Chương VI - CÙNG ĐẢNG, NHÀ NƯỚC LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG TRÊN PHẠM VI CẢ NƯỚC (1954 - 1969)

Cập nhật lúc 15h45  -  Ngày 12/10/2016

share facebookgửi emailin bài này

CÙNG ĐẢNG, NHÀ NƯỚC LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP

CÁCH MẠNG TRÊN PHẠM VI CẢ NƯỚC

(l954-l969) 

Từ năm 1954 đến năm 1969, Tôn Đức Thắng nắm giữ nhiều vị trí then chốt trong hệ thống chính trị, có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Cuộc đời và hoạt động của Tôn Đức Thắng gắn liền với những thay đổi to lớn, nhanh chóng của đất nước, dân tộc và thời đại. Trong tiểu sử Tôn Đức Thắng, giai đoạn này có thể chia thành ba thời kỳ nhỏ với những cống hiến hết sức quan trọng cho đất nước: thời kỳ 1954-1960, thời kỳ 1960-1964, thời kỳ 1964-1969.

1. Chăm lo xây dựng, củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, cùng Đảng lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và kế hoạch lần thứ nhất phát triển kinh tế- xã hội ba năm (1954-1960).

Năm 1954, với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ''lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, cuộc kháng chiến chống Pháp thần thánh của nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi. Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính đã làm sáng lên một chân lý phổ biến của thời đại ngày nay: Một dân tộc dù nhỏ, nhưng nếu biết đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết chiến đấu theo một đường lối chính trị, quân sự đúng đắn thì có đầy đủ khả năng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, dù chúng có quân đội lành nghề, thiện chiến, được trang bị chính quy, hiện đại. Thắng lợi của dân tộc trong kháng chiến chống Pháp, có thể nói là thắng lợi của tư tưởng chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân và tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh. Đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi đường lối đúng đắn về chỉ đạo chiến tranh cách mạng. Tư tưởng "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công" của Hồ Chí Minh đã trở thành hiện thực. Tôn Đức Thắng chính là một trong những người chủ chốt tổ chức thực hiện triệt để tư tưởng vĩ đại này; bản thân đồng chí cũng trở thành hiện thân sống động của khối đại đoàn kết toàn dân.

Sáng sớm ngày 1-l-1955, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, một cuộc míttinh, duyệt binh và diễu hành quần chúng trọng thể đã được tổ chức để chào mừng Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô Hà Nội. Tại buổi míttinh mang âm hưởng hào hùng chiến thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt nhịp và diễn xướng cho đồng bào hát vang bài ca Kết đoàn bất hủ:

Kết đoàn chúng ta là sức mạnh;

Kết đoàn chúng ta là sắt gang.

Trên lễ đài, đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Tôn Đức Thắng cũng vỗ tay, hoà giọng, cùng chứng kiến niềm hân hoan, phấn khởi của người dân, sức mạnh trào dâng như sóng bể của khối quần chúng đông đảo có trật tự, có tổ chức, cùng tiến về một hướng để gìn giữ trọn vẹn độc lập, tự do cho non sông, đất nước. Đó cũng chính là thành quả mà đồng chí đã góp công gieo trồng, vun xới.

Với tư cách là người đứng đầu Mặt trận Liên Việt từ năm 1951, về đến Hà Nội là Tôn Đức Thắng đã cùng với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Liên Việt bắt tay ngay vào giải quyết những công tác, nhiệm vụ của Mặt trận trong tình hình mới, có nhiều biến đổi, rất có lợi cho củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Ngày 7-1-1955, Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc đã họp để kiểm điểm thực hiện chính sách kháng chiến, kiến quốc, tranh thủ hoà bình, độc lập kể từ sau Đại hội thống nhất Việt Minh Liên Việt tháng 3-1951. Hội nghị đã nghiêm túc kiểm điểm những thành tựu đạt được, những hạn chế vướng mắc, rút bài học kinh nghiệm và thảo luận toàn diện nhiệm vụ củng cố, mở rộng tăng cường phát huy vai trò của Mặt trận trong tình hình mới. Lúc này, củng cố Mặt trận, đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo trở thành một nhiệm vụ cấp bách, phục vụ cho cải cách ruộng đất đang được tiếp tục triển khai trên quy mô lớn ở đồng bằng Bắc Bộ và chống lại âm mưu dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào công giáo di cư vào Nam theo chủ trương đen tối của bọn đế quốc và các thế lực phản động.

Sau Diễn văn khai mạc Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc, Tôn Đức Thắng đọc bản Báo cáo chính trị quan trọng. Báo cáo đã trình bày những hoạt động đa dạng của Mật trận Liên Việt, làm dấy lên một phong trào thi đua yêu nước giết giặc lập công, kháng chiến kiến quốc khắp ba miền Bắc, Trung, Nam, từ vùng tự do đến vùng tạm bị chiếm đóng. Với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí đoàn kết, quyết tâm của mọi tầng lớp nhân dân, đồng bào ta đã đưa ra tiền tuyến hàng trăm ngàn chiến sĩ tham gia ba thứ quân, lập nên những chiến công vang dội, đóng góp nhiều sức người, sức của giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Ở hậu phương, đồng bào ta vừa bảo đảm đẩy mạnh tăng gia sản xuất cung cấp đủ lương thực, thực phẩm để bộ đội ăn no, đánh mạnh; ngoài ra, còn đóng góp hàng triệu lượt dân công sửa chữa cầu đường, vận chuyển lương thực, súng ống, đạn dược phục vụ chiến trường. Thực hiện chính sách giảm tô và cải cách ruộng đất, tại các vùng giải phóng và căn cứ du kích, nhiều hộ nông dân được nhận ruộng, trâu bò, công cụ sản xuất, được giảm tô. Được giải quyết và thoả mãn một phần quan trọng lợi ích kinh tế, Mặt trận chống đế quốc và phong kiến ở nông thôn càng được củng cố vững chắc. Khối liên minh chiến đấu công nông nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất, cơ sở hội rộng rãi của Nhà nước dân chủ nhân dân cũng được củng cố ngay trên địa bàn thôn, xã.

Trên trường quốc tế, chính sách đại đoàn kết của Mặt trận cũng thu hoạch và gặt hái được những thắng lợi đáng kể. Quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác giữa nước ta với Liên Xô, Trung Quốc, nhất là với hai nước anh em Lào và Campuchia không ngừng phát triển, được nâng lên một tầm cao mới, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chín năm thần thánh.

Trong Báo cáo, Tôn Đức Thắng đã chú trọng phân tích những biến đổi sâu rộng của tình hình trong nước và bối cảnh quốc tế sau Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Trên cơ sở đó, đồng chí xác định rõ nhiệm vụ tăng cường đoàn kết toàn dân, ra sức khôi phục kinh tế, hàn gắn những vết thương chiến tranh ở miền Bắc, ủng hộ cuộc đấu tranh đòi thi hành đúng đắn tinh thần, nội dung và các nguyên tắc của Hiệp nghị Giơnevơ, cảnh giác chống mọi âm mưu xuyên tạc chia rẽ sự thống nhất Bắc Nam, chia rẽ lương giáo, chia rẽ giữa miền ngược và miền xuôi, giữa đồng bào Kinh và đồng bào Thượng, v.v. xây dựng các tiền đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội để đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.

Báo cáo của Tôn Đức Thắng trình bày tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc với các nội dung và nhiệm vụ cụ thể, thiết thực, rõ ràng được các đại biểu hồ hởi đón nhận, trở thành các quan điểm chỉ đạo công tác mặt trận trong tình hình mới. Báo cáo cũng thể hiện một phần phong cách giản dị, rành mạch và hết sức thực tiễn của Tôn Đức Thắng; đồng thời cũng thể hiện tầm cao trí tuệ và sự nhạy bén của đồng chí trong việc nhận biết nắm bắt, giải quyết đúng đắn các vấn đề bức xúc do sự biến đổi của tình hình mới đặt ra.

Sau Hội nghị Mặt trận Liên Việt, với tư cách Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Tôn Đức Thắng trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị và tiến hành hai kỳ họp của Quốc hội khoá I. Đó là các kỳ họp công khai của Quốc hội khi trở về Thủ đô Hà Nội sau kháng chiến. Vì lúc này Trưởng ban Thường trực Quốc hội là cụ Bùi Bằng Đoàn đang ốm nặng nên mọi công việc có liên quan đều do Tôn Đức Thắng đảm nhận và đồng chí đã hoàn thành xuất sắc. Một lần nữa, khả năng tổ chức dùng người của Tôn Đức Thắng có dịp toả sáng.

Kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà diễn ra từ ngày 20 đến ngày 26-3-1955; còn kỳ họp thứ năm được tiến hành từ ngày 15 đến ngày 20-9-1955. Tại kỳ họp thứ năm, Quốc hội đã phê chuẩn việc thành lập những bộ máy trong nội các Chính phủ, quy định thống nhất về Quốc ca, Quốc kỳ, Quốc huy. Trong phiên họp cuối cùng của kỳ họp thứ năm, Quốc hội đã nhất trí bầu đồng chí Tôn Đức Thắng giữ chức vụ Trưởng ban Thường trực Quốc hội (thay cụ Bùi Bằng Đoàn đã qua đời tháng 5-1955); phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh cử đồng chí Phạm Văn Đồng làm Thủ tướng Chính phủ, cử đồng chí Võ Nguyên Giáp và cụ Phan Kế Toại giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ. Một trọng trách nặng nề mới thể hiện quyền lực thực tế của quần chúng nhân dân trong chế độ dân chủ mới lại được đặt lên vai Tôn Đức Thắng.

Ngoài hai chức vụ chủ chốt trong Quốc hội và Mặt trận Liên Việt, Tôn Đức Thắng còn được bầu làm Chủ tịch danh dự Uỷ ban Bảo vệ hoà bình thế giới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau đó, tại Đại hội hoà bình thế giới họp ở Henxinki (Phần Lan), tháng 7-1955, Tôn Đức Thắng được chính thức bầu làm Uỷ viên Hội đồng hoà bình thế giới.

Đến thời điểm này, mặc dầu tuổi đã cao, sức khoẻ có phần sút kém, nhưng vì sự tín nhiệm của các tổ chức trong nước và quốc tế, Tôn Đức Thắng đã cố gắng đem hết tài năng, trí tuệ, kinh nghiệm và sức lực của mình để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Đồng chí thật sự trở thành một tấm gương mẫu mực của người chiến sĩ cộng sản với đạo đức cách mạng cao cả, trong sáng.

Từ ngày 13 đến ngày 20-8-1955, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khoá II đã họp tại Thủ đô Hà Nội. Hội nghị đã đánh giá một cách khoa học những diễn biến của thời cuộc từ đó đã xác định vị trí, nhiệm vụ cách mạng cụ thể cho miền Bắc và miền Nam; sứ mệnh của miền Bắc đối với tiến trình cách mạng của cả nước. Hội nghị đã chỉ rõ: ''Nhiệm vụ trước mắt của Đảng ta là phải ra sức tập hợp lực lượng của toàn dân thành một Mặt trận rộng rãi, có một cương lĩnh chung thích hợp để đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập, dân chủ và bằng phương pháp hoà bình; đồng thời đấu tranh để củng cố hoà bình, ngăn ngừa chiến tranh trở lại ở Đông Dương. Muốn thu được thắng lợi trong cuộc đấu tranh đó phải đẩy mạnh việc củng cố miền Bắc, và muốn củng cố miền Bắc phải tăng cường chỉ đạo công tác kinh tế tài chính và ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, củng cố quốc phòng, tăng cường công tác trị an''1.

Tôn Đức Thắng đã trình bày tại Hội nghị Trung ương những ý kiến về công tác mặt trận mà đồng chí đã chuẩn bị từ trước. Trên cơ sở ý kiến của Tôn Đức Thắng, Hội nghị đã thông qua Bản dự thảo Cương lĩnh chung của Mặt trận Dân tộc thống nhất và chỉ rõ: ''Sau khi Bản dự thảo ấy đã chính thức thành Cương lĩnh chung của Mặt trận, nó sẽ là cơ sở tập hợp chung mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình trong cả nước để đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, giành thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh''2Tôn Đức Thắng cũng đề nghị tổ chức càng sớm càng tốt Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất và được Hội nghị Trung ương nhất trí thông qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tám (khoá II) đặt nền móng tư tưởng cho tổ chức và hoạt động của công tác mật trận mà Tôn Đức Thắng là người đứng đầu.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ tám, Tôn Đức Thắng chỉ đạo Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Liên Việt tiến hành chuẩn bị và mở Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất toàn quốc. Đại hội đã diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến ngày l0-9-1955. Tham dự Đại hội có 360 đại biểu, đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân, các chính đảng, đoàn thể các lực lượng vũ trang, các dân tộc, tôn giáo và kiều bào ở nước ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã tới dự.

Đồng chí Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Mặt trận đã đọc Diễn văn khai mạc Đại hội, nêu rõ tình hình và nhiệm vụ hiện tại của đất nước, sự cần thiết phải tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Đồng chí kêu gọi đồng bào cả nước với những lời tha thiết làm lay động triệu triệu tấm lòng: "Chúng ta cùng chung một Tổ quốc, cùng có chung hàng ngàn năm lịch sử, đau khổ có nhau, vinh quy có nhau. Điều đó gắn liền đồng bào toàn quốc, gắn liền đại biểu chúng ta thành một khối''3.

Đại hội đã thảo luận thông qua dự thảo Cương lĩnh, Điều lệ mới và quyết định tên mới của Mặt trận Dân tộc thống nhất là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Cương lĩnh của Mặt trận mở ra một trang mới cho khối đại đoàn kết dân tộc. Hồ Chí Minh rất tâm đắc với Cương lĩnh này và có những đánh giá rất cao. Người nhấn mạnh: Cương lĩnh này là một Cương lĩnh đại đoàn kết, mục đích của nó là đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước.

Ai cũng phải thừa nhận rằng: ''Cương lĩnh của Mặt trận rất vững chắc, rất rộng rãi và rất thiết thực" và Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: "Mặt trận đã xây dựng một Cương lĩnh đúng đắn. Thế là rất tốt cho cuộc đấu tranh sau này. Nhưng đó chỉ là bước đầu trên con đường đi tới thắng lợi hoàn toàn. Từ nay, chúng ta cần phải ra sức đấu tranh để làm cho Cương lĩnh được thực hiện. Cuộc đấu tranh này sẽ rất phức tạp, gay go. Chúng ta phải bền gan, quyết chí. Việc đầu tiên và cấp bách mà chúng ta cần phải làm là đánh thông tư tưởng của mọi người, tuyên truyền giải thích bản Cương lĩnh cho thật sâu, thật rộng từ Bắc đến Nam làm cho một người hiểu thấu tinh thần và nội dung của Cương lĩnh, để mọi người hăng hái ủng hộ Cương lĩnh"4.

Tại phiên họp cuối cùng, Đại hội đã bầu 87 vị vào Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch danh dự. Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đọc Diễn văn bế mạc Đại hội, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã nêu bật những thành công của Đại hội và cảm ơn nhân dân cả nước đã nhiệt liệt cổ vũ và ủng hộ Đại hội.

Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thể hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân. Sự kiện lịch sử trọng đại này, trên thực tế, đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Nó đánh dấu một mốc son chói lọi trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng, khẳng định hình ảnh cao đẹp, đức độ, uy tín của đồng chí đối với nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế.

Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất toàn quốc đã nhận được 11.570 bức thư và một số tặng phẩm gửi đến chào mừng Đại hội. Thay mặt Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng chí Tôn Đức Thắng đã gửi lời cản tạ tới các giới đồng bào và hứa đem hết nghị lực phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc5.

Hoạt động của Tôn Đức Thắng không chỉ góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, mà còn góp phần củng cố hoà bình thế giới. Nhận thấy công lao đóng góp to lớn của đồng chí Tôn Đức Thắng, ngày 9-12-1955, Uỷ ban Giải thưởng hoà bình quốc tế Stalin (giải thưởng này sau đó mang tên Lênin) của Liên Xô quyết định trao tặng đồng chí giải thưởng Stalin "Về sự nghiệp củng cố hoà bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc". Đồng chí là người Việt Nam đầu tiên được nhận giải thưởng cao quý này. Nhân dịp nhận giải thưởng, Tôn Đức Thắng đã trả lời phỏng vấn của phóng viên Thông tấn xã Liên Xô. Đồng chí xúc động nói: "Thật khó mà diễn tả được bằng lời những ý nghĩ và cảm xúc của tôi do việc tôi được tặng giải thưởng hoà bình quốc tế Stalin. Đó thật là một vinh dự lớn cho tôi, một đại biểu của nhân dân Việt Nam. Đó là một sự khen thưởng rất cao, vì rằng những thành tích phục vụ của tôi vẫn còn ít ỏi. Tôi nhận rõ rằng việc tặng giải thưởng Stalin cho tôi là một sự công nhận phần cống hiến mà nhân dân Việt Nam đã và đang đóng góp vào cuộc đấu tranh để tăng cường nền hoà bình ở châu Á và trên khắp thế giới"6.

Là một người thật sự khiêm tốn, đồng chí vẫn do dự vì e rằng mình chưa xứng đáng nhận phần thưởng cao quý mà nước bạn trao tặng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đích thân đến gặp Tôn Đức Thắng. Người khẳng định: Người nhận phần thưởng này là người tiêu biểu, người tiêu biểu đó chính là Cụ. Tôn Đức Thắng vô cùng xúc động trước câu nói đầy tình nghĩa và sự đánh giá chân tình mà Hồ Chí Minh dành cho mình!

Ngày 21-1-1956, tại điện Cremli (Liên bang Xôviết), Uỷ ban Giải thưởng hoà bình quốc tế Stalin tổ chức trọng thể lễ trao giải thưởng Stalin cho đồng chí Tôn Đức Thắng. Tại buổi lễ chính thức Chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ hoà bình thế giới của Liên Xô đã nên rõ: "Do cuộc đấu tranh dũng cảm của đồng chí trong mấy chục năm để giành độc lập và tự do cho nhân dân Việt Nam, do sự hoạt động hăng hái cảa đồng chí để bảo vệ hoà bình trên cương vị Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, đồng chí rất xứng đáng nhận giải thưởng cao quý ấy". Trong lời đáp, đồng chí Tôn Đức Thắng cám ơn Đảng Chính phủ và nhân dân Liên Xô đã trao tặng đồng chí phần thưởng cao quý và khẳng định rằng nhân dân Việt Nam sẽ đấu tranh đến cùng để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và sẽ không ngừng cố gắng để góp phần to lớn hơn nữa cho sự nghiệp giữ gìn và củng cố hoà bình giữa các dân tộc.

Tôn Đức Thắng có quan hệ và tình cảm đặc biệt với đất nước của V.I.Lênin vĩ đại. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, đầy sóng gió, đồng chí đã dành một phần máu thịt của mình cho đất nước Xôviết. Nhân dân Liên Xô nhớ tới người thợ máy Việt Nam dũng cảm tham gia cuộc nổi dậy của Hải quân Pháp ở Hắc Hải và kéo lá cờ đỏ trên chiến hạm Pháp, biểu lộ sự phản đối của mình trước việc hạm đội Pháp tấn công nước Cộng hoà Xôviết non trẻ. Nhân dân Xôviết nhớ tới đồng chí trên cương vị Chủ tịch Hội Việt Xô hữu nghị ngay từ khi Hội nới thành lập (ngày l7-5-1950). Trên cương vị này, đồng chí không ngừng vun đắp cho cây đời hữu nghị Việt Xô mãi mãi đơm hoa kết trái. Nhân dân Liên Xô nhớ tới người cộng sản Tôn Đức Thắng rất mực thuỷ chung, trọn nghĩa vẹn tình.

Mười hai năm sau, kể từ khi được nhận Giải thưởng hoà bình quốc tế Lênin, tháng 11-1967, đồng chí Tôn Đức Thắng lại được Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huân chương Lênin. Đó là những phần thưởng quý giá đối với một đời người!

Trong quá trình khôi phục đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, cùng với xây dựng, phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng quan tâm đến giáo dục, đào tạo, chăm lo bồi dưỡng con người. Theo đề nghị của ngành giáo dục, đồng chí Tôn Đức Thắng đã nhận trách nhiệm Trưởng ban chỉ đạo thanh toán nạn mù chữ Trung ương, thành lập ngày 27-2-1957. Đây là sự tiếp tục nhiệm vụ Trưởng ban Thi đua ái quốc Trung ương mà đồng chí đảm nhiệm trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Trên cương vị mới, do vị trí đặc biệt của mình, đồng chí Tôn Đức Thắng đã thúc đẩy có hiệu quả phong trào xoá nạn mù chữ ở miền Bắc. Đồng chí còn đến tận nhiều địa phương động viên, kiểm tra chất lượng cả người dạy và người học, tạo nên một phong trào quần chúng sâu rộng. Do sự quan tâm của Trung ương Đảng, Chính phủ, có sự đóng góp của đồng chí Tôn Đức Thắng, công cuộc xoá nạn mù chữ ở miền Bắc đã hoàn thành về cơ bản. Phong trào xoá nạn mù chữ ở miền Bắc để lại nhiều kinh nghiệm quý báu được các nước Đông Nam Á và châu Phi chú ý. Một số nước đã cử đoàn sang Việt Nam tham quan học tập và yêu cầu ta cử chuyên gia sang giúp họ trong công tác này. Như vậy, trên tất cả các mặt trận của công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, đồng chí Tôn Đức Thắng đều có sự tham gia chỉ đạo và để lại dấu ấn sâu đậm, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng chung mới mẻ và khó khăn này. Nhờ đó, đời sống của nhân dân dần dần được cải thiện và từng bước nâng cao. Các thành phần kinh tế đều có sự phát triển vượt bậc; kinh tế quốc doanh khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân. Các tầng lớp nhân dân phấn khởi, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; cơ sở xã hội của hệ thống chính trị được củng cố vững chắc. Miền Bắc đã xác lập được các tiền đề cần thiết để bước vào thời kỳ quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nhu cầu cấp thiết của hàng triệu người có khát vọng vươn tới sự giải phóng hoàn toàn và triệt để.

Do những cống hiến xuất sắc của đồng chí Tôn Đức Thắng trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp và trong sự nghiệp bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, tháng 8-1958, nhân dịp đồng chí tròn 70 tuổi, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã quyết định tặng đồng chí Huân chương Sao vàng Huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta. Trong buổi lễ trao tặng huân chương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những cống hiến xuất sắc của Tôn Đức Thắng đối với quá trình cách mạng Việt Nam và thế giới. Đây là sự đánh giá tổng quát, khá đầy đủ và toàn diện của người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta về Tôn Đức Thắng cho đến thời điểm đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc, suất 50 năm đã không ngừng hoạt động cách mạng. 17 năm bị thực dân Pháp cầm tù, chín năm tham gia lãnh đạo kháng chiến, bốn năm phấn đấu để giữ gìn hoà bình thế giới và đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất nước nhà.

Đồng chí Tôn Đức Thắng 70 tuổi nhưng rất trẻ, đối với Đảng, đồng chí là 29 tuổi; đối với nước Việt Nam độc lập đồng chí là 13 tuổi.

Là một chiến sĩ cách mạng dân tộc và chiến sĩ cách mạng thế giới, đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong những người Việt Nam đầu tiên đã tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.

Đồng chí Tôn Đức Thắng tuy tuổi tác đã cao, nhưng vẫn cố gắng để phụ trách nhiều nhiệm vụ quan trọng: Trưởng ban Thường trực Quốc hội,

Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Uỷ viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Chủ tịch Hội Việt Xô hữu nghị,

Chủ tịch danh dự Uỷ ban Bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam,

Uỷ viên Hội đồng hoà bình thế giới.

Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Vì vậy hôm nay chẳng những chúng ta ở đây mà toàn thể đồng bào ta từ Bắc đến Nam và toàn thể nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình đều vui mừng chúc người lão chiến sĩ cách mạng Tôn Đức Thắng sống lâu, mạnh khoẻ.

Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao vàng là huân chương cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và người rất xứng đáng được tặng Huân chương ấy"7.

Trước vinh dự vô cùng lớn lao, đồng chí Tôn Đức Thắng đã cảm động phát biểu: "… Tôi không biết nói gì hơn là hứa lấy cố gắng của tôi để đền đáp công ơn của Đảng, công ơn của Hồ Chủ tịch Người sáng lập và xây dựng Đảng, đã đưa tôi vào con đường vẻ vang và để đền đáp sự tín nhiệm của nhân dân và Chính phủ"8.

Trên cương vị người lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng chí Tôn Đức Thắng không chỉ thực hiện có hiệu quả những công việc mà Đảng đã giao phó, mà còn luôn luôn chăm lo đến tình đoàn kết quốc tế, góp phần thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân ta với bạn bè trên thế giới. Năm 1958, đồng chí dẫn đầu đoàn đại biểu Quốc hội nước ta thăm các nước xã hội chủ nghĩa: Tiệp Khắc, Cộng hoà dân chủ Đức, Hunggari, Anbani, Ba Lan, Mông Cổ. Đồng chí đã được các nước anh em đón tiếp trọng thể và nồng hậu.

2. Cùng với Trung ương Đảng tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đánh bại "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ ở miền Nam (1960- 1 964)

Với những kết quả toàn diện đạt được trong những năm trước đó, bước vào đầu năm 1960, miền Bắc đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, đời sống, an ninh, quốc phòng. Phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa dâng lên mạnh mẽ nhằm hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 1960, năm cuối của kế hoạch ba năm (1958-1960). Cách mạng trên cả hai miền Nam Bắc giành được những thắng lợi ngày càng lớn. Hoàn cảnh mới của đất nước trên cả hai miền đòi hỏi phải bầu lại Quốc hội mới, bởi lẽ Quốc hội khoá I do Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 bầu ra, là Quốc hội đại đoàn kết thống nhất dân tộc, Quốc hội kháng chiến, đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử do Tổ quốc giao phó.

Với tư cách Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tôn Đức Thắng đã đóng góp một phần quan trọng cho thắng lợi của cuộc bầu cử Quốc hội khoá II. Ngày 16-2-1960, Ban Thường trực Quốc hội do Tôn Đức Thắng đứng đầu đã quyết định ngày 8- 5-1960 là ngày bầu cử Quốc hội khoá II trên toàn miền Bắc. Bầu cử Quốc hội là một cuộc vận động chính trị quan trọng nhằm phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân, đẩy mạnh xây dựng miền Bắc theo con đường xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Do ý nghĩa thực tiễn chính trị trọng đại đó, cuộc vận động tổ chức bầu cử được chuẩn bị chu đáo nghiêm túc trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân miền Bắc.

Các cơ quan tuyên truyền, thông tin đại chúng, các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp tích cực tuyên truyền, tổ chức hướng dẫn cho toàn dân nghiên cứu, thực hiện các vấn đề về tính chất của Nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, nhiệm vụ và tổ chức Quốc hội, luật bầu cử đại biểu Quốc hội, tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, v.v đã nâng cao nhận thức của nhân dân về quyền làm chủ nhà nước và ý nghĩa của cuộc bầu cử Quốc hội khoá II.

Ngày 4-4-1960, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam họp để quyết định các cấp bộ Mặt trận, các chính đảng, các đoàn thể phải vận động mọi người tham gia bầu cử và giới thiệu những người ưu tú tiêu biểu ở địa phương ra ứng cử đại biểu Quốc hội. Căn cứ vào Hiến pháp và Nghị quyết đó của Ban Thường trực Mặt trận, các chính đảng, Mặt trận Tổ quốc các cấp, các đoàn thể quần chúng, đã bàn bạc giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội ở các đơn vị bầu cử.

Riêng Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã giới thiệu một danh sách 27 vị ra ứng cử đại biểu Quốc hội. Ngoài các vị đứng trong danh sách chung của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc, các chính đảng đoàn thể cũng giới thiệu một danh sách ứng cử riêng của mình.

Do được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng, cuộc bầu cử Quốc hội khóa II đã thành công rực rỡ. Có tới 97,59% cử tri đã đi bỏ phiếu; số đại biểu bầu được là 362; các đại biểu do Mặt trận giới thiệu trúng cử với số phiếu rất cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với 99,91% tổng số phiếu bầu9. 362 đại biểu trúng cử đại biểu Quốc hội khóa II cùng với 91 đại biểu miền Nam trong Quốc hội bầu khóa I được Quốc hội kéo dài nhiệm kỳ, nâng tổng số đại biểu Quốc hội khóa II lên 453 đại biểu. Đây là hình ảnh khối đại đoàn kết dân tộc rộng rãi, phản ánh đầy đủ ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.

Thực hiện Điều 46 của Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau 2 tháng bầu cử, ngày 6-7-1960 kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa II được triệu tập tại Hà Nội. Tham dự kỳ họp Quốc hội có 427/453 đại biểu.

Khai mạc kỳ họp, Trưởng ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng nêu rõ: "Kỳ họp Quốc hội này giải quyết những vấn đề rất căn bản để kiện toàn Nhà nước ta, đáp ứng một yêu cầu hết sức thiết yếu của cách mạng"l0.

Căn cứ vào báo cáo của Ban Thường trực Quốc hội về tình hình và kết quả cuộc bầu cử và kết quả của Uỷ ban thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội khóa II, Quốc hội đã thông qua nghị quyết xác nhận tư cách của 362 đại biểu Quốc hội trúng cử trong cuộc bầu cử ngày 8-5-1960. Cùng với việc thông qua các đạo luật cơ bản về tổ chức nhà nước là Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Quốc hội bầu những người đứng đầu các cơ quan cao nhất của Nhà nước và thành lập Chính phủ mới.

Trong phiên họp ngày 15-7-1960, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ nhất đã bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng chí giữ chức vụ này trong hơn 9 năm (từ tháng 7-1960 đến tháng 9-1969). Ngày đồng chí Tôn Đức Thắng nhận trọng trách trước Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chúc mừng đồng chí và phấn khởi nói: "Toàn thể Quốc hội nhất trí bầu Cụ làm Phó Chủ tịch nước tức là đồng bào miền Nam bầu Cụ làm Phó Chủ tịch nước. Điều đó tiêu biểu rằng nước ta nhất định thống nhất"11.

Khi nhận chức Phó Chủ tịch nước, Tôn Đức Thắng đã 72 tuổi. Mặc dầu tuổi đã cao, sức khỏe hạn chế, nhưng trên cương vị mới do nhân dân ủy thác, đồng chí đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi kiểm tra đôn đốc chỉ đạo vấn đề công nghiệp, nông nghiệp. Để nắm được thực chất tình hình, đưa ra các quyết định sát đúng thực tế, đồng chí đã dành thời gian đến nhiều nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất. Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về đồng chí Tôn Đức Thắng lại đôn đốc nhân dân thực hiện tết trồng cây" do Hồ Chí Minh đề xuất. Đồng chí thường nêu cao đức tính khiêm tốn, giản dị, chan hòa, gần gũi nhân dân, động viên mọi tầng lớp đồng bào thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng. Thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Tôn Đức Thắng thường tiếp các đoàn ngoại giao, các vị đại sứ, đại diện các nước tại Việt Nam. Mỗi lần gặp vị Phó Chủ tịch nước đều để lại trong lòng họ một ấn tượng tốt đẹp bởi phong thái đôn hậu, chân tình, cởi mở và tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng. Mỗi lần nâng cốc chúc khách nước ngoài, đồng chí không khách khí, đối xử hết lòng, xóa đi sự ngăn cách không đáng có giữa khách và chủ. Dấu ấn đặc trưng này của văn hóa ứng xử Việt Nam in rất đậm ở phong thái ngoại giao Tôn Đức Thắng.

Trên các cương vị của mình, đồng chí Tôn Đức Thắng tích cực tham gia vào việc hoạch định các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tháng 9-1960, trước yêu cầu của nhiệm vụ mới, Đảng Lao động Việt Nam đã triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, họp tại thủ đô Hà Nội. Đây là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình, thống nhất nước nhà.

Đường lối, chủ trương của Đại hội là ngọn cờ dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân ta xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cho miền Bắc có một nền công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa, khoa học tiên tiến, làm cho nhân dân có một đời sống ngày càng vui tươi, hạnh phúc. Miền Bắc giàu mạnh về mọi mặt sẽ tạo nên sự chuyển biến lớn về so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng của cả nước. Nghị quyết Đại hội Đảng chỉ rõ: ''Miền Bắc là căn cứ địa chung của cả nước, sự lớn mạnh không ngừng của miền Bắc không những nâng cao lòng tin tưởng và cổ vũ tinh thần hăng hái cách mạng của đồng bào yêu nước ở miền Nam, mà còn làm cho lực lượng so sánh giữa cách mạng và phản cách mạng trên phạm vi cả nước ta càng nghiêng về phía cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ và giành thắng lợi cuối cùng"12.

Đại hội xác định những nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất là:

- Ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện một bước ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, công nghiệp thực phẩm công nghiệp nhẹ.

- Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh, củng cố và tăng cường thành phần kinh tế quốc doanh, mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

- Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân, đẩy mạnh đào tạo cán bộ và công nhân lành nghề nâng cao năng lực quản lý của cán bộ, xúc tiến công tác khoa học và kỹ thuật.

- Cải thiện thêm một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, mở rộng phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị.

- Ra sức củng cố quốc phòng, trật tự, an ninh xã hội.

Đại hội thông qua nhiệm vụ và phương hướng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất nhằm mục đích tăng cường sức mạnh của Nhà nước dân chủ nhân dân, củng cố sự nhất trí về chính trị và tinh thần của nhân dân miền Bắc, mở rộng đoàn kết quốc tế, v.v..

Tại Đại hội đại biểu Đảng Lao động Việt Nam toàn quốc lần thứ III, đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu lại làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đồng chí Tôn Đức Thắng đã cùng Ban Chấp hành Trung ương liên tiếp mở các hội nghị để cụ thể hóa đường lối phát triển kinh tế trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Đó là Hội nghị lần thứ năm (7-1961) về phát triển nông nghiệp trong những năm 1961 1965 nhằm đưa nông nghiệp tiến nhanh, tiến mạnh trở thành cơ sở vững chắc để phát triển công nghiệp; Hội nghị lần thứ bảy (6-1962) bàn về phát triển công nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý. Đặc biệt, Hội nghị lần thứ tám (5-1963) đã thảo luận và quyết nghị về kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965), xác định phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu và biện pháp chủ yếu của kế hoạch này.

Dựa trên các nội dung cơ bản các Nghị quyết của Đảng và quyết định của Quốc hội, Chính phủ, đồng chí Tôn Đức Thắng thông qua Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam động viên mọi tầng lớp nhân dân thi đua ái quốc, góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Trong thời gian này, đồng chí đã có nhiều bài viết, gặp gỡ cụ thể với nhiều đối tượng dân cư khác nhau. Đi đến đâu, đồng chí cũng đề cập đến yêu cầu hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Trên tất cả mọi lĩnh vực hoạt động ở miền Bắc, phong trào thi đua yêu nước, xây dựng tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là phong trào thi đua "mỗi người làm việc bằng hai" để đền đáp lại đồng bào miền Nam ruột thịt đã diễn ra sôi nổi trong tất cả các ngành, động viên mọi người hăng hái vươn lên, dám nghĩ, dám làm. Sự chỉ đạo và động viên của đồng chí đã góp phần làm cho 4 năm thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đạt kết quả vượt bậc, tạo điều kiện cho miền Bắc nước ta tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới. Những biến đổi căn bản đó đã đưa miền Bắc trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng an ninh lớn mạnh.

Trong khi cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bác, đồng chí Tôn Đức Thắng luôn canh cánh trong lòng nhiệm vụ đấu tranh thống nhất nước nhà, giải phóng miền Nam. Biết mình tuổi đã già, sức đã yếu, không thể về quê hương trực tiếp chiến đấu được, đồng chí đã ngày đêm suy nghĩ góp sức cùng Trung ương chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam, thường xuyên đi thăm các đơn vị bộ đội, gặp gỡ các cán bộ, học sinh miền Nam tập kết, khuyên bảo con cháu chuyên tâm học tập, công tác, rèn luyện để mai sau trở về phục vụ quê hương.

Năm 1960, nghe tin miền Nam đồng khởi và sau đó Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, đồng chí Tôn Đức Thắng thật sự vui mừng. Đồng chí đã gửi điện đến chúc mừng Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, nói rõ mong muốn được gặp mặt để trao đổi, bàn bạc về tiến hành công tác Mặt trận. Từ năm 1960 đến năm 1964, đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc cử nhiều cán bộ về miền Nam công tác.

Khi Bộ Chính trị có các Nghị quyết (l-1961) và (2-1962), đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III, tháng 12-1963), đồng chí đón chào với một niềm lạc quan tin tưởng và ý thức một cách sâu sắc rằng đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ là nhiệm vụ lịch sử cấp bách của toàn dân Việt Nam.

Tình cảm của Phó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đối với miền Nam thật sâu nặng, đầy nghĩa tình ruột thịt. Tháng 10-1962, đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, do giáo sư Nguyễn Văn Hiếu, Tổng thư ký Uỷ ban Trung ương dẫn đầu ra thăm miền Bắc. Đồng chí Tôn Đức Thắng vì bận tiếp một đại sứ nước bạn trình quốc thư không ra ga đón được buổi sáng, nên ngay buổi chiều ngày 19-10-1962 đã tiếp đoàn tại trụ sở Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc và tối hôm đó lại đến thăm riêng giáo sư Nguyễn Văn Hiếu tại nhà khách Chính phủ số nhà 12, phố Ngô Quyền. Chính những giờ phút gặp gỡ, tâm tình đó mới làm thỏa mãn một phần niềm thương nỗi nhớ quê hương, đồng bào, đồng chí, bà con, cô bác... ấp ủ bao năm trong lòng người đồng chí già đó13.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sự ủng hộ và chi viện của miền Bắc, căn cứ địa của cả nước, quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đã tiến công mạnh mẽ cả về chính trị và quân sự trên cả ba vùng chiến lược, làm cho Mỹ Diệm thất bại nặng nề trong việc thực hiện chiến lược ''chiến tranh đặc biệt". Mâu thuẫn giữa Mỹ và ngụy trở nên gay gắt, buộc Mỹ phải đi đến quyết định gạt bỏ Ngô Đình Diệm bằng cuộc đảo chính ở Sài Gòn ngày 1-11-1963. Đế quốc Mỹ đã phải vội vàng dựng lên cái gọi là "Đệ nhị cộng hòa" nhằm tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa chiến lược "chiến tranh đặc biệt'' ở miền Nam với tất cả các loại trang bị và vũ khí hiện đại nhất.

Thắng lợi dồn dập từ miền Nam dội về làm nức lòng đồng bào miền Bắc, làm phấn chấn tâm can Tôn Đức Thắng. Những thắng lợi giành được trên các mặt trận cả hai miền đất nước đã tiếp thêm sức mạnh và tạo nên động lực tinh thần mới Tôn Đức Thắng cùng với Trung ương Đảng chỉ đạo đất nước ta đủ sức, vững vàng lao vào một trận chiến đấu mới gay go, ác liệt hơn và chiến thắng.

3. Cùng với Trung ương Đảng tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong thời chiến, đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam (1964 - 1969)

Thất bại thảm hại trong chiến lược chiến tranh đặc biện ở miền Nam, đế quốc Mỹ điên cuồng ráo riết chuẩn bị đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân. Trước tình hình nghiêm trọng đó, căn cứ vào Điều 67 của Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị chính trị đặc biệt họp ngày 7-3-1964 tại Hà Nội để biểu thị quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hòa bình, thống nhất đất nước. Dự hội nghị có 327 đại biểu, thay mặt cho các chính đảng đoàn thể, dân tộc, tôn giáo, ban ngành, đồng bào miền Nam tập kết và kiều bào ngoài nước.

Báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hội nghị đã đánh giá những chuyển biến to lớn của miền Bắc và của đồng bào miền Nam, vạch rõ âm mưu đẩy mạnh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, nêu rõ quyết tâm và nhiệm vụ của nhân dân toàn quốc trong cuộc đấu tranh bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tại Hội nghị chính trị đặc biệt này, đồng chí Tôn Đức Thắng đã đọc một bài tham luận quan trọng với tiêu đề: ''Động viên toàn dân thực hiện những nhiệm vụ rất lớn lao là rất vẻ vang mà Hồ Chủ tịch đã đề ra''. Trong bài tham luận, đồng chí đã nêu bật được những thành tựu vĩ đại mà nhân dân ta, đặc biệt là đồng bào miền Bắc giành được trên tất cả các mặt đời sống xã hội. Về vai trò của khối đại đoàn kết dân tộc, đồng chí khẳng định: "Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam anh dũng, các đảng phái dân chủ, các đoàn thể nhân dân đã có nhiều thành tích tốt đẹp và đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy những sự chuyển biến tiến bộ nói trên. Những nhân sĩ dân chủ cũng đóng góp xứng đáng trong việc thực hiện Cương lĩnh chung của Mặt trận, trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc. Là một thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các lực lượng ấy nguyện đoàn kết chặt chẽ, luôn luôn làm những người phục vụ trung thành của nhân dân14.

Đối với đồng bào miền Nam, đồng chí biểu lộ những lời thắm thiết: "Tôi muốn được nói với đồng bào miền Nam rằng: từng giờ, từng phút tôi luôn luôn nghĩ đến miền Nam, nơi chôn rau cắt rốn, đang bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai tàn phá, nhớ đến đồng bào miền Nam ruột thịt đã chịu bao đau thương tang tóc, đang chiến đấu anh dũng chống bọn cướp nước hại dân vô cùng hung ác. Tôi rất muốn được sát cánh với đồng bào trong cuộc đấu tranh, cùng đồng bào chia sẻ những gian khổ hy sinh để giải phóng quê hương yêu dấu nhưng đáng tiếc là chưa có điều kiện. Tôi chỉ còn mong ở các cụ phụ lão miền Nam hăng hái động viên con cháu chúng ta tham gia cứu nước, ở các cháu thanh niên miền Nam dũng cảm nối gót cha anh tiến lên giành lấy quyền tự do, quyền sinh sống, và mong đồng bào miền Nam vững lòng tin vào sự tất thắng của cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta15.

Và đồng chí đi đến một kết luận với niềm tin tất thắng: "Với sức mạnh đoàn kết của đồng bào cả nước được sự ủng hộ và đồng tình của nhân dân thế giới, nhất định chúng ta sẽ phá tan được mọi âm mưu của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Miền Nam nhất định sẽ được giải phóng, Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà''16.

Hội nghị chính trị đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì, là một sự kiện quan trọng được dư luận trong nước và thế giới hết sức chú ý, là một thắng lợi chính trị lớn của toàn dân Việt Nam. Thắng lợi đó nói lên một cách hùng hồn sự nhất trí về chính trị và tinh thần của xã hội miền Bắc, đồng thời cũng nêu cao tinh thần cảnh giác và ý chí chiến đấu của nhân dân ta, cổ vũ nhân dân miền Bắc thi đua yêu nước, hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, củng cố tiềm lực về mọi mặt, thúc đẩy nhân dân miền Nam hăng hái chiến đấu chống xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Lời kêu gọi, hiệu triệu của Hồ Chí Minh và Tôn Đức Thắng hai vị lãnh tụ có uy tín tuyệt đối trong nhân dân tạo nên xung lực và hào khí cách mạng để nhân dân miền Bắc tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng, làm tốt các nhiệm vụ trước mắt, trong đó có cuộc bầu cử Quốc hội khóa III.

Ngày 24-2-1964, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định cụ thể về ngày bầu cử, số đại biểu được bầu, cơ cấu đại biểu, số đại biểu dành cho các dân tộc thiểu số, số đơn vị bầu cử ở từng địa phương, thành lập Hội đồng bầu cử Trung ương. Ngay trong Hội nghị chính trị đặc biệt, Hồ Chí Minh đã nêu vấn đề không ngừng tăng cường chính quyền nhân dân, nghiêm chỉnh thực hiện dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ địch.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Tôn Đức Thắng đứng đầu với tư cách một tổ chức hiệp thương dân chủ đã đóng vai trò tích cực trong việc chuẩn bị và vận động, làm cho việc chuẩn bị bầu cử được triển khai sâu rộng, chu đáo, đúng quy định pháp luật. Danh sách cử tri và các vị ứng cử viên đại biểu Quốc hội đã được niêm yết. Các cuộc tiếp xúc với đại biểu cử tri của các vị ứng cử viên đại biểu Quốc hội được tổ chức ở khắp các đơn vị bầu cử.

Ngày 26-4-1964, cuộc bầu cử Quốc hội khoá III được tiến hành trên toàn miền Bắc. Đây là một ngày hội lớn, ngày hội dân chủ và thực hành quyền làm chủ của nhân dân. Số cử tri đi bầu cử đạt tỷ lệ 97,77%. Có nhiều khu vực bỏ phiếu, số cử tri đi bầu đạt tỷ lệ 100%. Kết quả đã bầu được 366 đại biểu, trong đó có 60 đại biểu thuộc các dân tộc thiểu số17Ngoài số đại biểu được bầu, còn có 89 đại biểu Quốc hội khoá I thuộc các tỉnh miền Nam trong vĩ tuyến 17 được kéo dài nhiệm kỳ, tổng số Quốc hội khoá III có 455 đại biểu, thay mặt cho nhân dân cả nước phấn đấu để xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hoà bình, dân chủ và giàu mạnh.

Ngày 27-6-1964, tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội, kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá III khai mạc trọng thể. Về dự kỳ họp này có 429/455 đại biểu. Sau khi nghe và thảo luận các báo cáo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, ngày 3-7-1964, Quốc hội khoá III họp để tiến hành bầu các vị lãnh đạo Nhà nước và thành lập Chính phủ mới. Đồng chí Tôn Đức Thắng lại được Quốc hội khoá III bầu làm Phó Chủ tịch nước với số phiếu rất cao. Sự uỷ thác và tín nhiệm này một lần nữa khẳng định những đóng góp cách mạng của đồng chí, đồng thời cũng biểu lộ lòng tin tưởng của toàn dân vào đức độ, nhiệt huyết và tài năng, trí tuệ của đồng chí trong việc chỉ đạo, cùng toàn Đảng giải quyết hàng loạt vấn đề mới phát sinh trong giai đoạn lịch sử đặc biệt, đầy khó khăn, cam go của dân tộc.

Trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ ngày càng bị sa lầy và thất bại nặng nề. Cuối năm 1964, đầu năm 1965, chiến lược "Chiến tranh đặc biệt của Mỹ đã bị phá sản về căn bản. Quân đội của chính quyền Sài Gòn, công cụ chủ yếu của chiến tranh đặc biệt đang đứng trước nguy cơ tan rã hoàn toàn. Sau chiến thắng Ấp Bắc, quân và dân ta đã nhanh chóng tiến lên đánh lớn. Ở thành thị, phong trào đấu tranh chính trị sôi sục thu hút hàng triệu người, tiêu biểu nhất là Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, càng làm cho chính quyền Sài Gòn lúng túng, hỗn loạn.

Để cứu vãn tình thế ngày 5-8-1964, Mỹ đã gây ra "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" để lấy cớ leo thang mở rộng chiến tranh, ném bom miền Bắc. Lấy cớ "trả đũa", từ ngày 7-2-1965, đế quốc Mỹ dùng không quân và hải quân ồ ạt ném bom bắn phá miền Bắc, tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất đối với miền Bắc nước ta. Ở miền Nam, chúng chuẩn bị đưa quân Mỹ vào để chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ'' một hình thức cao của chiến tranh thực dân kiểu mới. Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả hai miền Nam Bắc Việt Nam, leo những nấc thang cực kỳ nguy hiểm, đe dọa cả hoà bình và an ninh thế giới.

Giữa bối cảnh đó, từ ngày 25 đến 27-3-1965, Hội nghị đặc biệt lần thứ 11 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III đã họp và ra nghị quyết Về tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt của Đảng, Nhà nước và toàn dân Việt Nam. Nghị quyết nêu rõ: "Với những âm mưu và hành động mới của đế quốc Mỹ, tình hình một nửa nước có chiến tranh, một nửa nước có hoà bình đã biến thành tình hình cả nước có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi miền; trong cuộc chiến tranh cách mạng yêu nước của nhân dân cả nước chống đế quốc Mỹ, miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn, nhưng nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam"l8. Khẩu hiệu chung của miền Bắc lúc này là: Xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam!

Trong những giờ phút nước sôi lửa bỏng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đứng đầu là đồng chí Tôn Đức Thắng, đã động viên toàn dân kết thành một khối thống nhất, ra sức thi đua lao động sản xuất và chiến đấu quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc: "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn chiến đấu quét sạch nó đi''. Trong điều kiện chiến tranh, đồng chí đã nhiều lần chủ trì các phiên họp của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để nghiên cứu, bàn biện pháp động viên toàn dân đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, đồng thời biểu dương những thắng lợi của nhân dân cả nước đã giành được trên các mặt trận.

Không phải bằng lời kêu gọi, mà bằng hành động thực tế hàng ngày, đồng chí Tôn Đức Thắng dùng nhiều thời gian xuống thăm hỏi các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, động viên tinh thần chiến đấu đánh giặc của cán bộ chiến sĩ, nhắc nhở mọi người nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù. Cùng với việc chỉ đạo nhân dân đánh giặc, bảo vệ miền Bắc, đồng chí vẫn quan tâm đặc biệt đến các vấn đề quốc kế dân sinh, chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân. Cũng chính trong thời điểm đó, đồng chí đã có những hướng dẫn chu đáo, cụ thể để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, chăm lo cho các cháu thiếu niên nhi đồng.

Hàng năm, cứ đến dịp kỷ niệm ngày Bình dân học vụ (8-9), đồng chí đều gửi thư chúc mừng tới những người làm công tác bổ túc văn hoá. Đồng chí khen ngợi các cấp lãnh đạo địa phương, toàn thể cán bộ, giáo viên, học viên và nhân dân các vùng đã tích cực tham gia tổ chức giảng dạy, học tập, bổ túc văn hoá, xửng đáng với truyền thống chiến sĩ vô danh của công cuộc bình dân học vụ. Đồng thời, đồng chí cũng đề ra nhiệm vụ, nội dung, biện pháp cơ bản để xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên bổ túc văn hoá, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng mới.

Đồng chí Tôn Đức Thắng quan tâm đặc biệt đến việc chăm sóc, giáo dục và bồi dưỡng thế hệ măng non đất nước. Đồng chí là Chủ tịch danh dự Uỷ ban thiếu niên, nhi đồng Việt Nam từ ngày 1-4-1961. Dù ở cương vị nào, hoàn cảnh nào, nhất là trong chiến tranh, Tôn Đức Thắng luôn coi trọng công tác đó, vì các cháu sẽ là chủ nhân thực sự của xã hội tương lai. Đồng thời, vạch rõ công tác thiếu niên, nhi đồng có ý nghĩa cách mạng trọng đại, nó là công tác của toàn Đảng, toàn dân, biểu hiện quan điểm quần chúng của người cách mạng, tính ưu việt của chế độ ta; quan tâm đến thiếu niên, nhi đồng là quan tâm đến tiền đồ của sự nghiệp cách mạng. Trong điều kiện chiến tranh, Tôn Đức Thắng vẫn kêu gọi các ngành, các đoàn thể, các bậc cha mẹ, thầy cô giáo, các cán bộ phụ trách hãy làm tốt công tác giáo dục, chăm sóc và bảo vệ thiếu niên, nhi đồng.

Trên cương vị Phó Chủ tịch nước, đồng chí Tôn Đức Thắng đã thực hiện xuất sắc chính sách đối ngoại của Đảng Nhà nước Việt Nam. Thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí đã nhận trình quốc thư tiếp xúc với đại sứ quán nhiều nước, gửi thư điện chúc mừng quốc khánh các nước, viết bài nhân dịp kỷ niệm các sự kiện quốc tế trọng đại, v.v… Tranh thủ mọi điều kiện, cơ hội, đồng chí mong muốn làm cho nhân dân tiến bộ thế giới thấy rõ bản chất xâm lược của đế quốc Mỹ, cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, kêu gọi mọi người có lương tri giúp đỡ, ủng hộ nhân dân ta đánh thắng tên đế quốc đầu sỏ, ''sen đầm quốc tế", góp phần bảo vệ hoà bình thế giới.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 Cách mạng Tháng Mười (năm 1967), Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết đã tặng đồng chí Tôn Đức Thắng, trên cương vị Uỷ viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội trưởng Hội hữu nghị Việt Xô, Huân chương Lênin, Huân chương cao nhất của Liên Xô, vì đã góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền Xôviết trong thời kỳ nội chiến và xây dựng tình hữu nghị Việt Xô. Tiếp nhận Huân chương Lênin, đồng chí Tôn Đức Thắng đã phát biểu nêu rõ: ''Đây không những là vinh dự riêng đối với tôi mà còn là vinh dự chung đối với giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam..., là sự cổ vũ nhân dân Việt Nam quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược".

Với tinh thần "tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược'', nhân dân miền Bắc, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, trong đó có Tôn Đức Thắng, đã ra sức thi đua thực hiện tốt nhất các kế hoạch kinh tế nhà nước, chi viện tích cực cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh Mỹ, đã giành thắng lợi ngày càng to lớn. Thắng lợi ở hai miền Nam Bắc, nhất là thắng lợi trong chiến lược của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 đã làm thất bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Ngày 1-11-1968, Giônxơn tuyên bố chấm dứt hoàn toàn việc ném bom, bắn phá và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chấp nhận họp Hội nghị Pari để giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam, thừa nhận đại diện Chính phủ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong Hội nghị.

Đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, Tôn Đức Thắng có sự quan tâm đặc biệt. Đồng chí dành những tình cảm sâu nặng nhất cho cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ của đồng bào ở miền Nam. Đồng chí theo dõi tình hình, vui sướng khi miền Nam thắng lợi; lo lắng khi cách mạng miền Nam gặp khó khăn. Đồng chí rất tin tưởng ở ngày thắng lợi cuối cùng của đồng bào miền Nam. Niềm tin của đồng chí cũng là niềm tin sắt son của 31 triệu nhân dân cả nước Việt Nam anh hùng.

Tôn Đức Thắng đã cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo nhân dân miền Bắc ra sức thi đua làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Sự đóng góp sức lực và trí tuệ của đồng chí đã góp phần làm phá sản chiến lược ''Chiến tranh đặc biệt", "Chiến tranh cục bộ", ''Chiến tranh Việt Nam hoá" của đế quốc Mỹ. Cách mạng miền Nam tin tưởng, vững vàng tiến về phía trước. Giải pháp toàn bộ 10 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng cùng với sự ra đời của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố vấn Chính phủ là một thắng lợi chiến lược đối với cách mạng miền Nam. Thắng lợi đó cũng là mong muốn khôn nguôi của Tôn Đức Thắng.

Ngày 20-8-1968, nhân dịp Tôn Đức Thắng tròn 80 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chúc tặng hai câu thơ:

Càng già chí khí càng dai

Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn già.

Hai câu thơ phản ánh một cách thật chính xác bản lĩnh, cất cách và tâm hồn Tôn Đức Thắng.

Như vậy, dù ở trên cương vị nào, là Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trưởng ban thanh toán nạn mù chữ, Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà..., Tôn Đức Thắng đã cùng Đảng, Nhà nước, Mật trận lãnh đạo nhân dân ta giành nhiều thắng lợi to lớn trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cách mạng giải phóng miền Nam. Năng lực hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trên nhiều lĩnh vực và uy tín trong Đảng, nhân dân của đồng chí ở giai đoạn này tạo cơ sở để Tôn Đức Thắng gánh vác một trọng trách cao cả hơn vinh dự hơn, nặng nề hơn ở giai đoạn cách mạng sau.

___________

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 16, tr. 517-572.

2. Sđd, tr. 574.

3. Tôn Đức Thắng: ''Diễn văn khai mạc Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất toàn quốc (5-9-1955)'', Báo Nhân dân, số 552, ngày 6-9-1955.

4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t. 8, tr. 66-67.

5. Báo Nhân dân, số 565, ngày 19-9-1955.

6. Báo Nhân dân, số 664, ngày 27-12-1955.

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t. 9, tr. 220-221.

8. Báo Nhân dân, số 1621, ngày 20-8-1958.

9. Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1960 – 1976, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 21.

10. Sđd, tr. 23

11. Báo Nhân dân, số 2310, ngày 16-7-1960.

12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 21, tr. 509.

13. Đức Vượng: "Từ thành đồng Tổ quốc đến Hà Nội giải phóng… Sài Gòn giải phóng", trong Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ An Giang: Bác Tôn (1888 - 1980) cuộc đời và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1988, tr. 180.

14. Tôn Đức Thắng: "Động viên toàn dân thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ rất lớn và rất vẻ vang mà Hồ Chủ tịch đã đề ra'', trong: Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888 – 1980), Sở Văn hóa và Thông tin An Giang xuất bản, 1988, tr. 264.

15. Sđd, tr. 265

16. Sđd, tr. 266.

17. Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1960 – 1976, Sđd, tr. 80, 81.

18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, t. 26, tr. 108.