinh tế hơn là tính chính trị. Một vấn đề được đặt ra đối với phong trào công nhân Sài Gòn là cần phải có tổ chức. Đồng chí Tôn Đức Thắng, người công nhân ưu tú vừa được trở lại hoạt động trong môi trường cách mạng sôi nổi có nhiều thử thách, sẽ đứng gánh vác trọng trách đó.

Từ nước ngoài trở về, Tôn Đức Thắng đã mang về cho cách mạng Viêt Nam nói chung và  phong trào đấu tranh của công nhân, nhân dân lao động Sài Gòn nói riêng hai thứ quý giá: Thứ nhất, là tình cảm đối với Cách mạng Tháng Mười, ý thức được sự tồn tại của nước Nga Xôviết. Thứ hai, Tôn Đức Thắng tiếp nhận tư tưởng về mặt tổ chức của giai cấp công nhân qua các hình thức công đoàn ở các nước tư bản, đặc biệt là nghiệp đoàn ở Pháp. Mặc dù tình cảm đối với Cách mạng Tháng Mười mới chỉ có tính chất cảm tính, tự nhiên, mặc dù chưa đem về được quan niệm về tổ chức Đảng trong phong trào công nhân song đó đều là những vốn quý trong bối cảnh phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam vẫn đang trong tình trạng khủng hoảng đường lối.

Giữa lúc này, phong trào yêu nước đang diễn ra rất sôi động với nhiều tư tưởng, đảng phái khác nhau. Nhưng với sự hiểu biết ít nhiều lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp, với trải nghiệm qua trường đấu tranh của bản thân, Tôn Đức Thắng quyết định tiếp tục hướng hoạt động mà mình đã chọn từ 15 năm về trước khi còn là công nhân tham gia ủng hộ cuộc bãi công của học sinh trường Bá Nghệ Sài Gòn năm 1912: đi vào giai cấp công nhân.

Không được vào làm trong bất kỳ nhà máy, xí nghiệp nào của Pháp, Tôn Đức Thắng vào làm công nhân tại một hãng của người Đức có tên là Koff trên đường Sampanhơ (nay là đường Lý Chính Thắng). Vừa kiếm sống, Tôn Đức Thắng vừa tìm cách liên lạc với anh em công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp trong thành phố. Cũng vào thời điểm đó có cuộc bãi công, sau đó là mít tinh, biểu tình của thuỷ thủ mấy chiếc tàu neo đậu tại cảng Sài Gòn là Manvinhem, Ménès, Scharnhorst, Afénas, Néidenfels, Brisgaya, Đô đốc Can Têaum và Buenos Aires đòi tăng lương do giá sinh hoạt đắt đỏ. Chính quyền và chủ tàu không cho những người bãi công ở trên tàu, buộc họ phải mang đồ đạc lên bờ, với tính toán rằng không có chỗ ăn ở thì thuỷ thủ tất phải khuất phục. Nhưng không, anh em đã mượn được một nhà xe (garage) để ở, Hội viên chức bưu điện Sài Gòn hô hào nhân dân thành phố quyên tiền cho anh em, lập ''Uỷ ban bữa cháo cộng sản" (Comité de la soupe communiste). Ngày 18-8-1920, cuộc bãi công hoàn toàn thắng lợi. Những cuộc đấu tranh đó làm cho công nhân Việt Nam hiểu rõ vai trò quan trọng và sự cần thiết phải có tổ chức trong công nhân mới có thể đem lại quyền lợi thiết thực cho mình. Hơn ai hết, Tôn Đức Thắng nhận thức rõ yêu cầu đó. Vấn đề đặt ra là tổ chức công nhân như thế nào, hoạt động của nó ra sao trong điều kiện công nhân không có một chút quyền tự do nào, bất cứ một hoạt động yêu nước nào, một hoạt động chống đối nào bị phát hiện cũng đều bị đàn áp. Chính Tôn Đức Thắng đã là người bị chính quyền thực dân truy nã. Rõ ràng, tổ chức công nhân phải bí mật, thận trọng, hoạt động của tổ chức phải khôn khéo. Với lòng nhiệt thành yêu nước, tình đồng nghiệp và uy tín cao, đồng chí đã dần dần đoàn kết được anh em công nhân vào Công hội bí mật do mình tổ chức và lãnh đạo. Những cơ sở đầu tiên của Công hội được thành lập ở Cảng Sài Gòn, Xưởng Ba Son, Xưởng FACI, Nhà máy đèn Sài Gòn, Nhà máy đèn Chợ Quán, sau phát triển ra các cơ sở khác trong thành phố. Để gây quỹ hoạt động, Công hội giao cho Đặng Văn Sâm mở gara sửa chữa máy móc, xe hơi, đào tạo thợ trẻ và tìm hiểu phát triển hội viên trẻ. Công hội không có văn bản, điều lệ. Mục đích chính vẫn chỉ là để công nhân giúp đỡ nhau và đấu tranh bênh vực quyền lợi của người thợ. Việc Tôn Đức Thắng thành lập Công hội vào năm 1920 là một sự kiện rất có ý nghĩa đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí nói riêng và đối với phong trào công nhân cả nước nói chung. Đây là Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Điều đáng nói là nó rất phù hợp với hoàn cảnh một nước thuộc địa như nước ta. Ở các nước tư bản phương Tây, khi một quyền tự do dân chủ đã được thừa nhận, chỉ có công nhân là bị bóc lột và phải đấu tranh chống lại sự bất công đó thì thường các nghiệp đoàn được thành lập, tiêu biểu là ở Pháp. Các nghiệp đoàn lại thường do những người bên ngoài giai cấp công nhân lập ra, trong số đó có một số đã trở thành ''nghiệp đoàn vàng", phản bội lại quyền lợi của giai cấp công nhân. Phong trào công nhân vì thế mà bị chia rẽ sâu sắc. Trong tình cảnh nước ta, Tôn Đức Thắng không thành lập nghiệp đoàn công khai mà phải bí mật để tránh mọi sự đàn áp, khủng bố của kẻ thù. Công hội lập ra cũng không hoàn toàn chỉ có mục đích tương tế, nó đóng góp tích cực vào phong trào dân tộc và thực sự là một bộ phận của phong trào dân tộc. Tuy tiếp thu các hình thức tổ chức của công nhân từ phương Tây, song Công hội vẫn mang dấu ấn của con người Tôn Đức Thắng rất rõ. Một người cứng cỏi, có nghị lực, kiên quyết và yêu nước như anh không thể bị động bởi môi trường, không thể dễ dàng bị mua chuộc. Do vậy, Công hội bí mật không hề bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cải lương. Chưa hề được soi sáng bởi hệ tư tưởng của giai cấp công nhân mà chỉ đi lên từ thực tiễn xã hội thuộc địa, nhưng Công hội do Tôn Đức Thắng thành lập và lãnh đạo lại thật trùng hợp với lý luận về tổ chức Công hội mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đúc kết: ''Tổ chức công hội để làm gì? Tổ chức công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn lợi quyền cho công nhân; năm là để giúp cho công nhân, giúp cho thế giới...

Cách tổ chức công hội như thế nào? Tổ chức có hai cách, cách nghề nghiệp và cách sản nghiệp. Nghề nghiệp là ai làm nghề gì thì vào hội nghề ấy… Sản nghiệp là bất kỳ nghề gì, hễ làm một chỗ thì vào một hội...

Cách tổ chức bí mật thế nào? Khi hội được công khai, các tiểu tổ cũng phải giữ bí mật. Khi không được công khai, thì phải mượn tiếng hợp tác xã, trường học, hoặc câu lạc bộ (nhà xéc) vân vân, che mắt người ta. Ở Tàu, ở Nhật nhiều nơi thợ thuyền lập nhà bán nước, ngoài thì bán bánh bán nước, trong thì làm việc hội. Thợ thuyền vào uống nước ăn bánh và bàn việc; cho nên ma tà mật thám không làm gì được. Có nơi lại giả hội cúng tế hoặc hội chơi, vân vân để che cho công hội"4.

Điều này một lần nữa chứng tỏ ''thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý". Chính vì vậy, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, Công hội vẫn tồn tại và phát triển. Đến năm 1929, số hội viên đã lên đến 300 người, Ban Chấp hành gồm có:

1. Tôn Đức Thắng (thợ máy hãng Kroff), hội trưởng.

2. Nguyễn Văn Cân (thợ nguội hãng FACI), phó hội trưởng.

3. Nguyễn Mạnh (thợ vẽ nhà đèn), thư ký.

4. Đặng Văn Sâm (thợ tiện nhà đèn), thủ quỹ.

5. (Chưa biết tên), kiểm soát viên5.

2. Lãnh đạo phong trào công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn

Trong những năm tồn tại và hoạt động, Công hội đã lãnh đạo cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son (8-1925). Xưởng Ba Son là nhà máy lớn nhất của thực dân Pháp ở Sài Gòn lúc đó, có hơn 1.000 công nhân làm nhiệm vụ sửa chữa tàu chiến và tàu buôn. Thực chất, nó là một công binh xưởng đặt dưới sự chỉ huy của Hải quân Pháp. Ba Son chính là một chi nhánh của nhà máy Arsenal de Toulon thuộc Hải quân Pháp. Tôn Đức Thắng từng làm việc ở cả hai nơi này. Ba Son là xưởng duy nhất ở Đông Dương được hưởng chế độ làm ngày 8 tiếng, lương cũng cao hơn các xưởng khác và được nghỉ 30 phút vào ngày lĩnh lương đầu tháng. Nhưng đồng thời thực dân Pháp cũng ràng buộc công nhân bằng những luật lệ nghiêm ngặt như luật chống bãi công. Nhìn chung, vào thời điểm bấy giờ, điều kiện lao động ở Ba Son tốt hơn các nhà máy, xí nghiệp, phân xưởng của Pháp trên đất Việt Nam. Vào năm 1925, để đàn áp phong trào cách mạng ở Trung Quốc, thực dân Pháp điều động một đoàn tàu chiến gồm các tàu Misơlê (Michelet), Phery (Ferry), Menơ (Maine) sang Trung Quốc. Trên đường đi tàu Misơlê bị hỏng và được đưa vào xưởng Ba Son để sửa chữa.

Là người từng tham gia phản chiến trên Biển Đen để ủng hộ nước Nga Xôviết, Tôn Đức Thắng thấy cần ngăn chặn kế hoạch sửa chữa hoặc ít ra cũng làm chậm lại ngày nhổ neo của tàu Misơlê bằng cách vận động công nhân bãi công để ủng hộ phong trào cách mạng và phong trào công nhân Trung Quốc. Thế nhưng Ba Son là một nhà máy của quân đội, chế độ quản lý và tổ chức rất nghiêm. Vấn đề là phải tìm được cớ, trước hết là cớ kinh tế cho cuộc bãi công. Công hội Ba Son do Lê Văn Lưỡng phụ trách cho biết Ba Son vẫn có lệ là được nghỉ sớm 30 phút vào ngày lĩnh lương, nhưng từ khi kỹ sư Cuốcchian (Courtial) từ Pháp mới sang quản lý nhà máy thì lệ ấy bị rút xuống chỉ còn 15 phút. Công hội quyết định vin vào cớ đó để phát động cuộc bãi công.

Ngày 4-8-1925 là ngày lĩnh lương, công nhân đóng máy phản đối Cuốcchian và đòi vẫn nghỉ 30 phút như trước. Trước sự việc này, viên kỹ sư đã đuổi một số công nhân ra khỏi xưởng. Ngòi nổ đã được châm lửa. Sáng ngày 5-8-1925 công nhân họp míttinh đề ra ba yêu sách:

- Tăng lương đồng loạt 20%.

- Đưa những người bị sa thải trở lại làm việc.

- Giữ nguyên lệ cũ nghỉ từ 5 giờ chiều ngày lĩnh lương.

Bọn chỉ huy hăm doạ đuổi hết thợ, đóng cửa nhà máy. Đến ngày 11-8-1925, Thống đốc Nam Kỳ và Tư lệnh Hải quân Pháp gặp 4 đại diện công nhân, đe doạ sẽ đóng xưởng và sa thải toàn bộ, nếu công nhân không trở lại làm việc trong ngày 12-8. Công nhân lại đưa thêm yêu cầu chủ phải trả lương cả trong những ngày nghỉ bãi công. Cuộc bãi công vẫn tiếp tục. Báo chí Pháp đã đăng tải về sự kiện này với nỗi lo ngại sâu sắc. Tờ Impartial (Vô tư) xuất bản ở Sài Gòn, đã viết:

"Chúng ta biết rằng chiến hạm Michelet phải sang Trung Quốc để giúp việc bảo vệ các tô giới…

Hiện giờ cuộc bãi công Ba Son tiếp tục trong lúc chiến hạm của chúng ta cần được sửa chữa gấp rút.

Cuộc bãi công xảy ra trong lúc mà bạn đồng nghiệp La Quotidien (Nhật báo) bên Pháp báo tin rằng viên Chủ tịch quốc tế cộng sản vừa mới tuyên bố là: Ngày nay Trung Quốc đang nổi dậy, ngày mai tới phiên Đông Dương, Ấn Độ sẽ nổi dậy".

Nhiều báo thực dân đặt câu hỏi một cách đe doạ, xin chính quyền cứ đàn áp: hỏi rằng ở đất Sài Gòn đắt đỏ này, ai trả tiền, cấp gạo cho hơn 1.000 công nhân bãi công kéo dài? Báo thực dân nói rằng trông thấy bàn tay của Mạc Tư Khoa6.

Trong khi đó, Công hội vận động công nhân viên chức các công sở và các xưởng máy ở Sài Gòn Chợ Lớn hưởng ứng việc quyên góp tiền, gạo ủng hộ anh em Ba Son. Báo Chuông rè (La clocke fêlée) của Nguyễn An Ninh cũng vào cuộc. Sự ủng hộ đó đã tiếp thêm sức mạnh và cổ vũ tinh thần tranh đấu của những người bãi công Ba Son. Trước tinh thần đấu tranh kiên quyết của anh em công nhân và áp lực của quần chúng, giới chủ phải nhượng bộ và chấp nhận các yêu sách của anh em, chịu tăng lương 10% sau 9 ngày đấu tranh. Dưới sự lãnh đạo của Công hội, anh chị em công nhân đã đi làm trở lại nhưng tiếp tục bãi công để kéo dài thời gian sửa chữa tàu. Mãi đến gần 4 tháng sau, ngày 28-ll-1925, chiến hạm Misơlê mới được xuất xưởng, khi phong trào đấu tranh của công nhân và thuỷ thủ Trung Quốc đã kết thúc thắng lợi.

Cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son do Công hội của Tôn Đức Thắng tổ chức và lãnh đạo thực sự có ý nghĩa chính trị to lớn. Cuộc đấu tranh đã nổ ra dưới khẩu hiệu kinh tế nhưng nhằm một mục đích chính trị rõ rệt. Nó thể hiện ý thức đoàn kết giai cấp, ý thức đoàn kết quốc tế và tính tổ chức của giai cấp công nhân Việt Nam. Không có ý thức đoàn kết, không có tính tổ chức làm sao có thể lôi kéo hơn 1.000 công nhân đấu tranh trong khi họ đang được hưởng những điều kiện lao động tốt hơn những người khác. Riêng đối với bản thân Tôn Đức Thắng, từ việc tham gia cuộc binh biến ở Hắc Hải năm 1919 đến việc lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son năm 1925, tinh thần quốc tế của đồng chí đã được khẳng định rõ. Tiếng vang của cuộc bãi công đã vượt qua biên giới, đến với Đại hội lần thứ VI của Quốc tế Cộng sản (1928) khi Đoàn đại biểu của Đông Dương báo cáo trên diễn đàn Đại hội: "Công nhân Ba Son không chịu sửa chữa tàu Misơlê mà bọn đế quốc dùng để tàn sát nhân dân Trung Quốc''7.

Cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son không chỉ nói lên trình độ tự giác, trình độ tổ chức, tinh thần quốc tế vô sản của công nhân Việt Nam, uy tín của tổ chức Công hội và vai trò của Tôn Đức Thắng mà còn mở đầu cho một giai đoạn mới, đánh dấu sự chuyển biến của phong trào công nhân từ tự phát đi lên tự giác, từ "giai cấp tự nó" vươn lên trở thành "giai cấp cho nó". Đóng góp tích cực vào sự chuyển biến đó, không thể không nhắc đến vai trò của Tôn Đức Thắng, người công nhân ưu tú, người hội trưởng và lãnh tụ chân chính của giai cấp công nhân Sài Gòn Chợ Lớn lúc bấy giờ. Đánh giá vai trò của Tôn Đức Thắng đối với cuộc bãi công ở Ba Son nói riêng và phong trào công nhân đầu những năm 1920 nói chung, lão thành cách mạng Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định:

Giai cấp công nhân đã hiện diện trên chính trường, mà lạ thay và đẹp thay không một đảng quốc gia tiểu tư sản hay tư sản nào lôi kéo được, ở Bắc, ở Nam và nhất là Sài Gòn, các cuộc đấu tranh hồi 1924-1925 được ảnh hưởng trực tiếp của những người công nhân Việt Nam đã từng ở Pháp, chịu ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, của phong trào công nhân và công đoàn Pháp, tiêu biểu nhất là anh thợ máy Tôn Đức Thắng người đã từng tham gia binh biến Biển Đen năm 19198.

Mặt khác, xét trên một ý nghĩa nào đó, cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son đã vượt ra ngoài khuôn khổ lãnh đạo của một tổ chức Công hội mà chức năng chủ yếu chỉ là đấu tranh cho quyền lợi thiết thực hàng ngày của công nhân. Qua phong trào này thấy rõ công nhân đang muốn vươn tới một tổ chức cách mạng cao hơn. Đó là một đòi hỏi thực tế của phong trào công nhân Sài Gòn đặt ra lúc bấy giờ. Chính Tôn Đức Thắng sau này đã thừa nhận: "Anh em công nhân hồi ấy mong muốn có một tổ chức đấu tranh rộng rãi, lôi kéo được đông đảo quần chúng đấu tranh cách mạng"9. Thế nhưng, vào thời điểm đó ở trong nước chưa có tổ chức nào có được một cương lĩnh chính trị rõ ràng và đúng đắn một đường lối cách mạng thực sự chân chính đủ khả năng đưa phong trào giải phóng dân tộc đến thắng lợi cuối cùng. Tuy vậy, từ việc ra đời của Công hội bí mật đến việc Công hội lãnh đạo giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son vào tháng 8-1925 đã tạo ra bước ngoặt thứ tư trong cuộc đời cách mạng của Tôn Đức Thắng, làm nảy sinh và tăng cường sức mạnh nhờ tổ chức và tư tưởng chính trị theo khuynh hướng cách mạng vô sản.

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên trong lịch sử Việt Nam là cũng vào thời gian đó, Nguyễn Ái Quốc sau khi tìm thấy con đường cứu nước đã ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Để hoàn thành sứ mạng lịch sử đó, Nguyễn Ái Quốc cần một lực lượng có tinh thần cách mạng để “gieo mầm cộng sản" trong quần chúng nhân dân lao động. Tháng 6-1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc). Nhiệm vụ hàng đầu của tổ chức này là huấn luyện chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi rồi tung về nước tổ chức nhiều chi bộ theo nguyên tắc mỗi một hội viên mới được kết nạp vào hội phải trở thành một phần tử mới của một chi hội mới''. Tháng 10-1926, sau khi lớp huấn luyện khoá I kết thúc, một số đồng chí được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, 5 người được kết nạp vào Cộng sản Đoàn là Trần Phú, Nguyễn Văn Lợi, Phan Trọng Bình, Phan Trọng Quảng, Nguyễn Ngọc Ba. Các học viên được phân công về nước hoạt động. Sẵn có tình cảm tốt đẹp với phong trào công nhân Sài Gòn, nhận định Sài Gòn sẽ là một trong các trung tâm truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản trong nước, Nguyễn Ái Quốc cử Phan Trọng Bình và Nguyễn Văn Lợi về Sài Gòn gây dựng cơ sở.

Trở về nước, Phan Trọng Bình và Nguyễn Văn Lợi đã tìm hiểu các tổ chức yêu nước cũng như đời sống của các tầng lớp nhân dân và nhận thấy các tổ chức ở đây phần lớn có tính chất cải lương. Riêng tổ chức của Nguyễn An Ninh là có xu hướng cách mạng, song còn chưa có đường lối, đa số hội viên lại là địa chủ, tư sản và tiểu tư sản, những tay anh chị nghĩa hiệp và một bộ phận quần chúng nông dân nghèo. Tuy nhiên, đầu năm 1927, qua nhóm của Nguyễn An Ninh, các đồng chí đã tiếp xúc được với Tôn Đức Thắng.

Về phía Tôn Đức Thắng và một số anh em đồng chí, đã có cơ hội tiếp xúc với một số báo chí tiến bộ của Đảng Cộng sản và Tổng Công hội Pháp gửi sang như Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền. Từ năm 1922-1925, có các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc, bằng nhiều con đường được gửi về nước như Le Paria và Bản án chế độ thực dân Pháp. Tôn Đức Thắng cũng như nhiều thanh niên Việt Nam yêu nước lúc bấy giờ đều bị sức hấp dẫn mạnh mẽ bởi cái tên Nguyễn Ái Quốc. Theo lời Tôn Đức Thắng thì trong thời gian ở Pháp, đồng chí đã từng tìm gặp Nguyễn Ái Quốc mà không gặp được đồng chí ấy"10. Chỉ đến khi anh bắt liên lạc được với những thành viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên thì Công hội bí mật mới có những nội dung, phương hướng mới.

Như vậy, đầu năm 1927, tại Sài Gòn đã diễn ra cuộc hội ngộ giữa những người học trò của Nguyễn Ái Quốc đang đi tìm lực lượng để gây dựng cơ sở ở Nam Kỳ và Tôn Đức Thắng, người lãnh đạo phong trào công nhân Sài Gòn đang tìm kiếm đường lối mới. Phan Trọng Bình trong hồi ký của mình đã nhớ lại: "Chúng tôi tìm hiểu Bác Tôn, không dè chúng tôi lại trở thành đối tượng tìm hiểu của Bác"11. Ở Tôn Đức Thắng, Phan Trọng Bình và những người đồng chí của ông đã bắt gặp một người công nhân tiêu biểu cho giai cấp công nhân ở một nước thuộc địa, có ý thức giai cấp công nhân, đồng thời có ý thức dân tộc sâu rộng, có quyết tâm đấu tranh bất khuất, dày kinh nghiệm vận động công nhân, có ảnh hưởng trong giới thợ thuyền. Ngược lại, Tôn Đức Thắng cũng được gặp những thanh niên có hiểu biết nhất định về lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, có đường lối cách mạng mà Tôn Đức Thắng đang cần.

Năm 1927, Tôn Đức Thắng được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đến lượt mình, Tôn Đức Thắng đã giác ngộ hội viên Công hội của mình và kết nạp một số người vào Hội Thanh niên. Đây là bước ngoặt thứ năm trong cuộc đời cách mạng của Tôn Đức Thắng, vì từ đây Tôn Đức Thắng và Công hội bí mật thật sự hoạt động dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Như vậy tổ chức cách mạng mà Nguyễn Ái Quốc sáng lập đang cần lực lượng đã gắn được với tổ chức Công hội ở Sài Gòn, tổ chức nghiệp đoàn, một lực lượng xã hội chủ yếu để tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin. Có thể nói, trong tổ chức Thanh niên ở trong nước lần đầu tiên có công nhân tham dự. Đồng thời, Tôn Đức Thắng cùng Phan Trọng Bình lựa chọn người đi Quảng Châu dự các lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc mở. Trong lớp huấn luyện chính trị khoá III có 9 người từ Sài Gòn sang, thì có 5 người là hội viên Công hội: Trần Ngọc Giải (tức Thuận Hoà), quê ở Mỹ Tho; Trần Văn Hoa (tức Hoè), quê ở Mỹ Tho; Bùi Văn Thêm (tức Định), quê ở Tân Định (Sài Gòn) và Đặng Văn Sâm (tức Nhuận), quê ở Phú Nhuận (Sài Gòn). Sau khi học xong, họ đều trở lại Nam Bộ hoạt động. Theo hồi ký của Phan Trọng Bình thì ngoài nhóm công nhân ở Sài Gòn, Tôn Đức Thắng còn giới thiệu một số người khác ở Mỹ Tho có lòng yêu nước như cô Ba Viễn, một cô giáo có uy tín trong tỉnh. Cô Ba Viễn lại giới thiệu một số người, trong đó có chị Nguyễn Trung Nguyệt (tức Bảo Lương) và chị được giới thiệu đi học lớp huấn luyện chính trị khoá IV.

Có thể nói, vào thời kỳ đầu hình thành tổ chức cách mạng theo khuynh hướng vô sản tại Sài Gòn, những học trò của Nguyễn Ái Quốc đã dựa vào Công hội của Tôn Đức Thắng để gây dựng và phát triển tổ chức của mình. Nói cách khác, Công hội Sài Gòn những năm 1926-1927 thực sự là cơ sở cho sự hình thành và phát triển tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chẳng những ở Sài Gòn mà còn trên toàn xứ Nam Kỳ. Chính vì vậy, giữa năm 1927, khi số lượng hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Sài Gòn đã tăng lên tương đối (30 người so với số hội viên ở một số địa phương khác như Hà Nội: 40 người, Nam Định: 40 người, Nghệ Tĩnh: 30 người, Thái Bình: 20 người, Quảng Nam: 15 người, Hải Phòng và Hà Bắc; mỗi nơi 10 người)12; một số học viên dự lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu như Phạm Văn Đồng, Phan Trọng Quảng, Nguyễn Ngọc Ba… được cử về Nam Bộ tăng cường thêm cho đội ngũ lãnh đạo ở đây thì Kỳ bộ Nam Kỳ đã được thành lập. Buổi đầu tham gia Kỳ Bộ gồm các đồng chí Phan Trọng Bình, Nguyễn Văn Lợi, Tôn Đức Thắng, Ngô Thiêm, Nguyễn Văn Pháp... do Phan Trọng Bình làm Bí thư, đồng chí Tôn Đức Thắng được cử làm Uỷ viên Ban Chấp hành Kỳ Bộ. Sau đó mới tiến hành thành lập các Tỉnh bộ. Tại Sài Gòn, Thành bộ cũng được ra mắt do Tôn Đức Thắng làm Bí thư. Đến năm 1929, toàn Nam Kỳ đã có 19 cơ sở chi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Từ năm 1927, Kỳ bộ Nam Kỳ đã nhận được báo Thanh niên, cuốn Đường Kách mệnh, cuốn Vỡ lòng chủ nghĩa cộng sản và nhiều tài liệu mácxít khác bằng tiếng Pháp. Đầu năm 1928, dựa vào những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc và các tài liệu mácxít. Kỳ bộ và một vài Tỉnh bộ đã mở các lớp huấn luyện, bồi dưỡng chính trị ngắn ngày cho các hội viên mới. Kỳ bộ xuất bản tạp chí Bônsêvích và báo Công nông binh do Phạm Văn Đồng và Nguyễn Kim Cương phụ trách. Từ năm 1929, để thực hiện chủ trương "Vô sản hoá'', Kỳ bộ đã đưa những hội viên của mình vào hoạt động bí mật trong các nhà máy, xí nghiệp như Ngô Gia Tự hoạt động tại bến cảng, Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt ở xưởng Faci, Phan Trọng Quảng trong xưởng kéo xe... Với những hoạt động tích cực đó, Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã biến tư tưởng cách mạng mới thành một khuynh hướng chủ đạo đối lập với hệ tư tưởng thực dân phong kiến trong đời sống chính trị, tư tưởng của nhân dân Sài Gòn và Nam Bộ, đẩy phong trào công nhân Sài Gòn tiến lên những bước mới.

Dưới sự lãnh đạo của Kỳ bộ Nam Kỳ, trong đó có sự đóng góp của Tôn Đức Thắng, phong trào công nhân Nam Kỳ phát triển mạnh mẽ. Trong tổng số 57 cuộc đấu tranh của công nhân cả nước trong những năm 1926- 1928 thì đa phần là những cuộc đấu tranh của công nhân Sài Gòn Chợ Lớn và các vùng phụ cận. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của công nhân Đồn điền Phú Riềng (tháng 8 và tháng 9-1927), Nhà máy nước đá Larue (2- 1928), Nhà máy in Portail Sài Gòn (5-1928), Đồn điền cao su Cam Tiêm (9-1928), Hãng dầu Nhà Bè (11- 1928)... Từ đấu tranh cho các mục tiêu kinh tế đã tiến lên các mục tiêu chính trị, phong trào công nhân đã dần trở thành một lực lượng chính trị độc lập trong phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta.

Không nghi ngờ gì nữa, ở Sài Gòn, truyền thống đấu tranh quật khởi của công nhân đã xác lập. Do vậy, các tổ chức tiền thân của Đảng như Thanh niên và Tân Việt đã lấy nơi này làm địa bàn chủ yếu để từ đó toả đi đồng bằng Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Cũng không ở đâu như Sài Gòn, có mặt đông đủ các tổ chức cộng sản trước ngày hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam, từ An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng đến Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930), đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân nước ta khẳng định hoạt động tích cực của Nguyễn Ái Quốc và những học trò của Người trong sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào yêu nước và phong trào công nhân. Tại Sài Gòn, quá trình kết hợp đó diễn ra thuận lợi vì có sự hoạt động tích cực của Công hội do Tôn Đức Thắng sáng lập. Trên một ý nghĩa nào đó Công hội của Tôn Đức Thắng đã bắc nhịp cầu đưa chủ nghĩa Mác-Lênin đến với giai cấp công nhân. Vai trò của Công hội mà Tôn Đức Thắng là người Hội trưởng thật quan trọng trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam vào những năm đầu truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản ở Sài Gòn. Vì vậy, có thể nói, Tôn Đức Thắng không chỉ là một chiến sĩ tiên phong của phong trào công nhân, một trong những người sáng lập tổ chức công đoàn của giai cấp công nhân Việt Nam mà còn là một trong những đảng viên lớp tiền bối của Đảng Cộng sản, có công trong cuộc vận động thành lập Đảng.

Trở lại giữa năm 1929, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên bị phân liệt trước yêu cầu phải nhanh chóng thành lập một Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Sự phân liệt càng mạnh mẽ hơn khi Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập (6-1929) và cử cán bộ vào Nam Kỳ xây dựng tổ chức Đảng. Tại đây, các đồng chí lãnh đạo Kỳ bộ Nam Kỳ cũng đang tích cực hoạt động cho việc thành lập Đảng. Khi công việc đang được tiến hành khẩn trương và phong trào cách mạng cũng đang có những chuyển biến mạnh mẽ thì xảy ra một sự kiện đánh dấu một bước ngoặt mới trong đời hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng: sự kiện vụ án đường Barbier.

Vụ án đường Barbier xảy ra ngày 8-12-1928. Đây thực chất là vụ trừng phạt nội bộ trong hội viên Kỳ bộ Nam Kỳ. Do một số mâu thuẫn nội bộ cộng với việc hội viên mắc kỷ luật đã dẫn đến án tử hình tại số 7 đường Barbier (sau năm 1954 đổi là đường Lý Trần Quán, Thành phố Hồ Chí Minh, nay là đường Thạch Thị Thanh, phường Tân Định, quận I, Thành phố Hồ Chí Minh). Sự việc này là một khuyết điểm rất đáng tiếc của Kỳ bộ Nam Kỳ, mà sau này Tổng bộ đã phê phán nghiêm khắc. Chỉ do một sự tình cờ mà cảnh sát phát hiện ra cái xác bị thiêu cháy và tiến hành điều tra truy tìm hung thủ. Sự việc vỡ lở, thực dân Pháp biết rất rõ đây là hành động của một tổ chức chính trị nên vội vin vào cớ này để đàn áp tổ chức. Chúng hình sự hóa vụ án, coi vụ việc không liên can gì đến chính trị để tránh phản ứng của dư luận.

Tháng 7-1929, chúng mở đợt khủng bố bắt bớ hội viên Kỳ bộ tại Sài Gòn và Nam Bộ. Ngày 23-7-1929, chúng vây ráp trụ sở Kỳ bộ tại hẻm đường La Cadơ (La Case) nay (là đường Nguyễn Tri Phương), và một số cơ sở ở đường Frerơ Lui (Frères Louis) (nay là đường Nguyễn Trãi) bắt các đồng chí Nguyễn Kim Cương, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Văn Phát, Nguyễn Thị Nhỏ... Đồng chí Phạm Văn Đồng do về Trung Bộ nên thoát khỏi đợt bắt bớ này, nhưng ngày 28-7-1929, khi đồng chí từ miền Trung trở lại, đến ga Sài Gòn lúc 5 giờ chiều ngày 23-7-1929 thì cũng bị bắt. Bọn chúng bố trí lính đón lõng tại Cầu Kiệu, khi đồng chí Tôn Đức Thắng và Trần Trương đi qua cũng bị xích tay, bắt đi.

Hơn một năm bị giam tại Khám lớn Sài Gòn, Tôn Đức Thắng luôn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng, kiên cường chống lại sự khủng bố của địch, không cho chúng moi tin tức về tổ chức. Mặt khác, Tôn Đức Thắng còn động viên anh em vững vàng, tin tưởng vào tương lai tất thắng của cách mạng nước ta. Không khuất phục được các đồng chí, ngày 25-6-1930, Toà đại hình của Pháp đã kết án:

Ngô Thiêm: Tử hình

Trần Văn Phồng: Tử hình

Tôn Đức Thắng: 20 năm khổ sai

Phạm Văn Đồng: 10 năm tù giam

Đặng Văn Sâm: 10 năm tù giam

Bùi Văn Thêm: 10 năm tù giam

Ngoài ra, còn một số án tù khác. Tôn Đức Thắng trên danh nghĩa bị kết án vì tội "đồng loã giết người", nhưng thực dân Pháp truy tìm được lý lịch của người từng tham gia kéo cờ đỏ phản chiến ở Hắc Hải để ủng hộ chính quyền Nga Xôviết non trẻ, người tham gia nhiều hoạt động yêu nước trong suốt 10 năm kể từ khi trở về nước. "Tội danh'' thực sự của đồng chí đã được chúng xác định là "tham gia với tư cách phụ trách và là thành viên hội kín, hoạt động phá rối an ninh công cộng, gây rối loạn chính trị nghiêm trọng, gây hận thù, chống lại Chính phủ Pháp và Chính phủ bảo hộ… đã đồng loã với âm mưu chống lại an ninh Nhà nước"l3.

Đêm ngày 2 rạng sáng ngày 3-1930, con tàu Ácmăng Rútxô (Armand Roussean) của thực dân Pháp lặng lẽ rời cảng Sài Gòn đưa Tôn Đức Thắng và một số cán bộ, quần chúng yêu nước ra đày tại Côn Đảo. Kể từ đó cho đến ngày 18-8-1945, khi Côn Đảo được giải phóng, người tù mang số tù 5289-TF cùng với lời ghi chú trong phiếu quản lý Sujet dangereux (phần tử nguy hiểm) đã chứng tỏ nghị lực phi thường ý chí kiên cường và lòng trung thành vô hạn với cách mạng. 15 năm ở địa ngục trần gian Côn Đảo là quãng thời gian thử thách lớn nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng, nhưng đó cũng là quãng đời đầy vinh quang khi Bác thực sự biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng.

Nếu như sự kiện Hắc Hải năm 1919 mở ra một bước ngoặt trong cuộc đời cách mạng của Tôn Đức Thắng khi đồng chí từ Pháp trở về trực tiếp tham gia vào phong trào cách mạng Việt Nam, thì 10 năm sau, vụ án đường Barbier lại mở ra một bước ngoặt mới, kết thúc 10 năm hoạt động cách mạng sôi nổi từ 1920-1930. Mười năm không phải là một quãng thời gian quá dài đối với một đời người và lại càng ngắn ngủi so với chiều dài lịch sử nhưng trong khoảng thời gian đó Tôn Đức Thắng đã làm được rất nhiều việc cho giai cấp công nhân, cho nhân dân và dân tộc. Từ việc thành lập Công hội bí mật năm 1920, lãnh đạo cuộc bãi công có tính chất bước ngoặt đánh dấu sự chuyển biến của phong trào công nhân đi từ tự phát sang tự giác của công nhân Ba Son tháng 8-1925, đến việc tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và đóng góp vào quá trình vận động thành lập Đảng ở Nam Kỳ, chừng đó việc đã chứng tỏ công lao của Tôn Đức Thắng đối với phong trào giải phóng dân tộc những năm 1920. Điều đó chứng tỏ rằng Tôn Đức Thắng đã lao động, hoạt động không ngừng với tất cả lòng nhiệt thành. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng đã nhận định rất chính xác: Tôn Đức Thắng không phải nhà lý luận, nhà tư tưởng hay nhà sáng tác mà là con người của hành động, hành động tiên phong.

Bản thân Tôn Đức Thắng, giai đoạn 1920-1930 đánh dấu bước chuyển biến về mặt tư tưởng có tính chất quyết định đối với toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí, đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác Lênin. Xuất thân trong một gia đình nông dân tương đối khá giả, Tôn Đức Thắng đã tự lựa chọn con đường làm thợ và dần dần trưởng thành trong phong trào công nhân, để rồi trở thành một người cộng sản. Con đường mà Tôn Đức Thắng đã đi là con đường đúng đắn, hợp quy luật lịch sử và yêu cầu của thời đại. Đó là con đường chung tất yếu của tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính. Chỉ khác là trong khi có những người yêu nước khác phải qua nhiều bước trung gian ngoắt ngoéo như vào Việt Nam Quốc dân Đảng hay các tổ chức tiền bối của Đảng rồi mới đến được chủ nghĩa Mác Lênin, thì Tôn Đức Thắng vinh dự gặp được chủ nghĩa xã hội ngay trong phong trào công nhân mà đồng chí là một trong những người tổ chức và lãnh đạo. Nhưng mặt khác cũng phải nói rằng, trong buổi giao thời của lịch sử, khi phải đứng trước nhiều lựa chọn khó khăn thì việc chọn con đường thẳng đến với chân lý cứu nước của người thanh niên yêu nước đã khẳng định bản lĩnh và khả năng tư duy độc lập sáng tạo của Tôn Đức Thắng. Cũng như Nguyễn Ái Quốc, Tôn Đức Thắng là một trong số không nhiều thanh niên Việt Nam đương thời đã vượt qua những lối mòn, đi theo con đường thời đại mà dân tộc đang mong đợi, đòi hỏi.

__________

1. Xem: Paul Vial: Les Premirès anneés de 1a Cochin chine. Tome l, Chullamel cané. Edit, Paris, 1874, p.94.

2. P.Doumer: Báo cáo năm 1901, trong R.De Lamothe: Note surlasitution de la Cochin de 1897 à 1901.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t 2, tr. 114

4. Hồ Chí Minh: Sđd, t.2, tr.302-307.

5. Sự truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và các tổ chức cộng sản đầu tiên ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1980, tr. 22-24.

6. Dẫn theo Trần Văn Giàu: Sài Gòn xưa, Thành phố Hồ Chí Minh nay và ảnh hưởng cảu Cách mạng Tháng Mười Nga, Kỷ yếu hội theo khoa học về Chủ tịch Tôn Đức Thắng nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh, Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ An Giang, 1989, tr.36.

7. Tham 1uận của Đại biểu Đông Dương, Tạp chí Học tập, số 2 năm 1961, tr. 38

8. Trần Văn Giàu: "Sự phát trển của từ tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám" t.3: Thành công của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 53.

9. Một số vấn đề lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, Nxb. Lao động, Hà Nội, 1974, tr. 228.

10. Báo Thống nhất, số 155, ngày 19-5-1960.

11. Phan Trọng Bình: "Bác Tôn Đức Thắng", trong Tôn Đức Thắng - Người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết (Hồi ký), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 186.

12. Nguyễn Thành, Phạm Xanh, Đặng Hoà, Đào Phiếu: Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, Nxb. Thông tin lý luận Hà Nội, 1986, tr. 167.

13. Hồ sơ vụ án số 200-1 (tiếng Pháp) 1ưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, ký hiệu lưu trữ 11 A-45/263 (số 6). Bản lược dịch của Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng.