Chương V - CÙNG ĐẢNG, NHÀ NƯỚC LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP KHÁNG CHIẾN, KIẾN QUỐC (1945 - 1954)

Cập nhật lúc 15h45  -  Ngày 12/10/2016

share facebookgửi emailin bài này

CÙNG ĐẢNG, NHÀ NƯỚC LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP KHÁNG CHIẾN, KIẾN QUỐC (1945-1954) 

Đêm 23-9-1945, thực dân Pháp phản động đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, thực hiện dã tâm tái chiếm nước ta một lần nữa. Tôn Đức Thắng cùng hai người thợ máy là Nguyễn Hùng Minh và Nguyễn Hồng Phước lên canô về Cần Thơ ngay trong đêm, không kịp ghé thăm người vợ yêu quý và hai người con gái lúc ấy đang ở cách Cần Thơ vài chục cây số.

Ngày 15-l0-1945, tại Hội nghị cán bộ Đoàn xứ Nam Kỳ họp ở ngoại ô Mỹ Tho, Tôn Đức Thắng được bầu vào Xứ ủy và được Xứ ủy phân công phụ trách Uỷ ban kháng chiến chỉ huy các lực lượng vũ trang Nam Bộ.

Ngày 25-10-1945, Tôn Đức Thắng tham dự Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ mở rộng do Hoàng Quốc Việt thay mặt Ban Thường vụ Trung ương Đảng chủ trì tại Thiên Hộ, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Tôn Đức Thắng đã góp phần cùng với tập thể Xứ ủy Nam Bộ nêu ra phương hướng chỉ đạo và nhiệm vụ cấp bách cho cuộc chiến đấu ở Nam Bộ. Trước hết là tiếp tục khẳng định và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng bộ về mọi mặt, nhất là lực lượng vũ trang. Đồng thời phải chấn chỉnh và tăng cường tổ chức. Nhiệm vụ trước mắt là kiên trì giữ vững và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, làm thất bại âm mưu đánh nhanh, giải quyết nhanh của thực dân Pháp.

Sau Hội nghị, trên cương vị mới của mình, Tôn Đức Thắng cùng với những cán bộ trung kiên của Đảng đi sâu xuống cơ sở, xây dựng phong trào, củng cố và phát triển chính quyền cách mạng, xây dựng cơ sở vũ trang, thành lập những khu du kích và đơn vị vũ trang cách mạng, đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Tháng 12-1945, Xứ ủy họp Hội nghị mở rộng ở Đức Hòa tỉnh Long An quyết định thành lập Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam và thành lập các khu 7, 8, 9 ở Nam Bộ, Tôn Đức Thắng được giao nhiệm vụ tổ chức hậu cần.

Ngày 6-1-1946, bất chấp mọi hành động phá hoại của thực dân Pháp và bọn phản động, đồng bào Nam Bộ cùng cả nước tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, bầu Quốc hội của nước Việt Nam mới. Tôn Đức Thắng được nhân dân Sài Gòn Chợ Lớn bầu làm đại biểu của mình trong Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tháng 2-1946, Tôn Đức Thắng được điều động ra Hà Nội để cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chỉ đạo cuộc kháng chiến kiến quốc. Sau kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I (2-3-1946) Tôn Đức Thắng được bầu bổ sung làm Uỷ viên chính thức Ban Thường trực Quốc hội*.

Cuối tháng 3-1946, qua hai tháng trời trèo đèo, lội suối, bí mật vượt qua nhiều vùng nguy hiểm, Tôn Đức Thắng ra tới Hà Nội, được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, mừng vui khôn xiết.

Tình hình nước ta vào đầu năm 1946 cực kỳ khó khăn. Vận mệnh Tổ quốc như "Nghìn cân treo sợi tóc". Đảng ta chủ trương một mặt ra sức củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc làm động lực cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược, mặt khác "hòa để tiến", "lùi một bước để tiến hai bước". Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Quốc hội đã có nhiều cuộc tiếp xúc, đàm phán với Pháp để duy trì nền hòa bình ở Đông Dương đang có nguy cơ bị bọn thực dân phản động Pháp chà đạp.

Trong bối cảnh đó, ngày 16-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quốc hội nước ta cử Tôn Đức Thắng tham gia Đoàn đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với cương vị là Phó trưởng đoàn, do Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm nước Pháp theo lời mời của Quốc hội nước Cộng hòa Pháp. Trên đường sang Pháp, đoàn họp thống nhất nhiều vấn đề quan trọng để làm việc với phía Pháp như các đảng phái trong nước, thành phần Quốc hội, khuynh hướng của Chính phủ, Hiến pháp, vấn đề Nam Bộ, Liên bang Đông Dương, Việt kiều và Liên hiệp Pháp, v.v… Tôn Đức Thắng được phân công trong Ban Kiều bào, có nhiệm vụ liên lạc, điều tra, giúp đỡ Việt kiều về các mặt.

Ngày 30-4-1946, Tôn Đức Thắng cùng một số thành viên trong Đoàn đi Mácxây để gặp kiều bào và các nhân sĩ trí thức. Ngày 4-5-1946, Tôn Đức Thắng và một số thành viên xuống Mácxây thăm trại lính thợ Madácnhơ (Mazagues). Đoàn được kiều bào đón tiếp long trọng. Tôn Đức Thắng cùng đoàn vào trại Việt Nam, đặt vòng hoa, chào cờ xem diễu hành của mấy ngàn chiến binh và công binh. Trong những ngày hoạt động ở Pháp, trên cương vị được phân công, Tôn Đức Thắng dẫn đầu một số thành viên trong đoàn đã gặp một số nhân vật tiêu biểu của Pháp như nhà bác học Paul Rivet, Giám đốc Viện nhân chủng học Pháp. Bà Vaillant Couturier, Chủ tịch Hội Phụ nữ Pháp và một số nhân vật tiến bộ Pháp cùng giới khoa học, kỹ thuật, văn hóa.

Với uy tín cá nhân, vị thế của Đoàn và tiếng tăm từ sự kiện tham gia kéo lá cờ đỏ ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga trên chiến hạmFrance tại Biển Đen năm 1919, những buổi làm việc do Tôn Đức Thắng dẫn đầu đều đem lại kết quả tốt đẹp. Giữa tháng 5-1946, Tôn Đức Thắng dẫn một bộ phận của Đoàn đại biểu Quốc hội về trực tiếp thăm đồng bào Việt kiều ở Toulon, Marseille, là những binh sĩ thuộc địa trong Binh đoàn Việt Nam trong lực lượng Đồng minh bị bắt ép sang làm bia đỡ đạn cho Pháp từ năm 1939. Tôn Đức Thắng đã động viên và chúc mừng thành tích chống phát xít của tiểu đoàn Việt Nam, hoan nghênh anh em đã hướng về Tổ quốc Việt Nam, đấu tranh giành quyền tự trị của đơn vị mình. Tôn Đức Thắng dặn dò anh em giữ gìn sức khỏe, tinh luyện binh nghiệp để có ngày trở về phục vụ Tổ quốc.

Gần 40 ngày ở Pháp, Tôn Đức Thắng cùng những thành viên trong Đoàn đã tiếp xức với nhiều nghị sĩ Quốc hội Pháp, các đoàn thể quần chúng, các tầng lớp nhân dân Pháp, làm cho nhân dân Pháp và nhân dân tiến bộ thế giới hiểu hơn về thiện chí hòa bình của Chính phủ Việt Nam, về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, thắt chặt thêm tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Pháp. Tôn Đức Thắng và Đoàn đại biểu Quốc hội đã làm đúng lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trước khi Đoàn lên đường sang Pháp là ''Đoàn kết, cẩn thận, làm cho người Pháp hiểu ta để gây tình hữu nghị giữa hai dân tộc".

Ngày 23-5-1946, Tôn Đức Thắng cùng Đoàn đại biểu Quốc hội về tới Hà Nội. Thực hiện nhiệm vụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi Người sang Pháp là xây dựng một tổ chức đoàn kết rộng rãi hơn nữa các tầng lớp nhân dân Việt Nam để thu hút tất cả mọi cá nhân và đảng phái yêu nước mà trước đây, vì những lý do nào đó họ chưa vào Mặt trận Việt Minh, Tôn Đức Thắng khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho sự ra đời một tổ chức mặt trận mới.

Sau một tuần chuẩn bị tích cực chiều ngày 2-1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội đã diễn ra Hội nghị thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam(gọi tắt Liên Việt). Tính chất và mục đích của Liên Việt được xác định rõ ràng: "Đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước, và các đồng bào yêu nước vô đảng phái, không phân biệt giai cấp tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam: độc lập thống nhất -dân chủ phú cường"1.

Hội nghị đã nhất trí bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự; Huỳnh Thúc Kháng là Hội trưởng; Tôn Đức Thắng là Phó Hội trưởng; Cù Huy Cận là Tổng Thư ký và các Uỷ viên Trung ương Hội là Trần Huy Liệu, Phạm Ngọc Thạch, Ngô Tử Hạ, Nguyễn Tường Long.

Với tư cách là một thành viên trong Ban sáng lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, Tôn Đức Thắng đã có sự đóng góp quan trọng vào việc thành công của Hội nghị. Từ đây, với một cương vị mới, người lãnh đạo Mặt trận Dân tộc thống nhất, Tôn Đức Thắng đem hết sức lực nhiệt tình và trí tuệ của mình, cống hiến cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp, Huỳnh Thúc Kháng đảm nhận cương vị quyền Chủ tịch nước. Vì vậy, công tác của Hội Liên Việt chủ yếu do Tôn Đức Thắng điều hành. Quán triệt tinh thần hoạt động của Hội, Tôn Đức Thắng đã chủ động bàn bạc, trao đổi với nhiều cán bộ của Hội, tiếp xúc với nhiều vị nhân sĩ, trí thức, đối thoại với một số người của các đảng phái, giai cấp dân tộc, tôn giáo khác nhau, nhằm làm cho một người nhận thức rõ ý nghĩa của việc thành lập Hội Liên Việt, vai trò quyết định của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách của Đảng về đại đoàn kết, nhất quán trước sau như một là tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân. Trong mọi hoạt động cụ thể của mình, Tôn Đức Thắng đã cố gắng và góp phần to lớn làm sáng rõ chủ trương đó, phá tan âm mưu của các thế lực thù địch chia rẽ khối đoàn kết lương giáo. Tôn Đức Thắng cũng thường xuyên nhắc nhở các thành viên trong Mặt trận quan tâm đến lợi ích của nhân dân, chăm lo người già yếu, tàn tật, phụ nữ, trẻ em.

Tháng 6-1946, Tôn Đức Thắng chỉ đạo thành lập Đài Phát thanh Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến tại Quảng Ngãi; thành lập Phân cục trường Lục quân Trần Quốc Tuấn nhằm đào tạo cán bộ chỉ huy cho miền Nam tại Quảng Ngãi; lập Phòng liên lạc Nam Bắc đóng tại La Hay, Phú Yên có chức năng đưa các lực lượng vũ trang vào tham gia chiến trường miền Nam, đón các chiến sĩ và cán bộ miền Nam ra học tập chính trị và quân sự để trở vào Nam chiến đấu.

Ngày 23-7-1946, Ban sáng lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam họp bàn việc tổ chức Hội nghị trù bị toàn quốc; đồng thời quyết định về tham dự việc tổ chức kỷ niệm "cuộc Cách mạng Tháng Tám" theo lời mời của Nha Thông tin tuyên truyền. Tôn Đức Thắng tham gia vào Ban tổ chức Hội nghị.

Ngày 28-10-1946, kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I khai mạc tại Nhà hát lớn Hà Nội. Tôn Đức Thắng được bầu làm Trưởng đoàn Chủ tịch của kỳ họp. Quốc hội nhất trí tán thành đường lối, chính sách trong thời gian qua của Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Quốc hội phê chuẩn bản Tạm ước ngày 14-9 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp. Tôn Đức Thắng và đoàn đại biểu Nam Bộ đã đề nghị Quốc hội và được toàn thể Quốc hội nhất trí thông qua việc suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người công dân thứ nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vì đã sáng suất lãnh đạo nhân dân xóa bỏ xiềng xích của thực dân, phong kiến. Quốc hội cũng đã nhất trí thông qua Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong thời gian diễn ra kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I, với tư cách là Phó trưởng hội Liên Việt, đồng thời là Trưởng đoàn Chủ tịch của kỳ họp, Tôn Đức Thắng vẫn rất quan tâm tới xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt là đoàn kết lương giáo, tạo mọi điều kiện thuận lợi thực hiện quyền tự do tín ngưỡng của công dân. Ngày 7-11-1946, Tôn Đức Thắng đã đưa bức thư của Phối sư Phùng Văn Thới, Ngoại Viện trưởng đạo Cao Đài Bắc Bộ thánh thất Hà Nội với nội dung chính là đề nghị Quốc hội và Chính phủ nhìn nhận đạo Cao Đài là chính thức, đưa ra thảo luận tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá I. Toàn thể đại biểu đã nhất trí tán thành cách xử lý của Tôn Đức Thắng là gửi thư phúc đáp. Thay mặt Đoàn Chủ tịch kỳ họp Quốc hội và Chủ tịch Quốc hội, Tôn Đức Thắng đã ký tên bức thư gửi Phối sư Phùng Văn Thời với nội dung chính '' ''I) Quốc hội rất hoan nghênh tinh thần ái quốc của đạo Cao Đài. II) Quốc hội trong một phiên họp gần đây đã thông qua điều thứ 10 trong bản dự án Hiến pháp Việt Nam trong đó quyền tự do tín ngưỡng của công dân được công nhận. Như thế là đạo Cao Đài được tự do hoạt động như các đạo khác''2.

Kỳ họp thứ hai của Quốc hội đã kết thúc thắng lợi ngày 9-11-1946. Ngày 11-11-1946, Ban Thường trực Quốc hội họp để bầu ra Ban Thường vụ gồm 5 người, Tôn Đức Thắng được bầu là Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội3. Tại phiên họp bế mạc ngày 9-11-1946, Tôn Đức Thắng đã đọc Diễn văn bế mạc, trong đó nhấn mạnh: ''Nếu có ai có thành kiến của giai cấp, của đảng phái, của tôn giáo thì đến trong phòng này... cũng đã để lòng nghe theo một tiếng gọi cao cả và thiêng liêng hơn cả bấy nhiêu tiếng gọi lúc thường: tiếng gọi của Tổ quốc. Cái không khí ấy đã hoàn toàn phản chiếu được tình trạng chung của đất nước, tình trạng thống nhất ý chí và hành động"4.

Vào tháng 11-1946, khi cuộc chiến tranh xâm lược nước ta của thực dân Pháp đang đến gần, theo tinh thần ''Công việc khẩn cấp bây giờ" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định cử một số phái đoàn của Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Liên Việt đi các địa phương làm công tác vận động nhân dân, tổ chức các cuộc nói chuyện về những nhiệm vụ chủ yếu của kháng chiến, động viên các tầng lớp nhân dân sẵn sàng chiến đấu. Tôn Đức Thắng với giấy giới thiệu do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, được cử đi hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây là địa bàn hoạt động trước mắt của Chính phủ và Trung ương. Tại đây, Tôn Đức Thắng đã về ở nhà ông bà Khuất Duy Huyên ở thôn Thuần Mỹ (nay là xã Trạch Mỹ Lộc) huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây. Những ngày hoạt động ở Thuần Mỹ, Tôn Đức Thắng đã nói chuyện với bà con nhân dân địa phương về tình hình và nhiệm vụ trước mắt, phân tích cho mọi người hiểu rằng cuộc kháng chiến toàn quốc nay mai xảy ra sẽ lâu dài và gian khổ. Bằng những lời lẽ giản dị có sức thuyết phục, Tôn Đức Thắng đã động viên nhân dân đoàn kết chặt chẽ, có quyết tâm cao sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu quyết liệt cho đến thắng lợi cuối cùng. Tôn Đức Thắng đã dự các cuộc họp với Tỉnh ủy Sơn Tây, Huyện ủy Phú Thọ và cán bộ Mặt trận Việt Minh, Hội Liên Việt ở địa phương bàn về tổ chức dân quân tự vệ chuẩn bị đánh du kích và giữ vững công việc tăng gia sản xuất khắp nơi"5.

Trong hai ngày 18 và 19 tháng Chạp năm 1946. Tôn Đức Thắng đã tham dự Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng ở Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội nghị đã vạch ra đường lối cơ bản chỉ đạo toàn bộ cuộc kháng chiến là: toàn dântoàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính6.

Để sự lãnh đạo và điều hành kháng chiến được tập trung thống nhất, Quốc hội đã giao quyền bính tập trung vào Chính phủ. Vì thắng lợi của cuộc kháng chiến, Ban Thường trực Quốc hội đã có những cuộc họp bàn giải quyết mối quan hệ giữa Quốc hội với Chính phủ. Cuối tháng 12-1946, Tôn Đức Thắng cùng Ban Thường trực Quốc hội họp ở một địa điểm tại Hà Đông quyết định: "a) Trong thời kỳ kháng chiến vì tình thế khó khăn nên chỉ có Trưởng ban Thường trực Quốc hội ở cùng với Chính phủ để giúp và theo dõi đường lối chính trị, cùng với Chính phủ chỉ đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. b) Các đại biểu Quốc hội sẽ tùy năng lực và địa vị mà tham gia vào mọi công tác kháng chiến. c) Ban Thường trực thay mặt toàn thể Quốc hội hiệu triệu và nhận các ý nguyện của nhân dân sửa soạn triệu tập Quốc hội"7.

Đầu tháng 3-1947, Tôn Đức Thắng cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương chuyển lên Việt Bắc căn cứ địa của cuộc kháng chiến. Thời gian này quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng là phải củng cố và mở rộng thực lực về mọi mặt: chính trị, quân sự, giao thông, căn cứ địa...

Từ những ngày đầu lên Việt Bắc, để bổ sung tri thức cho việc lãnh đạo cuộc kháng chiến, Tôn Đức Thắng thường sang Văn phòng Tổng Bí thư đọc sách chữ Hán. Có một thời gian, Tôn Đức Thắng đã dịch được vài chục trang tác phẩm Bàn về giai đoạn mới (Luận tân giai đoạn) của Mao Trạch Đông và nhắc nhở mọi người: ''Công việc nghiên cứu lý luận chiến tranh lúc này rất cần thiết. Vì chúng ta muốn đánh thắng kẻ thù xâm lược là thực dân phản động Pháp, trước hết phải học tập ông cha ta như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… xưa kia là một nước nhỏ đã đánh thắng được nước lớn kéo quân đến xâm lược nước ta. Mặt khác, chúng ta cũng phải biết vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm của nước bạn Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam chúng ta''8.

Ngày 30-4-1947, Hội đồng Chính phủ họp dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh. Tại kỳ họp này, sau khi nêu vắn tắt tiểu sử của Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Hội trưởng Hội Liên Việt vừa tạ thế và tiểu sử Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ vừa mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cử Tôn Đức Thắng đảm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay cụ Huỳnh Thúc Kháng. Hội đồng Chính phủ nhất trí tán thành việc đề cử này.

Trong tháng 6 và 7 năm 1947, Tôn Đức Thắng dự đều đặn các cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Tại cuộc họp ngày 25-7-1947 ở Hồng Thái (Định Hóa, Thái Nguyên), theo tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cần cải tổ Chính phủ nhằm mục đích mở rộng cho nhiều người được tham gia, tránh sự chia rẽ của Pháp và lấy lại ảnh hưởng của quốc tế, Tôn Đức Thắng đã xin từ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ để nhường lại cho các nhân sĩ yêu nước. Trong cuộc họp của Hội đồng Chính phủ ngày 3-11-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức bổ nhiệm Phan Kế Toại giữ chức quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay Tôn Đức Thắng.

Giữa tháng 10-1947, Tôn Đức Thắng cùng Văn phòng Trung ương chuyển từ căn cứ Định Hóa (Thái Nguyên) sang vùng Võ Nhai, Đình Cả. Nhưng sau đó một thời gian lại quay trở về Định Hóa. Lúc đi ngựa, lúc đi bộ, tuy tuổi cao, nhưng Tôn Đức Thắng vẫn trèo đèo, lội suối hành quân khỏe khoắn, nhanh nhẹn không kém gì thanh niên. Đây cũng là dịp tốt cho lớp thanh niên noi theo học tập tấm gương Tôn Đức Thắng, được Người giải thích, truyền đạt kinh nghiệm hành quân đánh lạc hướng kẻ địch. Đặc biệt họ được nghe Tôn Đức Thắng kể chuyện kéo cờ phản chiến trên Biển Đen năm 1919, lúc đó Tôn Đức Thắng mới ngoài ba mươi tuổi.

Sau chiến thắng Việt Bắc Thu Đông 1945, Thường vụ Trung ương triệu tập Hội nghị Trung ương mở rộng vào ba ngày 15, 16, 17 tháng 1 năm 1948 nhằm mục đích nhận định thắng lợi vừa qua, ý nghĩa và tầm quan trọng của nó, quyết định những nhiệm vụ và công tác mới để tăng cường lực lượng mọi mặt của cuộc kháng chiến. Hội nghị đã bầu bổ sung bốn người vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng là: Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Trần Hữu Dực…

Sau Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng tháng 1-1948, Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương đã quyết định cử Tôn Đức Thắng, Uỷ viên Trung ương Đảng, làm Trưởng ban Trung ương vận động thi đua ái quốc. Từ đó Hồ Chí Minh thường mời Tôn Đức Thắng đến nơi ở của mình để đàm đạo, trao đổi ý kiến, bàn bạc công việc cụ thể để đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc trong cả nước.

Để thúc đẩy phong trào Thi đua ái quốc, từ ngày 22 đến ngày 26-4-1948, Tổng bộ Việt Minh đã họp Hội nghị mở rộng. Mặc dù không được khỏe, Tôn Đức Thắng vẫn cố gắng đến dự tất cả các ngày họp và đóng góp nhiều ý kiến quan trọng nhằm củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc. Trong phiên họp ngày 24-4-1948, Tôn Đức Thắng đã ghi vào sổ cảm tưởng của Hội nghị những dòng đầy xúc động: ''Với hai bàn tay trắng, với ốc rau, Mặt trận đã lập nên sự nghiệp vĩ đại trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, cũng như một vài khẩu súng kíp, gậy gộc, dao găm đã đi đến một đội quân hùng hậu, đã làm cho giặc bị ngả nghiêng. Tôi tin rằng Mặt trận sẽ đi đến vinh quang. Chỉ mong rằng, cuộc hội nghị này lượm được một kết quả thật khoa học, làm cho mọi người nỗ lực, mỗi ngày mỗi nỗ lực, nỗ lực mãi mãi; mỗi người mỗi tin tưởng, mỗi ngày mỗi tin tưởng mạnh hơn"9.

Từ sau khi Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị Phát động phong trào thi đua ái quốc ngày 27-3-1948 với mục đích "thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi kiến quốc chóng thành công; thi đua ái quốc là vì nước, vì nòi", ngày 1-5-1948, Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi thi đua yêu nước, và đến ngày 11-6-1948 chính thức phát động cuộc vận động thi đua yêu nước. Đây là thời kỳ Tôn Đức Thắng có nhiều cố gắng và đạt kết quả tốt trong việc làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước trở thành động lực của cuộc kháng chiến kiến quốc.

Vào khoảng tháng 10-1948, nhân dịp đồng chí Khu trưởng khu VIII Nam Bộ và là Trưởng đoàn quân dân chính Nam Bộ ra báo cáo với Trung ương và Bác Hồ về tình hình cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ, Tôn Đức Thắng đã đến thăm đoàn. Trong cuộc trao đổi thân tình, Tôn Đức Thắng nói: "Mặc dầu tham gia vào cuộc lãnh đạo chung ở ngoài này một nhiệm vụ rất lớn, nhưng lúc nào tôi cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, lúc nào cũng nghĩ tới chiến trường Nam Bộ là nơi đồng chí, đồng bào đương kháng chiến gian lao. Tôi đã nhiều lần đề nghị với Bác Hồ, với Trung ương cho trở về chiến trường để cùng với đồng chí, đồng bào Nam Bộ tham gia kháng chiến nhưng Bác Hồ chưa đồng ý (…). Đề nghị đồng chí, đề nghị đoàn về báo cáo lại với Xứ uỷ và với đồng bào Nam Bộ rằng, Tôn Đức Thắng là người con của nhân dân Nam Bộ, lúc nào cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, nghĩ tới xứ sở mà mình đã sinh ra và đã từng hoạt động"10.

Trong thời gian này, Ban Thường trực Quốc hội đã phân công các uỷ viên đi các địa phương ở Liên khu III, Liên khu Việt Bắc động viên nhân dân kháng chiến. "Tôn Đức Thắng và Linh mục Phạm Bá Trực được mời về cùng Trưởng ban điều hành công việc của Ban. Năm 1948, Bùi Bằng Đoàn ốm phải đi chữa bệnh. Tôn Đức Thắng giữ chức Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội''11. Thời kỳ này Tôn Đức Thắng cùng Ban Thường trực Quốc hội luôn ở cạnh Hội đồng Chính phủ, theo dõi sát và chỉ đạo kịp thời cuộc kháng chiến. Tháng 9-1949, Ban Thường trực Quốc hội và Hội đồng Chính phủ đã tiếp và làm việc với Đoàn đại biểu Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ do Lê Đình Thám dẫn đầu ra báo cáo với Trung ương về tình hình kháng chiến ở địa phương. Đầu tháng 10-1949, Ban Thường trực Quốc hội và Hội đồng Chính phủ làm việc với Đoàn đại biểu Nam Bộ, gồm các uỷ viên kháng chiến hành chính, các uỷ viên quân sự và đại biểu các đoàn thể quần chúng do Phạm Hùng dẫn đầu ra báo cáo với Chính phủ về tình hình kháng chiến của nhân dân Nam Bộ.

Ngày 15-2-1949, giữa lúc cuộc kháng chiến của dân tộc ta đang tiến mạnh trên giai đoạn tích cực cầm cự, chuẩn bị tổng phản công, Hội nghị cán bộ dân vận Trung ương đã khai mạc. Tại Hội nghị này, Tôn Đức Thắng đã có bài phát biểu liên quan đến việc thực hiện phương châm chính sách đúng đắn của Đảng và những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh như: Cần, Kiệm, Liêm, Chính làm cho dân yêu, dân tin, dân trọng, Tôn Đức Thắng căn dặn hội nghị việc thực hiện phương châm của Đảng phải linh động, khoa học, đoàn kết. Một phương pháp duy nhất giúp ta thành tựu ý muốn ấy là tự chỉ trích và thân ái chỉ trích bạn mình. Tôn Đức Thắng nhấn mạnh: "Đối với Đảng với dân chúng, nếu ta thực hiện được chính sách đúng thì tương lai chúng ta sẽ rạng rỡ vinh quang. Vì thế dân vận phải làm cho kỳ được chính sách, phương châm của Đảng trong việc vận động dân chúng tích cực chuẩn bị tổng phản công (…). Dân vận quyết định sự thắng lợi của cuộc Tổng phản công. Các đồng chí hãy nỗ lực để QUYẾT THẮNG!''12.

Ngày l7-5-1950 Hội Việt Xô hữu nghị được thành lập do Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Hội. Từ đó trở đi, trên nhiều cương vị khác nhau, Tôn Đức Thắng luôn khắc phục mọi khó khăn gian khổ cùng với Quốc hội, Chính phủ tổ chức, động viên mọi tầng lớp nhân dân, đôn đốc, kiểm tra hoạt động của các tổ chức nhà nước, đoàn thể, thúc đẩy bộ máy kháng chiến hoạt động mạnh mẽ, có hiệu quả.

Từ ngày 21-1 đến ngày 3-2-1950, Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng họp do Trường Chinh, Tổng Bí thư trực tiếp chỉ đạo. Tại Hội nghị này, Tôn Đức Thắng với cương vị Trưởng ban thi đua ái quốc Trung ương đọc báo cáo về ''Đẩy mạnh thi đua, nhằm đúng hướng chính''.Với tinh thần ''tự chỉ trích", nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, báo cáo đã chỉ ra những khuyết điểm chính như ''quan niệm thi đua chưa được rõ và thống nhất, do đó sinh ra những sai lầm về lãnh đạo và tổ chức". "Thi đua không nhằm đúng hướng chính nên hao phí nhân lực vật lực, tài lực và thì giờ vào nhiều công việc chưa cần thiết...". Với quan niệm đúng đắn "thi đua là một thuật động viên, một phương thức lãnh đạo để thực hiện những công việc hàng ngày với một mức độ cao hơn trong một thời gian ngắn hơn", báo cáo của Tôn Đức Thắng khẳng định thi đua "nhằm đúng hướng chính, động viên nhân lực, vật lực, tài lực, chuyển mạnh sang tổng phản công". Để làm tốt việc này, cách làm là phải gây ra một nơi thi đua kiểu mẫu và rút những kinh nghiệm thi đua ở đó để phổ biến cho những nơi khác theo gương.

Ngày 19-12-1950, nhân kỷ niệm bốn năm ngày toàn quốc kháng chiến, trên cương vị Quyền trưởng ban Thường trực Quốc hội, thay mặt Ban Thường trực Quốc hội, Tôn Đức Thắng đã đọc Lời hiệu triệu, nhắc lại những diễn biến cơ bản trong bốn năm toàn quốc kháng chiến. Trong bốn năm đó "bộ đội đã anh dũng kháng chiến, nhân dân đã tích cực tham gia kháng chiến, chính phủ đã cương quyết lãnh đạo kháng chiến mà nhất là toàn dân đã đoàn kết để quyết tâm kháng chiến toàn diện và trường kỳ". Sau khi khẳng định những thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến trên các lĩnh vực quân sự, ngoại giao, như câu nói của Bác Hồ: ''Ta càng đánh càng mạnh, giặc càng đánh càng yếu'', Lời hiệu triệu nêu rõ: "Những thắng lợi trên, đồng bào nên nhớ: Chúng ta đã mua bằng sự gian khổ vô cùng, sự hy sinh tuyệt mực. Nhiệm vụ mỗi người công dân ta phải giữ vững lấy những chiến thắng ấy và khuếch trương nó ra"l3. Cuối cùng, Tôn Đức Thắng kêu gọi ''ở tiền tuyến, ở hậu phương, ở trong nước, ở ngoài nước, già, trẻ, gái, trai, không kể tôn giáo gì, chính kiến gì, đều phải thi đua bằng mọi cách để giết giặc cứu nước, để giải phóng cho dân tộc và góp phần vào sự nghiệp xây dựng hoà bình chung của thế giới''14.

Sau chiến thắng Biên giới, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tháng 2-1951, Đảng Cộng sản Đông Dương họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II tại Tuyên Quang. Tại Đại hội, Tôn Đức Thắng đọc Diễn văn khai mạc khái quát tình hình thế giới và Đông Dương trong hơn mười lăm năm từ Đại hội lần thứ nhất họp ở Ma Cao (tháng 3 -1935). Sau mười lăm năm tình thế đã khác hẳn: Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám đánh đổ phát xít Nhật, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhân dân ta từ chỗ trong tay không có một khẩu súng đã gây dựng được những đội du kích nhỏ dần dần thành một quân đội nhân dân anh dũng gồm mấy chục vạn người và những đội quân địa phương, quân du kích mạnh mẽ khắp trong nước. Diễn văn của Tôn Đức Thắng nhấn mạnh: "... một của quý nhất mà chúng ta nắm được là, đã xây dựng được một đảng tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, gần một triệu người đã được rèn luyện trong hơn hai mươi năm đấu tranh vô cùng gian khổ, người trước ngã, người sau lên, một người hy sinh, trăm ngàn người khác thay thế"l5. Trong Diễn văn, Tôn Đức Thắng còn kêu gọi: Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự học tập ấy là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn.

Tại Đại hội này, Tôn Đức Thắng được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

Trong Diễn văn bế mạc Đại hội, Tôn Đức Thắng khẳng định Đại hội diễn ra dưới khẩu hiệu: ''Đoàn kết nhất trí giành độc lập cho Tổ quốc, dân chủ cho nhân dân và hoà bình cho thế giới".

Diễn văn của Tôn Đức Thắng tổng kết đi đến thống nhất bảy vấn đề cơ bản: tính chất cách mạng Việt Nam, con đường tới chủ nghĩa xã hội, chính sách ruộng đất, chính sách đại đoàn kết để kháng chiến và kiến quốc, vấn đề nhân dân dân chủ chuyên chính, về lãnh đạo kháng chiến, vấn đề Đảng Lao động.

Về vấn đề cách mạng Việt Nam, Tôn Đức Thắng nêu rõ cách mạng Việt Nam hiện thời là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Về chính sách đại đoàn kết, Tôn Đức Thắng nhấn mạnh "chính sách mặt trận của ta là chính sách liên minh giai cấp để kháng chiến. Không phải liên minh giai cấp suông, mà liên minh giai cấp để kháng chiến. Đã là liên minh giai cấp để kháng chiến thì những mâu thuẫn quyền lợi giữa các giai cấp phải được diễn giải hợp lý. Nhưng bao giờ chúng ta cũng đặc biệt chú trọng đến quyền lợi của quần chúng cần lao và đông đảo vì họ là nền tảng của Mặt trận Dân tộc thống nhất, là lực lượng chủ yếu của kháng chiến. Cho nên chúng ta vừa đoàn kết, vừa đấu tranh. Song chúng ta tiến hành đấu tranh trong nội bộ Mặt trận Dân tộc một cách có lợi, có lý, có chừng mực, đặng chĩa mũi nhọn cách mạng vào bọn đế quốc xâm lược"l6.

Về vấn đề Đảng Lao động là Đảng của ai? Tôn Đức Thắng tổng kết "Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động". Liên quan tới vấn đề này Tôn Đức Thắng nắm vững và xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Trong Diễn văn bế mạc Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng (2-195l), Tôn Đức Thắng trình bày: "Trong giai đoạn hiện tại nhiệm vụ trung tâm, nhiệm vụ chủ yếu là đánh bại đế quốc xâm lược, hoàn thành giải phóng dân tộc. Nhưng không phải chỉ đánh bại đế quốc xâm lược mà thôi.

Trái lại, trong khi đánh bại đế quốc bên ngoài, vẫn phải thu hẹp bóc lột phong kiến, làm yếu thế lực phong kiến và phát triển chế độ dân chủ nhân dân. Phát triển chế độ dân chủ nhân dân tức là ít nhiều gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội. Song những nhiệm vụ đó đều phải phục vụ nhiệm vụ đánh bại đế quốc xâm lược. Quan niệm cho rằng trong giai đoạn hiện tại, nhiệm vụ phản đế và phản phong kiến ngang nhau, hay kháng chiến căn bản chưa thành công hai nhiệm vụ đó đã ngang nhau là sai.

Quan niệm cho rằng trong giai đoạn này, chỉ phản đế, cách mạng chỉ nhằm một đối tượng là đế quốc xâm lược khi nào chuyển sang giai đoạn sau mới phản phong kiến, cũng sai''17.

Nhận thức đó có liên quan đến chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, đến mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Bởi vì đại đa số nhân dân nước ta là nông dân. Nguyện vọng tha thiết của nông dân là độc lập, dân chủ và ruộng đất. Nông dân hiện tham gia và đóng góp rất nhiều cho kháng chiến. Vì vậy phải triệt để thi hành nghiên cứu chính sách giảm tô, giảm tức, tạm cấp, chia lại công điền, v.v. để động viên quần chúng nông dân đông đảo kháng chiến.

Tôn Đức Thắng đã giải đáp và làm sáng tỏ vấn đề lý luận cải cách và mục đích kháng chiến, cải cách và chính sách đại đoàn kết toàn dân. Tôn Đức Thắng giải thích những chính sách ruộng đất "không phải cố định, nhưng có thể theo đà phát triển của cách mạng mà nhích dần lên. Nhích dần trong kháng chiến. Nhích mạnh sau kháng chiến. Nhưng trong kháng chiến nhích lên phải có hạn độ. Hạn độ đó tức là đảm bảo chính sách đoàn kết toàn dân, kháng chiến trường kỳ''18.

Nhìn nhận mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp dưới góc độ Nhà nước, Tôn Đức Thắng phân tích: ''Hình thức Nhà nước của chúng ta là cộng hoà dân chủ nhân dân. Nội dung của nó là nhân dân dân chủ chuyên chính. Thực chất của nhân dân dân chủ chuyên chính là công nông chuyên chính. Không nên nói, hình thức là nhân dân dân chủ chuyên chính, mà nói đúng là công nông chuyên chính. Khi nói ra ngoài thì không nên nhắc đến công nông chuyên chính vì thật ra chế độ của ta không giống hệt như công nông chuyên chính. Vì công nông chuyên chính chỉ có công nông và tiểu tư sản tham chính còn nhân dân dân chủ chuyên chính gồm tất cả các giai cấp trong nhân dân: Công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những thân sĩ yêu nước và tiến bộ cùng tham chính. Nếu nói công nông chuyên chính thì hẹp hòi và không đúng''19.

Về lãnh đạo kháng chiến, Tôn Đức Thắng khẳng định: ''Phải nhận rõ muốn kháng chiến thắng lợi thì trước hết, đấu tranh quân sự phải thắng lợi. Cho nên Đảng phải trực tiếp lãnh đạo kháng chiến, lãnh đạo chiến tranh nhân dân. Đảng phải ném thêm cán bộ khá vào quân đội và cán bộ các cấp của Đảng phải học quân sự, hiểu quân sự, làm quân sự"20.

Một trong những nhiệm vụ lớn mà Đại hội Đảng lần thứ II đề ra là phải củng cố, kiện toàn Mặt trận Dân tộc thống nhất để tăng cường sức mạnh đoàn kết nhất trí của toàn dân, tạo động lực đưa cuộc kháng chiến mau đến thắng lợi. Trong khoảng 10 ngày sau Đại hội, Tôn Đức Thắng đã tích cực chuẩn bị mọi mặt cho Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh Liên Việt. Tôn Đức Thắng cùng Ban vận động thống nhất Việt Minh Liên Việt từ cuối năm 1948 đã xúc tiến lấy ý kiến các cơ quan, đoàn thể quân, dân, chính đảng, các nhân sĩ, trí thức, các đồng chí phụ trách các bộ, ban, ngành… Thư trưng cầu ý kiến được gửi tới hàng chục cơ quan, đơn vị, hàng trăm cá nhân. Chỉ trong một thời gian ngắn Ban vận động đã nhận được số lượng thư trả lời tương đương với số lượng thư gửi đi. Các ông Phan Anh, Cù Huy Cận, Bồ Xuân Luật, Chu Bá Phượng, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Đạo Thuỷ, Trần Văn Giàu, bà Lê Thị Xuyến và nhiều vị khác đã gửi thư tới Ban Thường vụ Trung ương Hội Liên Việc đồng thanh tán thành việc thống nhất Việt Minh Liên Việt21.

Từ ngày 3 đến ngày 7-2-1951, Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh Liên Việt đã khai mạc tại một địa điểm ở Việt Bắc. Tôn Đức Thắng tham gia Chủ tịch đoàn, với cương vị quyền Hội trưởng Hội Liên Việt. Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Liên Việt và Tổng bộ Việt Minh, ông đọc Báo cáo chính trị, nêu rõ sự cần thiết và tầm quan trọng của việc thống nhất Việt Minh Liên Việt, hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng nhau thực hiện nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc đặng giành độc lập cho Tổ quốc, dân chủ cho nhân dân, góp phần vào sự nghiệp giữ gìn hoà bình thế giới. Sau 5 ngày làm việc, Đại hội đã thông qua nghị quyết thống nhất Việt Minh Liên Việt thành một mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Mặt trận Liên Việt. Đại hội còn thông qua Chính cương, Tuyên ngôn và Điều lệ của Mặt trận và nhất trí việc xây dựng và bảo vệ khối đoàn kết nhân dân ba nước Việt Nam Lào -Campuchia. Đại hội thảo luận và nhất trí tán thành Nghị quyết của Hội đồng hoà bình thế giới.

Đại hội nhất trí bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự, Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt. Trong phiên họp chiều 7-3-1951, Tôn Đức Thắng đọc Diễn văn bế mạc. Thay mặt Uỷ ban Trung ương Mặt trận Liên Việt, Tôn Đức Thắng xin hứa "làm tròn nhiệm vụ mà Đại hội đã giao phó để làm cho khối đại đoàn kết dân tộc ngày thêm vững mạnh".

Với một tinh thần và không khí dân chủ cao, Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh Liên Việt đã thành công tốt đẹp. Đây là thắng lợi to lớn về chính trị, chứng tỏ toàn dân quyết tâm xây dựng khối đại đoàn kết thống nhất toàn dân tộc vì sự thắng lợi của công cuộc kháng chiến. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Hôm nay, trông thấy rừng cây đại đoàn kết đã nở hoa kết quả và gốc rễ nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân, và nó có một tương lại "trường xuân bất lão"22.

Sau Đại hội thống nhất Việt Minh Liên Việt, Tôn Đức Thắng tiếp tục tham gia dự Hội nghị Liên minh nhân dân ba nước Việt Nam Lào -Campuchia, đóng góp vào việc củng cố khối đoàn kết liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương. Tiếp đến Tôn Đức Thắng cùng Hoàng Quốc Việt, Xuân Thuỷ, Hoàng Hữu Nhân và Lê Thành Lập bắt tay vào lo việc tổ chức Ban Mặt trận của Trung ương Đảng theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Trường Chinh. Ngày 10-4-1951, Tôn Đức Thắng triệu tập Hội nghị Đảng đoàn Mặt trận Trung ương để bàn về vấn đề tổ chức Ban Mặt trận của Trung ương Đảng. Hội nghị đã định ra nhiệm vụ của Ban Mặt trận là theo dõi, nghiên cứu, giúp Trung ương Đảng đôn đốc việc thực hiện chính sách mặt trận của Đảng trong cả nước. Hội nghị thảo luận nhất trí quyết nghị tổ chức của Ban Mặt trận gồm một Bí thư, các đồng chí cán sự phân công phụ trách các vấn đề dân tộc, tôn giáo đảng phái23.

Tiếp theo Hội nghị ngày 10-4-1951, Tôn Đức Thắng còn dự cuộc họp Ban Mặt trận Trung ương ngày 1-5-1951 và ngày l0-6-1951 để kiểm điểm công tác chung của Ban Mặt trận Trung ương. Tại cuộc họp ngày l0-6-1951, Hoàng Quốc Việt được cử làm Trưởng ban Mặt trận của Trung ương. Tôn Đức Thắng là người thay Hoàng Quốc Việt khi đi vắng24.

Ngày 1-5-1951, tại Việt Bắc, Uỷ ban Liên Việt toàn quốc, Uỷ ban Bảo vệ hoà bình thế giới Việt Nam, Đảng Lao động Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tổ chức míttinh kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5. Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Uỷ ban Liên Việt toàn quốc tham gia Đoàn chủ tịch cuộc míttinh, đọc Diễn văn khai mạc, nêu bật ý nghĩa ngày Quốc tế Lao động và nhiệm vụ của toàn dân.

Ngày 9 và 10-5-1951, Tôn Đức Thắng chủ toạ Hội nghị toàn Ban Liên Việt lần thứ hai, nghe báo cáo về tình hình thế giới và trong nước từ Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh Liên Việt đến nay; Báo cáo về việc thực hiện nghị quyết của Hội nghị Thường trực lần thứ nhất; về chính sách kinh tế tài chính của Chính phủ và thuế nông nghiệp, về phong trào thi đua ái quốc. Hội nghị đã đề ra các nhiệm vụ làm cho cán bộ, hội viên Mặt trận thấm nhuần sâu sắc ý thức kháng chiến trường kỳ, chịu đựng gian khổ, chống chủ quan khinh địch. Phổ biến sâu rộng chính sách của Mặt trận, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc làm cho nhân dân hiểu rõ chính sách của Chính phủ. Khuyếch trương những thắng lợi của ta về chính trị, quân sự. Đẩy mạnh phong trào chống chiến tranh, ủng hộ hoà bình thế giới. Đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc. Ngày 13-5-1951, thay mặt Uỷ ban Liên Việt toàn quốc, Tôn Đức Thắng đã gửi thư chúc mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân ngày sinh nhật. Bức thư có đoạn: Chúng tôi xin hứa động viên toàn dân ra sức học tập đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của cụ, hăng hái thi đua sản xuất, lập công, đề cao chiến sĩ để chuyển mạnh sang tổng phản công"25. Vào khoảng trung tuần tháng 10-1952, nhân dịp ngày thành lập Chính phủ Pathét Lào, Tôn Đức Thắng đã gửi điện chúc mừng tới Chủ tịch Mặt trận Dân tộc thống nhất Lào Ítxala. Bức điện có đoạn: "Hai dân tộc chúng ta cùng đoàn kết trong khối liên minh Việt Miên Lào, kiên quyết đánh bại thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, giành độc lập dân tộc và góp phần xây dựng hoà bình thế giới"26.

Từ năm 1950, về đối ngoại, sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu, Ban Thường trực Quốc hội đã có quan hệ Quốc hội với nhiều nước. Năm 1951, nhân dịp kỷ niệm lần thứ hai ngày Quốc khánh nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Việt Nam đã cử một phái đoàn đi dự lễ do Hoàng Quốc Việt dẫn đầu. Tôn Đức Thắng là thành viên của đoàn đại diện cho Quốc hội và Mặt trận. Đoàn đại biểu Việt Nam là thượng khách của Uỷ ban chính trị hiệp thương của Trung Hoa. Phái đoàn Việt Nam đã có nhiều cuộc tiếp xúc với nhân dân Trung Hoa. Tiếp đến, Tôn Đức Thắng đã dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam đi thăm nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên27.

Nhân dịp năm mới 1952, Tôn Đức Thắng đã trả lời phóng viên báo Nhân dân: "Từ chỗ ngang nhau, thế lực xâm lược, cái cũ đang xuống; thế lực hoà bình, cái mới đang lên. Do đoàn kết chặt chẽ, cố gắng vượt mọi khó khăn và kiên quyết phấn đấu, ta đã đạt được những thành tích như ngày nay. Trong năm mới, quân và dân ta cần thắt chặt đoàn kết hơn nữa, phấn đấu ráo riết hơn nữa thì quân thù nhất định sẽ thất bại lớn''28.

Từ ngày 23 đến ngày 27-6-1952, Uỷ ban Liên Việt toàn quốc đã họp hội nghị lần thứ ba. Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Mặt trận đã đọc Báo cáo về tình hình trong và ngoài nước, đề ra nhiệm vụ trước mắt trong 6 tháng tới là: Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Duy trì và phát triển chiến tranh du kích. Gây cơ sở mặt trận ở vùng sau lưng địch. Chuẩn bị tham gịa Hội nghị hoà bình châu Á Thái Bình Dương. Đẩy mạnh thi đua ái quốc. Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình29.

Trong những tháng cuối năm 1952 đầu năm 1953, trên nhiều cương vị, Tôn Đức Thắng vừa cùng Ban Thường trực Quốc hội và Hội Liên Việt tập trung chỉ đạo nhiều hoạt động trong nước, đặc biệt là thúc đẩy khối đại đoàn kết dân tộc và phong trào thi đua yêu nước, vừa có những hoạt động quốc tế như gửi điện văn chúc mừng tới Hội nghị hoà bình châu Á Thái Bình Dương khai mạc ở Bắc Kinh đầu tháng 10-1952, góp phần giữ gìn và bảo vệ nền hoà bình ở khu vục và trên thế giới.

Sau Đại hội lần thứ II của Đảng Đại hội mang tinh thần "kháng chiến thắng lợi'', mọi mặt kháng chiến đã phát triển mạnh mẽ. Quân và dân ta giành được thắng lợi ngày càng to lớn. Tiền tuyến đã giữ vững được quyền chủ động chiến trường chính. Hậu phương được mở rộng và củng cố về mọi mặt. Chính quyền dân chủ nhân dân được kiện toàn. Khối đoàn kết toàn dân được củng cố và phát triển. Điều kiện để giành thắng lợi lớn hơn, thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến ngày càng tăng lên rõ rệt. Yêu cầu động viên sức người, sức của cho kháng chiến đang đặt ra những đòi hỏi to lớn. Vì vậy, phải có biện pháp cụ thể để bồi dưỡng sức dân, cải thiện đời sống cho đồng bào ở hậu phương.

Trên cơ sở xác định nhiệm vụ cơ bản lâu dài, nước yêu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 1-1953 đã quyết định phát động quần chúng nông dân triệt để giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất ngay ở các vùng tự do.

Ngày 25-2-1953, theo đề nghị của Chính phủ, Hội nghị liên tịch giữa Ban Thường trực Quốc hội và Uỷ ban Mật trận Liên Việt toàn quốc được triệu tập để thảo luận bản đề án "Phóng tay phát động quần chúng, triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức" của Đảng Lao động Việt Nam. Dự hội nghị có hơn 50 đại biểu. Quyền trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Uỷ ban Liên Việt toàn quốc Tôn Đức Thắng đọc Diễn văn khai mạc "nhấn mạnh đến công tác phát động quần chúng, triệt để giảm tô, thực hành giảm tức nhằm giành ưu thế chính trị cho nông dân lao động ở nông thôn"30. Sau khi thảo luận, Hội nghị đã ra nghị quyết về công tác trọng tâm của năm 1953 là thực hiện nghiêm chỉnh chính sách ruộng đất của Đảng, trên cơ sở đó mà củng cố khối liên minh công nông, củng cố Mặt trận Liên Việt. Hội nghị đã nhất trí với bản đề án của Đảng và hiệu triệu quốc dân tích cực thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và Chính phủ.

Ngày 26-11-1953, Tôn Đức Thắng triệu tập Hội nghị Uỷ ban Liên Việt toàn quốc mở rộng bao gồm đông đảo đại biểu tác chính đảng, đoàn thể, dân tộc, tôn giáo trong toàn quốc để thảo luận và quán triệt "Cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam về vấn đề ruộng đất" do Trường Chinh, Tống Bí thư của Đảng trình bày. Hội nghị đã họp ba ngày do Tôn Đức Thắng chủ trì, đã tới quyết nghị về "trọng tâm công tác của Mặt trận trong giai đoạn này là động viên toàn dân đẩy mạnh kháng chiến, thực hiện mục tiêu chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh đổ nguỵ quyền, giai phóng dân tộc, thực hiện chính sách cải cách ruộng đất trên cơ sở tán thành cương lĩnh ruộng đất của Đảng… kêu gọi các chính đảng, đoàn thể và quốc dân đồng bào yêu nước hãy ra sức ủng hộ cương lĩnh ruộng đất của Đảng, ủng hộ cuộc đấu tranh của nông dân, hăng hái tham gia cải cách ruộng đất, góp phần vào sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc thắng lợi"31.

Tháng 11-1953, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Đảng đã nhất trí thông qua Cương lĩnh ruộng đất và quyết định cải cách ruộng đất.

Để thực hiện nhiệm vụ lịch sử đó, theo đề nghị của Chính phủ, Ban Thường trực Quốc hội đã quyết định triệu tập Quốc hội kỳ họp thứ ba tại Việt Bắc từ ngày 1 đến ngày 4-12-1953. Trong hoàn cảnh chiến tranh, các đại biểu Quốc hội phải vượt qua nhiều khó khăn mới về được Việt Bắc để họp. "Tổng số đại biểu về dự kỳ họp là l66 người, trong đó Bắc Bộ có 94 đại biểu, Trung Bộ có 62 đại biểu, Nam Bộ có 10 đại biểu''32.

Tôn Đức Thắng, Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội đọc Diễn văn khai mạc nêu rõ: "Quốc hội họp trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến đã lớn mạnh, "thế ta mạnh hơn thế giặc'', ta đang tiến tới một giai đoạn mới, đòi hỏi nhân dân phải có một nỗ lực phi thường. Do đó, chính phủ đã đề ra dự án Luật Cải cách ruộng đất. Đó là một quyết sách để bảo đảm cho kháng chiến thắng lợi, là một nhiệm vụ căn bản của cách mạng dân tộc dân chủ của chúng ta. Với tầm quan trọng đó, quyết sách này phải được Quốc hội, cơ quan quyền lực tối cao thay mặt toàn dân thông qua''33

Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ trình bày trước Quốc hội bản báo cáo "Tình hình trước mắt là nhiệm vụ cải cách ruộng đất".Người nêu rõ: "Then chốt thắng lợi của kháng chiến là củng cố và mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất, củng cố công nông liên minh, củng cố chính quyền nhân dân, củng cố và phát triển quân đội, củng cố Đảng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt. Chỉ có phát động quần chúng cải cách ruộng đất, ta mới tiến hành những công việc đó được thuận lợi''34.

Ngày 4-12-1953, toàn thể Quốc hội biểu quyết nhất trí tán thành Luật Cải cách ruộng đất. Quốc hội đã lần lượt thông qua Nghị quyết tín nhiệm Chính phủ; Nghị quyết biểu dương các đại biểu Quốc hội đã từ trần vì nước; Nghị quyết truất quyền đại biểu Quốc hội của những đại biểu rời bỏ nhiệm vụ kháng chiến.

Kỳ họp thứ ba của Quốc hội có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Quốc hội đã quyết định một quốc sách quan hệ đến thắng lợi của kháng chiến, đến hạnh phúc của toàn dân là thực hiện cải cách ruộng đất trong kháng chiến, đưa "chiếc xe lịch sử dân tộc ta sẽ tiến lên giai đoạn một vẻ vang. Quốc hội ta là người thợ đóng xe, nhân dân ta là động lực của xe. Chính phủ ta là người lái xe''. Điều đó càng nổi bật lên hình ảnh của Quốc hội ta là "Quốc hội cách mạng, Quốc hội kháng chiến, Quốc hội cải cách ruộng đất"35.

Trên cương vị Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Tôn Đức Thắng đã góp phần quan trọng vào thắng lợi kỳ họp thứ ba của Quốc hội, cùng Ban Thường trực Quốc hội và Chính phủ đã có nhiều hoạt động tích cực tạo bầu không khí hoà bình trên thế giới. Ngày 18-l-1954, đọc Diễn văn khai mạc tháng hữu nghị Việt Trung Xô, Tôn Đức Thắng đã khẳng định mối quan hệ và tình hữu nghị Việt Trung -Xô. Tiếp đó, đầu tháng 2-1954, trong không khí đón chào năm mới Giáp Ngọ, Tôn Đức Thắng viết bài Tết hữu nghị Việt - Trung - Xô, đăng báo Nhân dân số 163 (ngày 1 đến ngày 5-2-1954), ca ngợi mối quan hệ và tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân ba nước Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô; đánh giá các thắng lợi mà nhân dân và quân đội ba nước đã đạt được.

Từ khi cuộc cải cách ruộng đất được tổ chức thí điểm ở một số xã trong hai tỉnh Thái Nguyên, Thanh Hoá và vùng tự do, thì mọi hoạt động của cuộc kháng chiến đều được đẩy mạnh. Tiền tuyến được tiếp thêm sức mạnh mới, dẫn tới thắng lợi trên chiến trường trong Đông - Xuân năm 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ. Thắng lợi quân sự là cơ sở để Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mở cuộc tiến công trên mặt trận đấu tranh ngoại giao đàm phán tại Giơnevơ năm 1954. Sau khi Hội nghị ngoại trưởng bốn nước: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp họp ở Béclin (l-1954) đồng ý có quyết định triệu tập Hội nghị Giơnevơ bàn về vấn để chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương, "Ban Thường trực Quốc hội đã thảo luận và thống nhất với Hội đồng Chính phủ cử Đoàn đại biểu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Phạm Văn Đồng dẫn đầu đi dự Hội nghị Giơnevơ"36. Từ đây, với cương vị Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng cùng Ban Thường trực Quốc hội và Chính phủ chăm chú theo dõi diễn biến của Hội nghị để có ý kiến chỉ đạo thích hợp. Ngày 30-5-1954, Hội nghị liên tịch Ban Thường trực Uỷ ban Liên Việt toàn quốc và Ban Thường vụ Uỷ ban Bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam họp mở rộng để nhận định về công tác của Đoàn đại biểu ta ở Hội nghị Giơnevơ. Thay mặt Chủ tịch đoàn, "Tôn Đức Thắng đã gửi điện văn tới Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ, bày tỏ quan điểm hoàn toàn ủng hộ lập trường và những đề nghị cụ thể của Đoàn đại biểu ta ở Hội nghị Giơnevơ''37.

Ngày 24-7-1954, thay mặt Uỷ ban Liên Việt toàn quốc Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Uỷ ban đã ra Lời kêu gọi đồng bào toàn quốc và kiều bào ở nước ngoài về việc ký kết các hiệp định đình chiến ở Đông Dương, nêu rõ: ''Thắng lợi to lớn của ta là thất bại to lớn của đế quốc Mỹ và bọn hiếu chiến Pháp âm mưu tiếp tục và mở rộng chiến tranh Đông Dương. Nhưng thắng lợi ấy mới là một bước đầu, chúng ta còn phải tiến tới nữa… Chúng ta quyết không vì thắng lợi mà tự mãn, chủ quan khinh địch, quyết không vì khó khăn mà sờn lòng nản chí. Chúng ta đã dũng cảm trong kháng chiến, chúng ta càng dũng cảm trong hoà bình. Toàn dân ta từ Bắc chí Nam, trong nước và ngoài nước, đoàn kết sắt đá trong Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi, giương cao ngọn cờ hoà bình tiến lên''38.

Một tuần lễ sau ngày ký hiệp nghị vì chưa đủ điều kiện, thời gian để triệu tập Quốc hội, ngày 27-7-1954 Ban Thường trực Quốc hội tổ chức Hội nghị mở rộng của Ban Thường trực Quốc hội với một số đại biểu của Ban Thường trực Uỷ ban Liên Việt toàn quốc và Ban Thường trực Uỷ ban Bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam để thảo luận bản hiệp định đình chiến và nhất trí nhận định việc "ký Hiệp định Giơnevơ là một thắng lợi lớn"39. Thay mặt Chủ tịch đoàn hội nghị, Tôn Đức Thắng đã gửi điện tới Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam chúc mừng thành công của Hội nghị Giơnevơ và nhấn mạnh: Chúng tôi cũng như toàn dân vô cùng biết ơn Hồ Chủ tịch và Chính phủ đã lãnh đạo quân đội và nhân dân, anh dũng kháng chiến 8, 9 năm qua để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình và tranh thủ được hoà bình. Chúng tôi nguyện phổ biến sâu rộng trong nhân dân những chủ trương, chính sách mới của Hồ Chủ tịch và Chính phủ đã đề ra cho toàn dân, tăng cường đoàn kết, củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ toàn quốc''40.

Cùng ngày, thay mặt Chủ tịch đoàn của Hội nghị liên tịch mở rộng, Tôn Đức Thắng đã gửi điện văn chúc mừng tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Bức điện có đoạn: "Những chiến thắng vĩ đại, những thành tích lớn lao về mọi mặt chứng minh sự lãnh đạo kiên quyết và sáng suốt của Hồ Chủ tịch và Đảng... Hiệp định đình chiến ký ngày 21-7 tại Giơnevơ, sự thừa nhận nguyên tắc tôn trọng độc lập, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của Việt Nam Khơme Lào trong Bản Tuyên bố chung của 9 nước ở Hội nghị Giơnevơ là kết quả của 8, 9 năm chiến đấu anh dũng của nhân dân ta... Thắng lợi ngoại giao đó, chứng minh một lần nữa sự lãnh đạo tài tình và vững chắc của Đảng…"41.

Ngày 28-7-1954, thay mặt Ban Thường trực Quốc hội, Tôn Đức Thắng đã ra Lời kêu gọi về việc ký kết các hiệp định đình chiến ở Đông Dương, nêu rõ: ''nhận định rõ bước đường thắng lợi đã qua, vững bước đi con đường hoà bình hiện tại, dưới ngọn cờ quang vinh của Hồ Chủ tịch, đồng bào toàn quốc cùng nhau đoàn kết chặt chẽ, đồng tâm nhất trí thực hiện những nhiệm vụ mới do tình hình mới đặt ra: củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ''42.

19 giờ ngày 6-11-1954, tại Nhà hát thành phố Hà Nội, Hội hữu nghị Việt Xô đã tổ chức kỷ niệm lần thứ 37 Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại, Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Xô đã tới dự và có bài phát biểu nhan đề "Chúc mừng kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười". Tôn Đức Thắng đã nêu bật ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười và vai trò của Liên Xô trong sự nghiệp bảo vệ hoà bình thế giới. Khẳng định nhân dân Việt Nam không ngừng củng cố và tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Liên Xô bằng nhiều việc làm và hành động thiết thực''43.

*

*    *

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, từ Côn Đảo trở về, Tôn Đức Thắng bắt tay vào nhiệm vụ mới cùng với Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận lãnh đạo toàn quân, toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ. Với những cương vị và trọng trách to lớn được Đảng giao phó, Tôn Đức Thắng đã góp phần xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân, tổ chức toàn dân tộc đoàn kết một lòng chiến đấu, giữ trọn lời thề độc lập năm 1945, hoàn thành sứ mệnh lịch sử đưa kháng chiến đến thắng lợi vẻ vang, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ nền hoà bình thế giới.

____________

* Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946 – 1960), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 78.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr. 69.

2. Trần Quốc Luyện (Phối sư đạo Cao Đài): Bác Tôn kính yêu trong lòng người đạo Cao Đài, trong Bác Tôn và chúng ta (20-8-1888 - 20-8-1988), Ban Khoa học xã hội Thành uỷ thành phố Hồ Chủ Minh, 1988, tr. 213.

3. Xem Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam, Sđd, tr.112.

4. Sđd, tr. 112.

5, 6. Trần Quốc Hương: "Bác Tôn như tôi được biết", trong Tôn Đức Thắng - Người cộng sự mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết, Sđd,tr. 83-84, 85.

7. Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946 – 1954), Sđd, tr 117.

8. Trần Quốc Hương: "Bác Tôn như tôi đã biết'', trong Tôn Đức Thắng – Người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết, Sđd, tr. 91.

9. Đức Vượng: "Từ thành đồng Tổ quốc đến Hà Nội giải phóng… Sài Gòn giải phóng", trong Ban Chấp hành tỉnh uỷ Đảng bộ An Giang: Bác Tôn (1888 – 1980) Cuộc đời và sự nghiệp, Sđd, tr.157.

10. Thượng tướng Trần Văn Trà: ''Điều ghi đậm nét nhất về Bác Tôn trong tâm tư của tôi''; trong Tôn Đức Thắng - Người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết, Sđd, tr. 132-133.

11. Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946- 1960), Sđd, tr. 126.

12. Tôn Đức Thắng: "Lời phát biểu ở Hội nghị cán bộ dân vận Trung ương ngày 15-2-1949". trong Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888-1980), Sđd, tr. 197.

13, 14. Tôn Đức Thắng: ''Hiệu triệu của Ban Thường trực Quốc hội nhân dịp kỷ niệm ngày toàn quốc kháng chiến 19-12", trong Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888-1980), Sđd, tr. 202, 203.

15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t. 12, tr. 8

16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr. 487-488.

17. Sđd, tr. 485-486

18. Sđd, tr. 487.

19. Sđd, tr. 488.

20. Sđd, tr. 489.

21. Xem: Đức Vượng: "Từ Thành đồng Tổ quốc đến Hà Nội giải phóng… Sài Gòn giải phóng'', trong Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ An Giang:Bác Tôn (1888-1980) – Cuộc đời sự nghiệp, Sđd, tr. 159.

22. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, t. 6, tr. 181.

23. Xem: Đức Vượng ''Từ Thành đồng Tổ quốc đến Hà Nội giải phóng… Sài Gòn giải phóng'', trong Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ An Giang:Bác Tôn (1888-1980) – Cuộc đời và sự nghiệp, Sđd, tr. 163.

24. Xem: Đức Vượng: "Từ Thành đồng Tổ quốc đến Hà Nội giải phóng… Sài Gòn giải phóng'', trong Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ An Giang:Bác Tôn (1888-1980) – Cuộc đời và sư nghiệp, Sđd, tr. 163.

25. Báo Nhân dân, số 8, ngày 13-5-1951.

26. Báo Nhân dân, số 29, ngày 18-10-195l.

27. Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946- 1960, Sđd, tr. 130.

28. Báo Nhân dân, số 39, ngày 3-1-1952.

29. Báo Nhân dân, số 65, ngày 10-7-1952.

30. Đức Vượng: "Từ Thành đồng Tổ quốc đến Hà Nội giải phóng… Sài Gòn giải phóng", trong Ban Chấp hành tỉnh Đảng bô An Giang: Bác Tôn (1888-1980) - Cuôc đời và sự nghiệp, Sđd, tr. 164.

31. Đức Vượng: ''Từ Thành đồng Tổ quốc đến Hà Nội giải phóng… Sài gòn giải phóng'', trong Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ An Giang: Bác Tôn (1888-1980) – Cuộc đời và sự nghiệp, Sđd, tr.165.  

32, 33. Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Năm (1946- 1960) Sđd, tr. 133, 134.

34. Hồ Chí Mmh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 179.

35. Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946- 1960), Sđd, tr. 138.

36. Văn phòng quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946-1960), Sđd, tr.140.

37. Báo Nhân dân, số 192, từ ngày 7 đến ngày 9-6-1954.

38. Báo Nhân dân, số 211, từ ngày 4 đến ngày 6-8-1954.

40. Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946- 1960), Sđd, tr. 141.

41. Báo Nhân dân, số 212, từ ngày 7 đến ngày 9-8-1954.

42. Báo Nhân dân, số 211, từ ngày 4 đến ngày 6-8-1954.

43. Báo Nhân dân số 258, ngày 9-11-1954.