Chương II - TRƯỞNG THÀNH TRONG ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG (1928 - 1945)

Cập nhật lúc 15h45  -  Ngày 12/10/2016

share facebookgửi emailin bài này

TRƯỞNG THÀNH TRONG ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG (1928 -1945)

1. Đi theo con đường cách mạng vô sản

Tại Hà Nội, đồng chí Lê Duẩn làm nhân viên thư ký đềpô thuộc Sở Hoả xa Đông Dương. Hà Nội trong những năm cuối của thập kỷ 20 là một trong những trung tâm sôi động của phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Thông qua tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chủ nghĩa Mác-Lênin đã thâm nhập vào Việt Nam. Giai cấp công nhân đã nhận thức được sứ mệnh vinh quang của mình trong sự nghiệp đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp và dân tộc. Từ năm 1928, phong trào công nhân bắt đầu chịu ảnh hưởng và dần dần phong trào đã do chính tổ chức tiền thân của Đảng lãnh đạo. Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã xây dựng cơ sở ở khắp ba miền đất nước. Số hội viên lên đến hàng nghìn người và hàng chục nghìn quần chúng cảm tình. Chịu ảnh hưởng trực tiếp của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tháng 7-1928, những hội viên của tổ chức Phục Việt cũ đã thành lập Tân Việt Cách mạng Đảng. Tân Việt Cách mạng Đảng đã xây dựng được nhiều cơ sở ở các tỉnh Trung Kỳ, Nam Trung Kỳ và một phần Bắc Kỳ. Cùng với sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng giữa giai cấp công nhân và các giai cấp khác cũng diễn ra quyết liệt. Những biểu hiện của hệ tư tưởng tư sản như chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, dần dần biến chất và trở nên lỗi thời. Lập trường cách mạng giải phóng dân tộc của công nhân đã thắng lập trường giải phóng dân tộc của tư sản"Điều ta có thể khẳng định là sau cuộc bạo động Yên Bái, giai cấp vô sản trở thành lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, là ngọn cờ lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc đã nằm trọn vẹn trong tay giai cấp vô sản"1Đồng chí Lê Duẩn cùng hai người bạn quê ở Quảng Nam Đà Nẵng thuê nhà tại ngõ Gạch đường Yên Phụ và ngày ngày đi bộ đến nhiệm sở, nay là khu vực ga Hà Nội. Một nhân viên thư ký lúc bấy giờ đã được coi như trí thức. Khác với những đồng nghiệp thường ăn mặc theo kiểu âu phục, Lê Duẩn vẫn mặc áo dài đen, đi guốc mộc. Nhưng bên trong sự giản dị về trang phục đang chứa đựng những khát khao cháy bỏng về tìm tòi và hành động. Công việc hàng ngày của một nhân viên thư ký đềpô là làm sổ sách và ghi chép phiếu xuất nhập các loại trang thiết bị, vật tư sửa chữa. Đồng chí Lê Duẩn đã nhanh chóng làm quen với công việc và môi trường sống mới. Phố phường Hà Nội vừa mang dáng dấp cổ kính kiểu cố đô Huế, vừa đầy vẻ náo nhiệt của một đô thị tập trung nhiều công xưởng, hiệu buôn...

Một sáng chủ nhật, đồng chí Lê Duẩn tình cờ bước vào hiệu sách Văn Khê thư quán ở phố Hàng Gai và bắt gặp lại những cuốn sách của Nhà xuất bản Quan Hải tùng thư của Đào Duy Anh ở Huế như: Dân tộc là gì? Tôn giáo là gì? Lịch sử các học thuyết kinh tế... và nhiều cuốn mới lạ. Đồng chí đọc say mê, thích thú. Người chủ quán là đồng chí Nguyễn Tạo cũng là một thanh niên miền Trung. Lúc này, tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng đang phát triển các cơ sở ra miền Bắc, đồng chí Nguyễn Tạo được giao nhiệm vụ mở hiệu sách để làm nơi liên lạc, tuyên truyền, gây dựng cơ sở cho tổ chức. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, những thanh niên cùng chí hướng thường dễ đến với nhau. Đồng chí Lê Duẩn nhanh chóng trở thành người khách gần gũi và thân thiết của hiệu sách Văn Khê. Đồng chí được đọc Đảng chương và Điều lệ của tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng. Cuối năm 1928, đồng chí Lê Duẩn chính thức gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng và sinh hoạt cùng tiểu tổ với các đồng chí Nguyễn Tuân Thức, Nguyễn Hữu Phước ở khu vực ga. Như nhiều thanh niên giàu hoài bão và ước mơ, cứ nghe nói đến cách mạng đánh đuổi thực dân, xóa bỏ áp bức bóc lột, giải phóng người lao động là đồng chí hăng hái tin theo. Sau này đồng chí kể lại: “Đối với thanh niên không có gì làm họ say mê bằng cách mạng. Khi còn trẻ, một lần được ngồi ba, bốn người nói chuyện về cách mạng, chúng tôi thấy lòng phấn khởi như muốn bay, muốn nhảy, tưởng muốn đem sức mình lay chuyển cả đất trời mới hả dạ”2.

Đồng chí được phân công tuyên truyền, vận động thanh niên khu vực các ga Hà Nội, Gia Lâm. Vừa hoạt động, đồng chí vừa say mê tìm đọc thêm tài liệu, sách báo để mở rộng tầm nhìn. Đồng chí được tiếp xúc với những tài liệu của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, được đọc Đường cách mệnh, báo Thanh niên, được gặp gỡ với nhiều khuôn mặt mới. Dần dần đồng chí tự lý giải được nhiều điều trăn trở và tích luỹ thêm những trí thức, kinh nghiệm về phương pháp vận động quần chúng. Đầu năm 1929, những người phụ trách Tổng bộ của tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng bị bắt. Phần lớn những người phụ trách các Kỳ bộ và liên tỉnh không tán thành chủ trương của Tổng bộ Tân Việt Cách mạng Đảng đề nghị thành lập Khối quốc gia. Trong khi đó ảnh hưởng của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ngày càng lan rộng. Nhiều hội viên của Tân Việt Cách mạng Đảng chuyển sang hoạt động cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong hoàn cảnh đó, các đồng chí Trần Học Hải và Mai Lập Đôn đang hoạt động trong phong trào công nhân Hà Nội đã giới thiệu đồng chí Lê Duẩn gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tổ chức vẫn phân công đồng chí Lê Duẩn phụ trách công tác vận động, tuyên truyền anh em công nhân ngành đường sắt. Do tính chất công việc, đồng chí có dịp đi lại nhiều nơi dọc tuyến đường sắt Hà Nội Lạng Sơn, Hà Nội Hải Phòng, Hà Nội Lào Cai, tiếp xúc với mọi tầng lớp quần chúng lao động. Đồng chí tích cực tham gia gây dựng thêm nhiều cơ sở trong giới thợ thuyền, thanh niên, bà con lao động và phát động đấu tranh. “Một số đoàn viên ở ga Hàng Cỏ được đồng chí Lê Văn Nhuận trực tiếp giác ngộ. Những đoàn viên ở những cơ sở nói trên đã hoạt động rất hăng hái, táo bạo. Tổ chức kỷ niệm lần thứ 12 Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại, đoàn viên ga Hàng Cỏ rải truyền đơn kêu gọi đồng bào ủng hộ Liên bang Xôviết”3.

Hoà mình trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Hà Nội, đồng chí Lê Duẩn càng tin ở sức mạnh đoàn kết của quần chúng lao động và khả năng đánh đổ cường quyền và bạo ngược, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột.

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào đấu tranh cách mạng ở Hà Nội có thêm những nhân tố mới chuẩn bị tiến tới cao trào cách mạng sôi động trong cả nước trong những năm 1930 – 1931, mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ, Bí thư Thành uỷ Hà Nội, đã tiếp nhận đồng chí Lê Duẩn về sinh hoạt tại Đảng bộ thành phố. Từ một thanh niên giàu lòng yêu quê hương đất nước và mang nặng nỗi đau đồng loại, đồng chí Lê Duẩn đã sớm trở thành một chiến sĩ cộng sản.

Thời gian này đồng chí Lê Duẩn đã đưa vợ ra Hà Nội. Chị Sương vừa sinh con đầu lòng. Đồng chí đã chuyển về ở Ngõ Chợ Khâm Thiên. Bé trai mang tên Lê Hãn, để gợi nhớ con sông quê hương. Tuy mới chỉ hiểu biết qua về công việc của chồng, chị Sương cũng ráng sức làm tròn bổn phận người vợ để anh yên tâm hoạt động. Thấy anh đi về khi sớm, lúc muộn, có khi vắng nhà đến vài ngày, chị mong chờ, phấp phỏng, lo âu nhưng không bao giờ gạn hỏi. Hiểu và tin vợ, đôi khi đồng chí nhờ vợ cất hộ bọc truyền đơn, tập tài liệu, chuyển giúp lá thư. Ngõ Chợ Khâm Thiên chật hẹp nằm sâu hun hút trong dãy phố đầy rẫy tiệm hút, nhà hàng, cũng xác xơ, nghèo khó như xóm nghèo chợ Sãi, nơi đồng chí Lê Duẩn sinh ra, lớn lên rồi từ đó quyết chí ra đi. Bà con ở đây cũng quý đồng chí như mọi viên chức nghèo tốt bụng. Cơ sở quần chúng cách mạng trong xóm Chợ Khâm Thiên dần dần được gây dựng và lan rộng. Khi chị Sương mang thai lần thứ hai thì hai vợ chồng lại chuyển đến chỗ ở mới tại phố Huế.

Sau Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930, một số cơ quan chuyên môn của Trung ương và Xứ uỷ được củng cố lại. Đồng chí Lê Duẩn được phân công làm Uỷ viên Ban Tuyên huấn Xứ uỷ Bắc Kỳ, do đồng chí Trịnh Đình Cửu phụ trách. Từ đó đồng chí Lê Duẩn rời Sở Hoả xa Đông Dương và bắt đầu cuộc đời hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Đồng chí đưa gia đình về quê để có điều kiện cống hiến hết sức mình cho cách mạng.

Cơ quan tuyên huấn Xứ uỷ Bắc Kỳ đặt trụ sở hoạt động ở Hải Phòng. Phong trào cách mạng đang lên mạnh, công việc càng bề bộn. Đồng chí Lê Duẩn được phân công phổ biến Luận cương chính trị cho các địa phương, biên soạn tài liệu, phát hành báo chí, truyền đơn và vận động phong trào quần chúng đấu tranh cách mạng. Đồng chí có nhiều dịp làm việc với các lãnh đạo của Đảng như: Trần Văn Lan, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Phong Sắc. Được tôi luyện trong thực tiễn cách mạng, đồng chí Lê Duẩn đã trở thành một cán bộ cách mạng trẻ tuổi, gan góc dạn dày kinh nghiệm.

Tháng 4-1931, Trung ương Đảng và Xứ uỷ Bắc Kỳ chủ trương phát động phong trào quần chúng đấu tranh mạnh mẽ ở Hà Nội, Hải Phòng trong dịp kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5-1931. Cán bộ các Ban công tác của Trung ương như Tài chính, Công vận, Tuyên huấn khẩn trương chuẩn bị nội dung, phối hợp lực lượng phát động quần chúng đấu tranh. Đồng chí Lê Duẩn chịu trách nhiệm lãnh đạo và tổ chức cuộc đấu tranh tại các xí nghiệp sản xuất công nghiệp và các khu lao động ở Hải Phòng.

Công việc đang tiến hành thuận lợi thì Nghiêm Thượng Biền, Quyền Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ bị bắt. Không chịu được đòn, Biền đã khai báo tất cả những đầu mối liên lạc do hắn phụ trách và biết rõ. Chiều ngày 20-4-1931, Sở Mật thám Pháp ở Hà Nội cho hai tên cẩm cáo già là Dugiôn và Rinê chỉ huy hai xe chở đầy cảnh sát và mật thám về Hải Phòng phối hợp với lực lượng tại chỗ lùng sục. Cuộc vây ráp kéo dài đến nửa đêm. Bảy cơ quan của Trung ương và Xứ uỷ tan vỡ, 36 đồng chí bị sa vào tay giặc. Đồng chí Lê Duẩn cùng với các đồng chí trong Ban Tuyên huấn Xứ uỷ Bắc Kỳ như: Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Thị Lệ, Triệu Thị Đỉnh, bị bắt tại ngôi nhà số 8 ngõ Quảng Lạc. Cùng thời gian này, địch mở các cuộc lùng sục, bắt bớ nhiều chiến sĩ cộng sản ở Thái Bình, Nam Định, Hòn Gai Cẩm Phả, Nghệ An, Hà Tĩnh, Sài Gòn Chợ Lớn..., trong đó có nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng như: Trần Phú, Trần Văn Lan, Nguyễn Đức Cảnh… Thực dân Pháp quyết dìm phong trào cách mạng Đông Dương trong biển máu.

2. Trưởng thành trong nhà tù đế quốc

Sau khi bị bắt, đồng chí Lê Duẩn bị tạm giam ở Sở Mật thám Đông Dương rồi Nhà tù Hoả Lò Hà Nội. Bọn mật thám Pháp triệt để khai thác những người mới bị bắt với hy vọng lần thêm được những đầu mối của tổ chức cách mạng. Địch dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ và tra tấn dã man để lung lạc tinh thần và ý chí chiến đấu của các đồng chí ta. Đồng chí Nguyễn Hoàng Tôn, một đoàn viên thanh niên mới 17 tuổi liên lạc của Trung ương và Xứ uỷ bị đòn thù tàn ác nhất. Địch đã dùng đủ mọi cực hình tra tấn để tìm ra các cơ quan đầu não và lùng bắt những người lãnh đạo của Đảng. Chúng tra tấn anh chết đi sống lại nhiều lần, nhưng Nguyễn Hoàng Tôn vẫn tỏ rõ khí phách hiên ngang trước quân thù, cắn răng chịu đựng để giữ vững khí tiết người chiến sĩ cộng sản. Noi gương bạn trẻ, Lê Duẩn cũng bất chấp xiềng xích và roi vọt của quân thù. Mácty, trùm mật thám Pháp ở Đông Dương, rồi Ácnu, Chánh Mật thám Pháp ở Bắc Kỳ thay nhau hỏi cung Lê Duẩn. Bị bắt giữa lúc đang họp nên địch biết khá rõ về công việc đồng chí đang làm. Trước sau như một, đồng chí chỉ trả lời chúng bằng sự im lặng.

Địch đưa nhiều người bị bắt đến để đồng chí nhận diện, nhưng đồng chí chỉ một mực lắc đầu. Dụ đỗ tra hỏi không kết quả, chúng dùng roi da lõi đồng, roi cá đuối đánh tới tấp lên người. Sau một buổi hỏi cung, mình mẩy sưng vù, các khớp xương đau nhức. Về đến phòng giam, trong vòng tay, ánh mắt của đồng chí, bạn bè, nỗi đau thể xác như với dần, sức mạnh tinh thần như lại được nhân lên. Không khai thác được gì thêm, địch lập hồ sơ khép Nguyễn Hoàng Tôn tội tử hình và xếp Lê Duẩn vào loại tù nguy hiểm.

Nhà tù Hoả Lò cũng như Khám Lớn ở Sài Gòn và Nhà lao Thừa Phủ ở Huế là nơi tạm giam những tù nhân chưa thành án và cũng là nơi luân chuyển người tù. Nhà tù Hoả Lò ra đời cùng với sự thiết lập ách thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương. Nhà tù có các dãy phòng giam tù chính trị, tù thường phạm, phụ nữ và trẻ em. Sức giam giữ của Nhà tù Hoả Lò trên thiết kế là 400 người tù, trong đó có tới 40 xà lim án chém, nhưng mới tính đến ngày 4-10-1931, địch đã dồn vào địa ngục này tới 1.451 người. Chiếc máy chém đứng sừng sững bên cổng chính Nhà tù Hỏa Lò tượng trưng cho “sức mạnh" và nền “văn minh” của nước Pháp. Tại đây, Lê Duẩn gặp lại nhiều đồng chí, bạn bè đã từng gắn bó trong buổi đầu đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng con người như các đồng chí: Nguyễn Tạo, Nguyễn Tuân Thức, Ngô Đình Mẫn, Trần Học Hải và các đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Lan, Trịnh Đình Cửu, Khuất Duy Tiến, Đặng Xuân Khu, Trần Văn Cung, Bùi Vũ Trụ, Vũ Trọng Đàm, Phạm Quang Lịch, Vũ Thiện Chân… Mấy tháng sau có thêm đồng chí Nguyễn Lương Bằng bị mật thám Pháp bắt từ Trung Quốc đưa về. “Bọn thực dân muốn giết hại tù chính trị, giết hại những người cộng sản để tiêu diệt phong trào cách mạng Việt Nam"4. Cùng với toà án và bộ máy cảnh sát đồ sộ, chúng muốn dùng nhà tù để làm công cụ nô dịch nhân dân ta. Người tù phải nằm chen chúc lên sàn ximăng. Mùa đông lạnh thấu xương, mùa hè thì oi nồng, ngột ngạt. Thức ăn chủ yếu là gạo mục và cá mắm thối. Tuy nằm giữa phố phường đô hội mà trong lao tù cách biệt hẳn với bên ngoài. Thân nhân đến thăm phải đứng bên hàng rào sắt cách người tù một khoảng sân hẹp, nên cứ phải gào to lên mới nghe được nhau. Hằng tuần, người tù phải thay phiên nhau lội xuống thùng vệ sinh múc phân chuyển lên xe. Nhiều người yếu quá có khi ngã gục hoặc chết dưới thùng phân. Bọn cai ngục mặc sức đánh đập, ức hiếp người tù.

Không tìm được chứng cứ luận tội, ngày 15-11-1931, Hội đồng đề hình thực dân Pháp kết án 102 tù nhân, trong số đó có 86 chiến sĩ cộng sản. Phiên toà kéo dài suốt ba ngày. Khu vực xét xử nằm kề bên Nhà tù Hoả Lò, gần ngay Sở Mật thám. Tù nhân bị đánh thức dậy từ sáng sớm, bị xích tay và do lính Pháp áp giải sang toà án. Bọn sen đầm súng cắm lưỡi lê đứng gác thành hai hàng ngay giữa sân. Tên thực dân Busê, Giám đốc chính trị Đông Dương làm chánh án. Đốc lý là Ghilơmanh, chưởng lý là Môrô, bồi thẩm là đại uý Buốcgiao. Phiên toà chỉ có kẻ xét xử và những người bị xử. Vài nhà báo được đến đưa tin theo ý của nhà cầm quyền. Lính Pháp canh giữ nghiêm ngặt cả vòng trong, vòng ngoài. Trong số người bị đưa ra xét xử có các đồng chí: Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Lan, Trịnh Đình Cửu, Khuất Duy Tiến, Vũ Trọng Đàm, Lê Duẩn, Vũ Thiện Chân, Phạm Quang Lịch... Bọn quan toà cho gọi từng người lên để luận tội. Trước đó, chi bộ Đảng trong Nhà tù Hoả Lò đã đề ra chủ trương biến toà án đế quốc thành diễn đàn đấu tranh. Một đồng chí có trách nhiệm phải lên án chế độ thực dân, bênh vực quyền lợi cho giai cấp, cho đồng bào mình. Đồng chí nào xuất thân từ học sinh thì tố cáo chính sách giáo dục ngu dân, đồng chí nào là nông dân thì phản đối chế độ sưu cao thuế nặng. Đến lượt mình, đồng chí Lê Duẩn vạch trần những thủ đoạn áp bức, bóc lột của bọn chủ Pháp đối với thợ thuyền ngành đường sắt và nói lên cuộc sống cực nhọc của anh chị em công nhân các bến tàu, xưởng thợ. Bọn quan toà kết tội chung đối với các chiến sĩ cộng sản là đã âm mưu "xúi giục dân nổi loạn" và tuyên án hàng loạt mức phạt tù. Đồng chí Lê Duẩn bị kết án 20 năm cầm cố. Các đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Hồ Ngọc Lân bị tử hình. Bọn quan toà chưa dứt lời, Vũ Thiện Chân, bí thư chi bộ nhà tù, giương sao cờ đỏ búa liềm. Tất cả những người tù nhất loạt đứng dậy hô vang các khẩu hiệu:

- Đả đảo thực dân Pháp!

- Đả đảo Hội đồng đề hình !

- Đả đảo án tử hình !

Đồng chí Lê Duẩn cũng ngẩng cao đầu hoà theo tiếng hô đanh thép và căm hờn của các đồng chí thân yêu.

Một buổi sáng giữa tháng 12-1931, thực dân Pháp chở 75 tù nhân, phần lớn là những chiến sĩ cộng sản, xuống Hải Phòng để đày ra Côn Đảo. Đồng chí Lê Duẩn cùng đi với các đồng chí Khuất Duy Tiến, Lê Thanh Nghị, Trần Quý Kiên, Nguyễn Tuân Thức. Khi anh em đến Hải Phòng, trên các nóc nhà thờ đang được chăng đèn kết hoa để chuẩn bị kỷ niệm ngày Chúa giáng sinh. Địch đưa cả đoàn tù vào giam trong Nhà lao Hải Phòng. Nhà lao Hải Phòng nằm giữa khu phố đông người. Trong đoàn tù có đồng chí Nguyễn Thành Long, nguyên là một học sinh quê ở Thái Bình. Nguyễn Thành Long có biệt hiệu Long tàu bay vì đồng chí rất giỏi nghề cơ khí và có tài mở được các loại khoá. Được anh em ủng hộ, Long quyết định sẽ vượt ngục. Long xé chăn lấy sợi bện dây thừng và chuẩn bị móc sắt. Đêm 20-12-1931, các đồng chí ta đứng chồng lên vai nhau làm thang cho Long trèo lên mái dỡ ngói và dùng dây thừng, móc sắt leo qua sân thoát ra ngoài. Sáng hôm sau, phát hiện có người trốn, bọn cai ngục liền cùm chân tất cả tù nhân. Anh em bàn nhau phải tổ chức đấu tranh phản đối. Lê Duẩn đề nghị tuyệt thực để chống lệnh cùm chân. Khuất Duy Tiến, Nguyễn Tuân Thức, Vũ Thiện Chân... cũng chủ trương không nên manh động, nhưng số tù Quốc dân Đảng muốn tỏ ra hăng hái, đề nghị phải dùng vũ lực để đánh cả bọn cai ngục. Gạch đá, thanh sắt, gậy gộc được chuẩn bị. Sau giờ ăn cơm chiều ngày 21- 12-1931, những tiếng hò la vang dội trong nhà giam mở đầu cho cuộc đấu tranh. Bọn cai ngục và lính gác xông vào các phòng giam đe doạ khủng bố. Những người khỏe mạnh như Trần Quý Kiên, Trần Bảo, Lê Thanh Nghị... cầm gậy đứng trấn giữ cửa ra vào; Lê Duẩn, Khuất Duy Tiến, Nguyễn Tuân Thức, Vũ Thiện Chân đứng hỗ trợ phía sau. Bọn cai ngục và lính gác không sao vào được. Tiếng hò la phản đối khủng bố, phản đối cùm chân càng dữ dội. Địch hoảng sợ cho xe phun nước tới đàn áp. Các đồng chí ta vẫn giữ chặt cửa ra vào. Đến lúc đó số tù Quốc dân Đảng hoảng sợ đã lùi cả lại phía sau, chỉ còn một mình anh Dương vẫn sát cánh cùng những người tù cộng sản chiến đấu đến cùng. Một đơn vị lính khố xanh được tăng cường tới đàn áp nhưng binh lính không chịu nổ súng vào những người tù. Địch phải dùng một trung đội lính Pháp đến xả trung liên bắn vô hồi về phía trại giam. Bảy chiến sĩ cộng sản hy sinh. Anh Dương, một tù nhân Quốc dân Đảng rất có cảm tình với các đồng chí ta, cũng trúng đạn tử thương. Chưa có tàu đi Côn Đảo, cả đoàn tù bị cùm chân suốt một tháng, rồi lại bị đưa về Hoả Lò.

Sau cuộc đấu tranh lưu huyết tại Hải Phòng, chi bộ nhà tù tổ chức rút kinh nghiệm về phương pháp đấu tranh. Lê Duẩn phân tích tác hại của tư tưởng manh động của những người tù Quốc dân Đảng.

Từ năm 1932, sau khi tổ chức chi bộ được củng cố, phong trào học tập, đấu tranh trong Nhà tù Hoả Lò dần dần đi vào nền nếp và ngày càng phát triển mạnh. Chi bộ bắt tay xây dựng một số tổ chức quần chúng như Lao tù hội, Đoàn thanh niên, Đội hồng thập tự, Ban trật tự... để thông qua đó tập hợp quần chúng, tổ chức đấu tranh. Nhiều cuộc đấu tranh liên tiếp nổ ra, bắt đầu từ những cuộc đấu tranh đòi cải thiện chế độ lao tù tàn bạo. Hình thức đấu tranh chủ yếu là hò la và tuyệt thực. Nhờ đoàn kết và có tổ chức, địch dần dần phải nhượng bộ. Chúng phải cho máy đến hút phân, phải cho người tù ra sân chơi, sưởi nắng, tù nhân bớt phải ăn gạo mục, cá mắm thối, khi ăn được tháo xiềng xích, ăn uống được dọn bằng mâm. Hàng tuần có thợ cạo vào cắt tóc. Ngày 5 hàng tháng, thân nhân được vào thăm người tù.

Cùng với các đồng chí trong chi bộ Đảng, đồng chí Lê Duẩn hăng hái tham gia ý kiến tổ chức lãnh đạo đấu tranh và tuyên truyền, vận động quần chúng trong nhà tù. Từ những yêu sách để cải thiện chế độ lao tù, anh em tổ chức những cuộc đấu tranh mang ý nghĩa chính trị và tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản. Mở đầu cho những phong trào như thế là cuộc kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5-1932. Các đồng chí ta đã có kế hoạch tô chức ngày lễ này từ rất sớm. Hình thức kỷ niệm chính là diễn thuyết, ca hát và diễn kịch về ngày truyền thống của những người lao động trên toàn thế giới.

Đồng chí Lê Duẩn đóng vai diễn trong vở kịch có nội dung ca ngợi giá trị cao quý của tầng lớp thợ thuyền, lên án bất công và bạo ngược, kêu gọi những người lao động đoàn kết đấu tranh cho quyền lợi giai cấp. “Sau buổi diễn kịch trong nhà lao, đồng chí Lê Duẩn và một số anh em khác diễn kịch bị bọn cai ngục cho là cầm đầu, kiếm cớ bắt đem vào xà lim cùm một tháng"5.

Do đã phán đoán được tình hình và được chuẩn bị từ trước, chi bộ kịp thời chuyển hướng lãnh đạo cuộc đấu tranh vận động bằng một cuộc hò la hô khẩu hiệu vang dội khắp các dãy phòng giam. Rút kinh nghiệm những cuộc đấu tranh trước, lực lượng đấu tranh được tổ chức khá chặt chẽ để đối phó với sự khủng bố của địch. Những người trẻ, khoẻ được bố trí đứng ngoài để đỡ đòn, bảo vệ cho các đồng chí già yếu. Cả trại giam thay nhau hò la, hô khẩu hiệu. Nếu giặc khủng bố trại này, trại kia lên tiếng hỗ trợ để phân tán lực lượng đàn áp. Cuộc đấu tranh ngày 1-5-1932 kéo dài từ chập tối tới nửa đêm với các khẩu hiệu:

- Tinh thần ngày Quốc tế Lao động 1-5 muôn năm!

- Ủng hộ Liên bang Xôviết !

- Ủng hộ cách mạng Trung Quốc !

- Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm !

Ngồi trong xà lim cách biệt, đồng chí Lê Duẩn vẫn thấy ấm áp tình đồng chí, bạn bè. Trong gian khổ hy sinh, tình yêu đồng loại càng thêm sâu nặng. Tình đoàn kết gắn bó giữa những con người cùng chung chí hướng đã nhân lên thành sức mạnh chiến thắng kẻ thù.

Cuộc đấu tranh đêm 1-5-1932 đã tạo ra một luồng sinh khí mới trong đời sống lao tù, củng cố thêm niềm tin tất thắng đối với sự nghiệp cách mạng. Cuộc đấu tranh thể hiện vai trò và năng lực tổ chức, lãnh đạo và sự đoàn kết nhất trí của các chiến sĩ cộng sản. Cuộc đấu tranh tuy bị địch đàn áp, nhưng buộc chúng phải cải thiện một phần chế độ lao tù và bữa ăn hàng ngày cho tù nhân. Địch vẫn cho Lê Duẩn là phần tử nguy hiểm và đày đoạ một tháng ròng trong xà lim. Trở lại phòng giam chung với các đồng chí khác, Lê Duẩn lại hăng hái lao vào những đợt sinh hoạt, những cuộc đấu tranh mới.

Trong thời gian địch khủng bố trắng, biết bao nhiêu người con ưu tú của dân tộc, của giai cấp đã sa vào tay giặc và đã anh dũng hy sinh. Nhiều đồng chí bị lưu đày biệt xứ. Ngày 25-5-1931, đồng chí Nguyễn Phong Sắc, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng bị xử bắn tại Cửa Hội, Nghệ An. Ngày 6-9-1931, đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, bị đòn thù tra tấn và bệnh tật hành hạ đã hy sinh tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. Đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ, Bí thư Thành uỷ Hà Nội, đã hy sinh tại Nhà tù Hoả Lò từ đầu năm 1932.

Người thanh niên ưu tú Lý Tự Trọng cũng hy sinh trong thời gian này. Các đồng chí Phạm Hùng, Lê Văn Lương bị giam ở xà lim án chém. Và còn bao nhiêu đồng chí khác đang bị giết dần giết mòn. Cán bộ là vốn quý của Đảng. Trong Nhà tù Hoả Lò, đồng chí Lê Duẩn đã bàn với các đồng chí trong chi bộ tổ chức đấu tranh ngăn chặn những tội ác dã man của địch, bảo vệ bạn bè đồng chí. Đầu năm 1932, thực dân Pháp tuyên án tử hình 13 chiến sỹ yêu nước đã tham gia cuộc bạo động Yên Bái. Chi bộ đảng đã lãnh đạo cuộc đấu tranh tuyệt thực với khẩu hiệu: "Đả đảo án tử hình 13 chiến sĩ Yên Bái", "Đả đảo đế quốc Pháp dã man”. Cuộc đấu tranh thu hút đông đảo thường phạm và tù Quốc dân Đảng tham gia. Những cuộc đấu tranh như thế diễn ra sôi nổi liên tục với nội dung cụ thể như đấu tranh phản đối án đày tù chính trị đi Guyan, đấu tranh phản đối án tử hình các đồng chí: Nguyễn Đức Cảnh, Hồ Ngọc Lân và Nguyễn Hoàng Tôn. Đồng chí Lê Duẩn đã xúc động mạnh mẽ trước tấm gương chiến đấu hy sinh của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh. Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh là một trong những người tham gia sáng lập Đảng và tổ chức Công hội đỏ Bắc Kỳ, là một trí thức cách mạng, người con ưu tú của giai cấp công nhân. Biết chẳng còn sống được bao lâu, đồng chí đã tranh thủ thời gian hiếm hoi còn lại của đời mình để làm việc cho Đảng: tuyên truyền, giác ngộ về chủ nghĩa cộng sản cho quần chúng trong tù; phổ biến, trao đổi với các đồng chí trong chi bộ kinh nghiệm đấu tranh. Đọc lại những tài liệu do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh biên soạn như cuốn Công nhân vận động, đồng chí Lê Duẩn đau nỗi đau xé ruột và như được tiếp thêm dũng khí trong cuộc chiến đấu sống còn với kẻ thù của dân tộc, của giai cấp.

Ngày 31-7-1932, thực dân Pháp đưa Nguyễn Đức Cảnh và Hồ Ngọc Lân ra xử chém ở Hải Phòng. Suốt cả ngày hôm ấy, đồng chí Lê Duẩn bỏ cơm. Biết trước rồi đồng chí Nguyễn Đức Cảnh sẽ phải hy sinh, nhưng sự ra đi của người đồng chí lớp đàn anh ấy đã để lại cho đồng chí những khoảng trống vắng không thể bù đắp được.

Những cuộc đấu tranh của tù nhân trong Nhà tù Hoả Lò đã gây tiếng vang lớn trong nhân dân Hà Nội. Đó cũng là nguồn động viên, khích lệ mạnh mẽ những đồng chí đang lặn lội gây dựng lại các cơ sở bị tan vỡ.

Trong Nhà tù Hoả Lò, noi gương đồng chí Nguyễn Đức Cảnh và nhiều đồng chí đã hy sinh, các chiến sĩ cộng sản vẫn sống lạc quan, tiếp tục cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và sự toàn thắng của chủ nghĩa cộng sản. Nhà tù Hoả Lò là nơi tạm giam những người chưa thành án hoặc án nhẹ. Ngoài những chiến sĩ cộng sản còn hàng trăm tù thường phạm gồm đủ các hạng người. Sau cuộc bạo động Yên Bái, hàng loạt những người trong tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng vị bắt và giam giữ trong Hỏa Lò. Số tù thường phạm hay bi quan, chán nản, còn tù chính trị thì tỏ ra yếm thế, bế tắc, nhưng cũng có người mưu nổi loạn. Chi bộ nhà tù đã tổ chức tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho các tù nhân. Bằng thái độ chân thành, cởi mở, tình hữu ái giai cấp, niềm lạc quan yêu cuộc sống và nhất là bằng tấm gương chiến đấu hy sinh của những người cộng sản chân chính, các đồng chí ta đã cảm hoá được nhiều tù thường phạm và tù Quốc dân Đảng. Các đồng chí Đặng Xuân Khu, Vũ Trọng Đàm, Nguyễn Lương Bằng... là những diễn giả thu hút được sự chăm chú lắng nghe của mọi người. Đồng chí Lê Duẩn nói tiếng Quảng Trị nặng, khó nghe, ít khi tham gia diễn thuyết. Đồng chí thích trò chuyện, tâm tình. Với tác phong giản dị, mộc mạc cùng tấm lòng nhân hậu và tình yêu đối với con người, đồng chí được nhiều người quý mến.

Ra báo trong tù là nét đặc sắc trong cuộc đấu tranh của các chiến sĩ cộng sản và cũng là nét đặc sắc trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam. Trong Nhà tù Hoả Lò, những tờ Lao tù tạp chí, Đuốc đưa đường, Con đường chính... lần lượt ra đời. Các đồng chí Đặng Xuân Khu, Vũ Trọng Đàm là những cây bút xuất hiện thường xuyên trên các báo. Đồng chí Lê Duẩn cũng tham gia viết bài, cất giấu tài liệu và tổ chức tuyên truyền. Đồng chí đã cùng một số anh em khác cạy gạch ở góc tường phòng giam, khoét sâu thành "thư viện” đề giấu tài liệu, báo chí. Một tờ báo đăng bài viết về tính chất, đặc điểm và nguyên nhân thất bại của cuộc bạo động Yên Bái đã làm xôn xao dư luận trong số người tù Quốc dân Đảng. Bắt chước những chiến sĩ cộng sản, họ cũng ra tờ Con đường cách mạng. Sau bài báo của đồng chí ta, một cuộc bút chiến sôi nổi và quyết liệt xảy ra giữa những người cộng sản và Quốc dân Đảng. Ta có hai tờ báo tham gia cuộc bút chiến này là tờ Đuốc đưa đường do đồng chí Lê Duẩn làm chủ bút và tờ Con đường chính do đồng chí Trường Chinh làm chủ bút. Bằng những bài viết của mình và trong những cuộc tranh luận sôi nổi, đồng chí Lê Duẩn đã đả phá chủ nghĩa tam dân nửa vời của những người cầm đầu Quốc dân Đảng, lên án tư tưởng dân tộc hẹp hòi và trình bày mục tiêu, lý tưởng của những người cộng sản là thực hiện cách mạng tư sản dân quyền kiểu mới do giai cấp công nhân lãnh đạo, giải phóng người lao động, giành lại độc lập cho đất nước. Đồng chí bác bỏ sự vu cáo của Quốc dân Đảng, cho rằng cộng sản là những người theo chủ nghĩa tam vô: không tôn giáo, không gia đình và không tổ quốc. Những cuộc bút chiến và tranh luận đó đã tạo nên sự phân hoá hàng ngũ tù nhân Quốc dân Đảng, nhiều người bắt đầu có cảm tình với những người cộng sản một số đã gia nhập Đảng Cộng sản.

Bằng nhiệt tình cách mạng và khả năng phân tích, nhận định tình hình, đồng chí Lê Duẩn tích cực góp phần làm thất bại hệ tư tưởng tư sản đã lỗi thời của nhóm tù Quốc dân Đảng, khẳng định tính chất đúng đắn của chủ nghĩa cộng sản, bảo vệ đường lối cách mạng triệt để của Đảng ta đã được trình bày trong các văn kiện của Đảng.

Càng hiểu biết sâu sắc về mục đích cuộc sống mình đang theo đuổi, đồng chí Lê Duẩn càng khao khát được cống hiến nhiều hơn cho Đảng và cách mạng. Thời kỳ này, phong trào cách mạng đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Chi bộ đảng trong tù luôn luôn động viên, giáo dục đảng viên giữ vững niềm tin ở sự nghiệp cách mạng, phải tận dụng thời gian, tích cực học tập lý luận về chủ nghĩa cộng sản, về phương pháp cách mạng và tìm cách vượt ngục trở về đội ngũ chiến đấu. Chi bộ mở nhiều đợt sinh hoạt, học tập và các lớp huấn luyện ngay trong các trại giam. Trong những ngày bị tù đày, đồng chí Lê Duẩn có điều kiện nghiền ngẫm kỹ hơn các văn kiện của Đảng. Đồng chí cũng bắt đầu nghiên cứu về triết học và các học thuyết kinh tế. Cũng thời gian này, đồng chí được nghe nói kỹ hơn về Nguyễn Ái Quốc. Qua những mẩu chuyện giản dị và xúc động của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, người học trò gần gũi của Nguyễn Ái Quốc. Lê Duẩn càng cảm phục người chiến sĩ lỗi lạc của cách mạng Việt Nam, và đau xót khi biết đồng chí Nguyễn Ái Quốc cũng đang bị cầm tù ở Hồng Công.

Được chi bộ đảng phân công chuẩn bị kế hoạch vượt ngục, nhưng đồng chí tình nguyện ở lại. Nhiệm vụ tổ chức phân công, đồng chí đã gắng sức làm tròn. Đồng chí đã cùng với các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Tạo, Bùi Xuân Mẫn, Vũ Trọng Đàm họp bàn, thảo luận và vạch kế hoạch tổ chức cuộc vượt ngục một cách chu đáo, tỉ mỉ. Đêm Nôen 1932, bảy chiến sĩ cộng sản đã thoát khỏi Nhà tù Hoả Lò. Đó là các đồng chí: Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Tạo, Vũ Như Cương, Phạm Quang Lịch, Bùi Xuân Mẫn, Vũ Trọng Đàm, Lê Đình Tuyển.

Cuộc vượt ngục đêm Nôel 1932 là một đòn choáng váng đánh vào chế độ nhà tù tàn bạo của thực dân Pháp và bọn cai ngục trong Nhà tù Hoả Lò. Tiếp đó là các cuộc tuyệt thực đòi nới rộng chế độ ăn uống và tiếp tục đòi cải thiện đời sống trong nhà tù. Địch càng thấy phải sớm di chuyển số tù nhân mà chúng cho là “bướng bỉnh” đi nơi khác.

Tết năm 1933 là cái tết thứ hai của đồng chí Lê Duẩn ở trong tù. Đã năm mùa xuân qua đi, đồng chí xa nhà. Sau khi chồng bị bắt, chị Lê Thị Sương đưa con trở về Quảng Trị. Chị sinh cháu gái trong lúc cách biệt tin chồng. Sở Mật thám Đông Dương cho người về thôn Hậu Kiên tra hỏi, doạ nạt về mối quan hệ của đồng chí Lê Duẩn với gia đình, với bạn bè đồng chí. Cảnh nhà thêm sa sút. Bọn hào lý trong xã được lệnh phải giám sát những người trong gia đình. Hàng gỗ ế ẩm, rổ thuốc cao dán không đủ nuôi sống gia đình. Con vừa đầy tháng, chị Sương phải gửi lại cho ông bà rồi lặn lội khắp các chợ quê buôn bán. Về làm dâu tại thôn Hậu Kiên, lúc này chị Sương mới có dịp hiểu hết cái nghĩa tình làng xóm quê chồng. Vốn kính trọng ông bà Hiệp, lại cũng hiểu được phần nào việc làm của người con trai, bà con hàng xóm vẫn tìm đến gia đình với tấm lòng đầy tình thương cảm của những người cùng chung cảnh ngộ. Dưới sự yêu thương đùm bọc của cha mẹ chồng và bà con hàng xóm, chị Sương đã đứng vững và tần tảo thay chồng nuôi con.

Cùng thời gian đó, giữa Thống sứ Bắc Kỳ Tôlăng và Công sứ kiêm chúa ngục Sơn La Xanh Pulốp đang có cuộc trao đổi, bàn giao một số tù chính trị tại Nhà tù Hoả Lò. Pulốp báo cáo trả lời Tôlăng: "Xin ngài cứ tiếp tục giải chính trị phạm lên Sơn La. Bọn này, nếu ở Hoả Lò Hà Nội là những loại hung hăng khó trị, tới đất Sơn La chỉ trong vòng sáu tháng, vì trúng sốt rét sẽ làm cho chúng suy nhược và trở nên hiền hoà”6.

Đoán trước được ý đồ bọn thực dân, chi bộ Nhà tù Hoả Lò kịp thời thông báo cho quần chúng và chuẩn bị tinh thần cho chuyến đầy ải lên Sơn La. Một số đồng chí liên lạc với gia đình xin thuốc men, giấy viết. Các đồng chí Đặng Xuân Khu, Lê Duẩn được phân công chuẩn bị tài liệu mở lớp huấn luyện. Tài liệu được ghi chép lên những mảnh giấy nhỏ, phân tán cho từng người giữ. Các đồng chí khâu giấu trong vạt áo, gấu quần. Đồng chí Vũ Thiện Chân còn nhờ một đồng chí khéo tay khoét rỗng đôi đũa tre để đựng tài liệu.

Nửa đêm về sáng một ngày tháng 2-1933, 210 tù nhân ở Nhà tù Hoả Lò bị dựng dậy. Những chiếc xe tải bịt kín chở họ ra bến phà Đen để lên tàu thuỷ đi Sơn La. Đoàn tù bị chia làm hai nhóm. Nhóm những chiến sĩ cộng sản bị xích tay, nhóm tù thường phạm và tù Quốc dân Đảng bị buộc bằng dây thừng. Phần lớn những đồng chí cán bộ của Trung ương, Xứ uỷ, Tỉnh uỷ đã sa vào tay địch đều có mặt trong đoàn tù phát vãng lên Sơn La như các đồng chí: Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Lan, Bùi Vũ Trụ, Đặng Xuân Khu, Lê Duẩn, Khuất Duy Tiến... Những người tù phải ngồi dưới hầm tàu buôn. Trời đang giá lạnh nhưng ai cũng thấy nóng bức, ngột ngạt. Khoảng ba giờ chiều, tàu đến Chợ Bờ. Đoàn tù đi bộ ngay lên thị trấn Suối Rút. Một cảnh tượng xúc động đã diễn ra tại thị trấn Suối Rút. Thân nhân người tù được thông báo trước đã lên đây cùng bà con thị trấn đổ ra đường chào đón. Buổi tối hôm đó đồng chí Lê Duẩn ngủ trong ngôi chùa ở thị trấn. Lâu lắm rồi đồng chí mới lại nghe tiếng tụng kinh niệm Phật. Nhà chùa đang cầu trời phù hộ độ trì cho những kẻ bị đoạ đày. Đồng chí chưa có dịp tìm hiểu sâu về tôn giáo này nhưng triết lý từ bi bác ái của đạo Phật qua người mẹ đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành trong tâm hồn đồng chí tình thương bao la đối với con người và nỗi đau đồng loại. Sáng hôm sau, bà con thị trấn Suốt Rút và thân nhân, phần lớn là những bà mẹ và vợ của người tù lại đứng dọc hai bên đường tiễn đưa. Người đưa qủa trứng, người biếu nắm xôi. Bà con nói: cầu mong cho các ông đi đường được mạnh khoẻ, bình an; bao nhiêu ốm đau, bệnh tật để lại hết cho chúng tôi. Nhiều người khóc. Những người tù cộng sản đã dày dạn trong ngọn lửa đấu tranh cũng không cầm được nước mắt. Xa gia đình và xứ sở quê hương, lao vào con đường đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng con người, lúc này đồng chí Lê Duẩn càng thấy thấm thía trước những tấm lòng thương yêu của quần chúng đối với cách mạng. Dân mình ở đâu cũng khổ và ở đâu cũng tốt, lẽ nào cứ phải chịu mãi cảnh đói nghèo, tủi nhục. Thương mẹ, thương cha và bà con xóm nghèo chợ Sãi, từ ngày dấn thân vào con đường đấu tranh bị tù đày, đồng chí tự nguyện gắng chịu mọi gian khó, hy sinh, cố gắng không làm phiền đến gia đình. Trong nhà tù đồng chí là một trong số ít người hầu như không có thân nhân đến thăm. Xa người mẹ sinh thành nhưng vẫn có những người mẹ của các đồng chí, bạn bè truyền cho hơi ấm tình thương. Đồng chí kể lại: “Trong tù tôi nhận thấy rằng tất cả các đồng chí cùng bị giam với tôi đều có những bà mẹ rất tốt. Mẹ tốt sinh ra những đứa con tốt. Những bà mẹ Việt Nam anh hùng đã cống hiến cho Tổ quốc Việt Nam những đứa con anh hùng”7. Bước chân đi đày mà đồng chí vẫn vững tin ở ngày mai chiến thắng.

Con đường từ Suối Rút lên Sơn La mới được khai thông nhưng vẫn còn lởm chởm đá tai mèo. Những đợt mưa dầm, gió bấc càng làm đường lầy lội. Đa số tù nhân không giầy, không dép, mặc cho sỏi đá cứa nát bàn chân. Người đi sau thấy máu của đồng chí mình loang trong vũng nước. Anh em phải xé chăn lấy giẻ bọc chân. Con đường bộ dài chưa đầy 200 kilômét, đoàn tù phải đi vất vả, cực nhọc trong 13 ngày.

Nhà tù Sơn La nằm bên một quả đồi cao; nó thực sự là một nhà mồ trong hang núi. Cũng như Lao Bảo, Côn Đảo, đây là nơi địa ngục trần gian đã huỷ hoại cuộc đời của bao nhiêu chiến sĩ cộng sản và những người yêu nước khác. Nói đến Sơn La, không ít người đã thấy rùng rợn, "nước Sơn La, ma Vạn Bú”. Nhà tù Sơn La được xây theo hình thước thợ. Những người tù cộng sản bị giam trong dãy nhà dài. Từ nhà lao phải qua cả dãy đồi mới tới suối nước. Tù nhân được xuống suối tắm giặt mỗi tuần một lần. Người tù nằm trên sàn gỗ ghép. Đây là thế giới của loài rận, rệp và chuột bọ. Rệp hút máu làm kiệt sức người. Hàng đàn chuột mập ú chuyên rình rập để gậm mắt, mũi người chết. Nhà tù Sơn La đứng chơ vơ, cô độc, tách biệt với cuộc sống con người. Không sợ tù trốn, bọn cai ngục không cùm xích phạm nhân. Ở đây, tù nhân nếu không bị roi vọt, gông xiềng hành hạ thì bị âm khí của rừng sâu huỷ hoại thân xác họ. Lúc mới đến Sơn La, các đồng chí đã tổ chức ngay những lớp huấn luyện chính trị và học tập văn hoá. Đồng chí Đặng Xuân Khu chủ trì một lớp học bồi dưỡng về chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đến tháng thứ hai đã bắt đầu có người bị sốt rét. Sang tháng thứ năm thì một trong những đồng chí khoẻ nhất là Nguyễn Tuân Thức biệt hiệu Thức Voi cũng bị sốt rét quật ngã. Hầu như chẳng còn ai đủ sức lê bước xuống suối tắm được nữa. Cùng với chứng sốt rét là kiệt lị, thương hàn, ỉa chảy tràn lan khắp các phòng giam. Các lớp học phải đình lại. Dã man và vô nhân đạo hơn là bọn cai ngục ở đây còn lấy thân xác người tù để thí nghiệm một loại thuốc mới dùng để chữa bệnh lậu cho lính Pháp. Nhiều đồng chí đã chết oan vì thứ thuốc này. Sống trong tù ngục ghê rợn như vậy, đồng chí Lê Duẩn càng thấy sự vô giá của tình thương giữa những người cùng chung chí hướng. Là người sống rất điều độ, đồng chí đã bàn với các đồng chí khác, nhắc nhở, động viên mọi người gắng giữ gìn sức khoẻ, ăn nhiều ớt, không ngủ ngày để chống sốt rét ác tính, chịu khó vận động thân thể để chống mỏi mệt. Sau này đồng chí kể lại: "Hồi ở Nhà tù Sơn La, tôi bị giam cùng anh Trường Chinh và nhiều đồng chí khác. Chúng tôi đã chứng kiến cảnh gần hai trăm anh em tù ở đây, do bị giam cầm, hành hạ mà chín tháng đã chết mất năm mươi người, còn bao nhiêu thì ốm đau, võ vàng cả. Trong cảnh tù đày, chết chóc như vậy, không có tình cảm nào thiêng liêng, cao cả bằng tình đồng chí”8.

Những cuộc bắt bớ, giam cầm và chế độ nhà tù tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương đã gây xúc động lớn trong nhân dân lao động Pháp. Trong năm 1933, cùng với những hoạt động của tổ chức Cứu tế đỏ, Đảng Cộng sản Pháp đã lãnh đạo nhân dân Pháp tổ chức 98 cuộc biểu tình trong cả nước đòi ân xá cho 10.000 tù chính trị ở Đông Dương và nhất là đòi phải huỷ bỏ những bản án tử hình và vận động quyên góp giúp những người bị giam giữ trong các nhà tù. Tờ báo của giới địa chủ Pháp ở Đông Dương Volonté Indochnoise "Ý chí Đông Dương” cũng phải lên tiếng than phiền về những điều ghê rợn ở Nhà tù Sơn La. Tháng 11-1933, bọn Pháp buộc phải đưa đoàn tù từ Sơn La về Hoả Lò, Hà Nội.

Đoàn tù đi từ Sơn La về Hoả Lò chia làm hai nhóm. Ba mươi người quá ốm yếu đi bộ ra Tà Bú rồi lên thuyền xuôi sông Đà về Chợ Bờ. Số còn lại vẫn đi bộ theo con đường cũ rồi gặp nhau tại đó. Các đồng chí Đặng Xuân Khu, Lê Duẩn, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Tuân Thức...trong đoàn tù đi bộ. Những người đi bộ cũng chẳng hơn gì những người phải đi thuyền. Đoàn tù đi bộ ra Tà Bú mỗi người phải chống hai tay hai gậy, ròng rã hai ngày mới vượt được đoạn đường 30 kilômét. Anh em đi đường bộ cũng phải dìu nhau suốt dọc đường. Đồng chí Nguyễn Văn Sơ và mấy người yếu quá phải nằm trên cáng tre do phu người Thái khiêng như khiêng đồ vật. Đồng chí Lê Duẩn gầy ốm, nhưng vẫn rắn rỏi đi trong đội ngũ. Đôi mắt đã kém tinh nhanh, nhưng vẫn ánh lên những tia vui và nét nhìn cương nghị.

Bọn địch đưa đoàn tù về Hà Nội cũng chỉ là để đối phó với dư luận. Mười ngày sau chúng chuyển anh em xuống Hải Phòng để đày ra Côn Đảo. Các đồng chí Đặng Xuân Khu, Bùi Vũ Trụ, Trần Văn Lan... yếu quá phải ở lại. Đoàn tù đi Côn Đảo có thêm một số anh em khác. Tất cả đúng 200 người.

Khi biết chắc chắn chỉ ít ngày nữa là sẽ phải ra Côn Đảo, chi bộ nhà tù nhắc nhở anh em tích cực chuẩn bị những thứ cần thiết. Rúi kinh nghiệm những chuyến đi trước, mọi việc chuẩn bị phải khẩn trương và giữ bí mật. Ngoài những thứ cần thiết cho sinh hoạt cá nhân, nhiều đồng chí được phân công chuẩn bị truyền đơn, cờ đỏ để tổ chức tuyên truyền, đấu tranh trên dọc đường. Đồng chí Lê Duẩn chủ động đề xuất nhiều ý kiến cho công việc chung. Đồng chí Vũ Thiện Chân kể lại: "Đêm đã khuya, đồng chí Bùi Vũ Trụ còn lần đến chỗ tôi rỉ tai: "Búa9 ơi, anh Duẩn có ý kiến nếu kiếm được một cờ đỏ búa liềm, như cái cậu đã tung ra trước Hội đồng đề hình hồi ấy thì hay quá ! Để làm gì? Để chúng mình phất lên trên đường "hành quân" ra Côn Lôn"10.

Mới 3 giờ sáng một ngày cuối năm 1933, trời lạnh thấu xương, những người tù đã bị gọi dậy. Chúng bắt anh em xếp hàng hai giữa sân, khám xét kỹ từng người rồi xích tay hai người một, dồn tất cả lên xe hơi bịt kín. Xe vừa lăn bánh ra đường phố, những người tù, những chiến sĩ cộng sản bị đày đã đồng thanh hát vang:

Bớ công nông ! Phất cờ lên !

Đồng tâm lướt tới diệt loài sói lang

Theo ngọn cờ Mác - Lênin ...

Tiếng hát chào tạm biệt đồng chí, bạn bè ở lại và bà con Hà Nội. Những người tù bị đưa lên các toa tàu. Xích tay được tháo nhưng lại bị cùm chân vào một thanh sắt dài suốt dọc toa tàu; trong toa có lính khố xanh ôm súng ngồi canh, im lìm bất động. Thân phận họ cũng chẳng hơn gì những người tù. Họ không được rời khỏi vị trí của mình. Hai đầu toa có lính Pháp đứng gác. Tàu qua cầu sông Cái11 vào lúc trời mờ sáng. Mỗi lần tàu dừng lại các ga, bài ca Bớ công nông lại vang lên hào hùng, lôi cuốn. Gần trưa tàu đến Hải Phòng. Trở lại thành phố cửa biển, đồng chí Lê Duẩn thấy bồi hồi, xúc động. Chính nơi đây đồng chí đã sống những tháng ngày sôi nổi của tuổi thanh xuân trong khí thế rầm rộ của cao trào cách mạng 1930 1931. Và cũng tại đây đồng chí sa vào tay giặc. Mới đó mà đã trở thành kỷ niệm.

Bọn Pháp cũng rút ra được bài học năm xưa, chúng đưa thẳng đoàn tù lên tàu biển. Chiếc tàu khách Cơlốt Sáp chuyên chạy đường Hải Phòng Sài Gòn được thuê chở tù nhân vào Ô Cấp. Những người tù lại chen chúc dưới hầm tàu. Cùm chân được tháo nhưng tay lại bị xích. Ốm đau, bệnh tật, lại qua một ngày tranh đấu nên ai cũng thấm mệt. Tàu càng ra khơi càng lắc mạnh, nhiều đồng chí nôn cả ra mật xanh, mật vàng. Sau bốn ngày đêm lênh đênh lên biển, tàu cập bến Ô Cấp. Đoàn tù chuyển sang tàu nhỏ ra Côn Đảo. Khoảng 9 giờ tối ngày 25-12-1933, cano chở tù nhân từ tàu vào bến. Đói và mệt, anh em bước đi trong bóng đêm chập choạng. Bọn giám thị dùng dùi cui quất tới tập lên người thúc giục đoàn tù đi nhanh. Vào phòng giam lại bị đánh. Chúng đánh để đếm người. Mỗi người tù được phát một bộ quần áo mầu xanh và một chiếc chiếu. Đồ dùng cá nhân mang theo chúng bắt để cả ngoài sân. Tấm áo tù của đồng chí Lê Duẩn in đậm hàng số 3114. Vừa ra khỏi âm ty trong lòng đất, những người tù lại rơi vào địa ngực trần gian.

Côn Đảo là một nhà tù lớn nhất Đông Dương. Thực dân Pháp xây dựng nhà tù từ năm 1862. Côn Đảo là một quần đảo nhỏ, trong đó lớn nhất là đảo Côn Lôn rộng 51,52 km2, chiếm hai phần ba diện tích quần đảo. Côn Đảo cách Vũng Tàu 179 km. Chỉ mới năm năm sau, năm 1867, Nhà tù Côn Đảo đã có 500 tù nhân. Nhiều người ra Côn Đảo từ lúc tóc còn xanh đến khi đầu bạc vẫn chưa được trở về. Cho đến những năm 30 của thế kỷ XX, Nhà tù Côn Đảo có 3 đề lao chính. Đề lao I chuyên giam giữ tù khổ sai, kể cả số lưu manh và can án giết người. Đề lao II chuyên giam giữ tù chính trị. Đề lao III, cách đó chừng cây số dùng để giam giữ những người bị bệnh phong, mù lòa hoặc tàn phế... Nhưng thực tế nhiều tù chính trị cũng bị giam chung với tù khổ sai. Từ năm 1930, số người bị đày ra Côn Đảo tăng lên nhanh chóng:

Năm 1930: 1.992 người

Năm 1931: 2.146 người

Năm 1932: 2.276 người

 Năm 1933: 2.483 người

Năm 1934: 2.818 người.

Nhà tù Côn Đảo nằm giữa trùng khơi, nước sâu, sóng dữ. Ở đây chỉ có bọn cai ngục, chúa đảo và tù nhân. Dân trên đảo đã bị đưa hết về đất liền. Những cuộc đấu tranh, những cuộc phản kháng của người tù chỉ là những tiếng vang giữa biển cả. Họ bị đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo nhưng chẳng mấy ai biết đến. Thức ăn chủ yếu là gạo hẩm và cá khô mục. Bệnh tật, roi vọt, xiềng xích, xà lim, sự bi quan… ngày ngày huỷ diệt cuộc sống của người tù. Từ lâu ở Côn Đảo đã lưu truyền những câu ca ai oán:

Cảnh nào bằng cảnh Côn Lôn,

Sống nhờ gạo lứt thác chôn bao hàng.

Cũng như những người tù bị đày ra Côn Đảo, số người chết ở đây cũng ngày càng tăng lên. Năm 1931, trong số 2.146 tù nhân đã có 209 người chết. Từ năm 1930 đến năm 1933, ở Côn Đảo có 708 người tù bỏ mạng. Thân phận người tù khi sống đã khổ, lúc chết càng khổ hơn. Người tù phải chết trong thân xác trần trụi, không quan tài, bia mộ.

Tại Nhà tù Côn Đảo, đồng chí Lê Duẩn bị giam tại phòng giam số 3 bên đề lao II. Phần đông tù chính trị đều bị giam ở đề lao II. Tại đây, đồng chí Lê Duẩn được tiếp xúc với những đồng chí ưu tú, những cán bộ xuất sắc của phong trào cách mạng đã bị đày ra từ trước như các đồng chí: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Linh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng... Bên đề lao I, nhiều đồng chí ta cũng bị đày đoạ chung với những người tù khổ sai đủ các loại trọng án. Đó là các đồng chí: Nguyễn Hới, Tống Văn Trân, Ngô Gia Tự, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, v.v..Chi bộ Nhà tù Côn Đảo đã được thành lập từ trước do các đồng chí Nguyễn Hới, Ngô Gia Tự, Tôn Đức Thắng lần lượt phụ trách. Chỉ một ngày sau đồng chí Lê Duẩn và các đồng chí cùng ra trên chuyến tàu đi đày đã liên lạc ngay với chi bộ Đảng nhà tù bên đề lao I. Đồng chí Lê Thanh Nghị là liên lạc của đề lao II, đồng chí Tôn Đức Thắng, người có điều kiện đi lại nhiều hơn phụ trách công tác liên lạc của đề lao I. Các đồng chí như được tiếp thêm sức mạnh trong cuộc chiến đấu mới mà ai cũng biết rằng sẽ lâu dài, gian khổ và ác liệt hơn nhiều. Đề lao II gồm hai dãy phòng giam cách nhau một khoảng sân rộng có hàng rào kẽm gai. Mỗi dãy gồm 6 phòng. Mấy năm trước tù cộng sản và tù Quốc dân Đảng bị giam giữ chung trong khu vực đề lao II. Do bất đồng chính kiến cho nên giữa các đồng chí ta và những người tù Quốc dân Đảng thường xuyên xung khắc. Trong lao tù đế quốc, những người cộng sản vẫn lạc quan, yêu đời và giữ vững niềm tin vào sự toàn thắng của sự nghiệp cách mạng. Một số người tù Quốc dân Đảng dần dần có cảm tình với các đồng chí ta và đã đến với cách mạng từ chủ nghĩa yêu nước. Nhưng nhiều người vẫn bảo vệ chủ thuyết của mình. Nhưng rồi chế độ lao tù khắc nghiệt cua đế quốc làm cho họ nhụt chí. Tư tưởng bi quan yếm thế lan tràn ngày càng bào mòn tâm trí và sức lực của họ. Họ lẩn tránh đấu tranh, không chịu nổi cuộc sống chung với các đồng chí ta. Về sau, bọn chúa ngục phải dồn những người tù Quốc dân Đảng giam riêng trong dãy phòng giam thứ hai.

Sau đó, các đồng chí ở đề lao II tổ chức trao đổi ý kiến có nên thành lập chi bộ Đảng hay không? Đồng chí Lê Duẩn nêu ý kiến: tất cả các đồng chí chúng ta đều là những cán bộ, đảng viên đã được rèn luyện và thử thách trong đấu tranh cách mạng, vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản. Vì vậy, chỉ nên thành lập Ban phụ trách để tổ chức đấu tranh và duy trì nền nếp sinh hoạt, học tập trong đề lao. Các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Văn Cừ, Phạm Văn Đồng... là những người trong nhiều năm đã tham gia Ban phụ trách tại đề lao II. Đồng chí Phạm Văn Đồng là một nhà giáo lịch duyệt, kiến thức rộng được phân công làm công tác đối ngoại, giao dịch với bọn cai ngục và nhất là xây dựng đường dây liên lạc với các đồng chí Pháp qua những người thuỷ thủ tiến bộ. Nhờ vậy, đường dây liên lạc với các đồng chí Pháp được duy trì thường xuyên. Ban phụ trách đề lao II thường xuyên liên lạc với chi bộ nhà tù ở đề lao I để phối hợp đấu tranh đòi cải thiện đời sống trong tù, được làm những công việc vặt như: trồng rau, vá quần áo, chăn nuôi gà..Cuộc đấu tranh tiêu biểu là đợt tuyệt thực tháng 8-1934 với những nội dung cụ thể như sau:

- Không ăn cá khô mục;

- Tù nhân được tự nấu ăn;

- Được ra sân chơi hai giờ một ngày;

- Được gửi và nhận thư từ, quà cáp.

Cuộc tuyệt thực kéo dài chín ngày. Tù nhân ở đề lao I nhiệt liệt hưởng ứng bằng những cuộc hò la vang động cả khu trại giam. Thống đốc Nam Kỳ Pagét phải ra tận nơi giải quyết. Địch đã phải nhượng bộ trước tinh thần phản kháng kiên quyết của tập thể người tù và sự lên án của dư luận. Thời kỳ đó, Hội Cứu tế đỏ và Đảng Cộng sản Pháp vẫn tiếp tục phát động phong trào đấu tranh phản đối chế độ lao tù tàn bạo ở các thuộc địa. Theo sáng kiến của Đảng Cộng sản Pháp, Uỷ ban vận động đại xá tù chính trị Đông Dương được thành lập tại Pari. Tháng 1-1934, phái đoàn công nhân điều tra do đồng chí Gabơrien Pêri, nghị sĩ cộng sản trong Quốc hội Pháp, đã sang Đông Dương. Nhiệm vụ của phái đoàn này là xác minh những đơn kêu cứu của thân nhân những người yêu nước bị bắt bớ, giam cầm và điều tra phạm vi, quy mô của sự khủng hoảng kinh tế và tình cảnh giai cấp công nhân và nhân dân Đông Dương. Nhưng tại Đông Dương, chính quyền thực dân tìm mọi cách đe dọa gây khó khăn đối với phái đoàn điều tra. Chúng ngăn cấm quần chúng không được tiếp xúc với phái đoàn. Các đồng chí và những người bạn Pháp vẫn kiên trì làm nhiệm vụ của mình. Trở về Pari, phái đoàn tổ chức họp báo phơi bày thực trạng chế độ lao tù tàn bạo ở Đông Dương, nhất là tình cảnh những người tù tại Côn Đảo. Phái đoàn đề nghị phải đại xá 10.000 tù chính trị đang bị giam giữ tại các nhà lao ở Đông Dương. Báo chí tiến bộ và nhân dân Pháp tiếp tục lên án chế độ lao tù tàn bạo ở Đông Dương, đòi dại xá chính trị phạm ở các thuộc địa của Pháp. Hoảng sợ trước sự lên án của công luận, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương buộc phải nhượng bộ thêm một số yêu sách của người tù. Tại Nhà tù Côn Đảo, anh em tù ở đề lao II đã khéo tổ chức lại đời sống, đào giếng, trồng rau, nuôi gà. Tỷ lệ tù nhân chết hàng năm giảm dần: Năm 1934, số tù nhân bị chết là 3%; năm 1935 giam còn 1%. Đồng chí Hoàng Quốc Việt kể lại: "Côn Đảo chính là trường học rèn luyện tinh thần đấu tranh bất khuất. Nhờ đoàn kết và có tổ chức, chúng tôi đã đi dần từng bước, đấu tranh thay đổi cả chế độ nhà tù hà khắc. Mới đầu, đấu tranh đòi mở cửa khám để giành lấy thêm một ít không khí. Đấu tranh đòi lấy được ngọn đèn dầu tù mù ban đêm. Rồi từ cuối năm 1933, đầu năm 1934, Tây phải để cho chúng tôi ra ngoài làm. Từ đấy anh em phát huy năng lực tổ chức đời sống, chuẩn bị sức lực cho những đợt đấu tranh mới"12.

Hoạt động tiêu biểu nhất của các đồng chí ta tại đề lao II là tổ chức học tập, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng. Anh em tổ chức học văn hoá, học ngoại ngữ, diễn kịch, thi thơ, thi đấu bóng, học tập lý luận. Đồng chí Lê Duẩn là một tấm gương về tinh thần chịu đựng gian khổ và ý chí vươn lên trong học tập, tự trang bị cho mình vốn tri thức cần thiết. Đồng chí tham gia đóng kịch trong trại giam. Những vở kịch: Đề Thám, Trưng nữ vương, Trưởng giả học làm sang, Napôlêông Bônapáctơ đã thu hút đông đảo người xem, kể cả lính canh. Vai hoàng đế Napônêông qua diễn xuất của đồng chí Nguyễn Kim Cương và vai nữ quận chúa qua diễn xuất của đồng chí Nguyễn Văn Linh được người xem nhiệt liệt hoan nghênh. Lính canh trên đảo có nhiều người quê ở đảo Coócsơ, tính thô bạo, sau khi xem kịch tiếp xúc với những người cộng sản, họ tỏ ra hiểu biết hơn. Đồng chí Lê Duẩn thường nói chuyện với họ về nền văn hoá lâu đời của dân tộc Pháp, về lịch sử nước Pháp, về nước Nga Xô viết.... nhiều người tỏ ra tư lự. Đồng chí dành phần lớn thời gian trong tù để học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-lênin và bồi dưỡng cho anh em khác. Những người bạn Pháp thường xuyên gửi các loại sách báo cho những người cộng sản Đông Dương đang bị giam giữ ngoài Côn Đảo. Báo Lire (Đọc), báo Vue (Nhìn) cung cấp kịp thời cho các đồng chí ta những thông tin cần thiết về tình hình thế giới những dự báo về một cuộc chiến tranh mới, dũng khí của đồng chí Đimitơrốp trước toà án phát xít... Cũng qua báo chí, các đồng chí ta thấy rõ phong trào đấu tranh đòi ân xá tù chính trị ở Đông Dương đang lan rộng ở Pháp. Tên chúa ngục khét tiếng gian ác Buviê bị gọi về nước. Phấn khởi trước thắng lợi ban đầu, các đồng chí ta càng lao vào đấu tranh và học tập, hy vọng có ngày được trở về đội ngũ chiến đấu. Đồng chí Hoàng Quốc Việt kể lại: “Từ năm 1934, trừ anh em nào ốm quá thì thôi, còn ai cũng tham gia học hết. Anh Nguyễn Văn Cừ, anh Lê Duẩn, anh Bùi Công Trừng giúp anh em học lý luận. Anh Phạm Văn Đồng, anh Hà Huy Giáp, anh Nguyễn Kim Cương dạy anh em văn hoá”13. Các đồng chí: Bùi Lâm, Bùi Công Trừng, Trần Văn Giàu là những học sinh Trường Đại học phương Đông của Quốc tế Cộng sản được phân công chuẩn bị chương trình học tập lý luận. Chương trình chung gồm những bài chính như: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản, Chuyên chính vô sản, Vấn đề nông dân trong cách mạng vô sản, Vấnđề dân tộc và thuộc địa, Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên XôChiến tranh và cách mạng...

Lúc đầu, đồng chí Lê Duẩn thường nhờ các đồng chí Phạm Văn Đồng, Nguyễn Kim Cương hướng dẫn đọc sách tiếng Pháp. Bằng nghị lực của mình và đức tính kiên trì trong học tập, chỉ qua một thời gian ngắn, đồng chí đã có thể tự mình nghiên cứu những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin như: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Tư bản, Chống Đuyrinh, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Làm gì? Nhà nước và cách mạng, Bệnh ấu trĩ “tả khuynh" trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Nét đặc sắc trong phong cách học tập và nghiên cứu của đồng chí Lê Duẩn là sự suy nghĩ sâu về những nguyên lý được trình bày trong sách, và liên hệ với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Giữa đồng chí Lê Duẩn và các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Phạm Văn Đồng, Bùt Công Trừng thường diễn ra những cuộc tranh luận sôi nổi. Ngoài sách kinh điển, đồng chí Lê Duẩn cũng chịu khó tìm đọc một số tác phẩm của các nhà văn Xôviết và các nhà văn tiến bộ trên thế giới. Những tập ký sự và tiểu thuyết như Mười ngày rung chuyển thế giới của Giôn Rít và Suối thép của Xêraphimôvích để lại cho đồng chí những ấn tượng sâu sắc. Nghiêm túc và miệt mài trong học tập và rèn luyện, ngoài vốn trí thức phong phú về lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng chí đã biết chắt lọc trong kho tàng kiến thức đồ sộ của nhân loại những điều bổ ích: những trào lưu tư tưởng tiến bộ ở phương Tây dạy con người phải hành động, triết lý đạo Phật trọng tình thương và lẽ phải... Sau này đồng chí kể lại những năm tháng đáng ghi nhớ ấy: "Vào tù anh em đồng chí khắp Bắc, Trung, Nam được dịp gặp nhau là chỉ lo suy nghĩ tính toán, bàn bạc cách đấu tranh để thắng bọn đế quốc thực dân. Lúc đầu, chúng tôi quyết biến nhà tù thành trường học. Khi còn ở ngoài đi làm cách mạng là do tình cảm thôi thúc, do yêu nước và căm ghét địch. Vào tù, nhờ biết tổ chức, chúng tôi được học, được đọc, do đó, mới hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin và càng tin chắc cách mạng Việt Nam nhất định thắng"14. Đồng chí Lê Duẩn vừa học tập, nghiên cứu, vừa hướng dẫn các đồng chí khác học tập. Đồng chí thích nghe những ý kiến trái ngược nhau. Giữa giảng viên và học viên thường có những cuộc tranh luận sôi nổi, bổ ích về những vấn đề lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam, về tình hình thế giới, về chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh cách mạng... Đồng chí có lối lập luận chặt chẽ, lý lẽ sắc sảo, phân tích sâu, giàu kinh nghiệm thực tiễn.

Phong trào học tập ngày càng lan rộng khắp các khu trại giam. Ngoài những lớp học chính trị, còn có những lớp học văn hoá ngoại ngữ, lịch sử, văn học nghệ thuật, các cuộc thi thơ, bình văn. Nhiều anh em tù Quốc dân Đảng, tù thường cũng hăng hái tham gia học tập. Có lớp học thu hút hàng trăm người tham gia. Có lớp học lý luận, nhà trí thức Nghiêm Toản, một trong những thủ lĩnh Quốc dân Đảng cũng ngồi nghe.

Nhà tù Côn Đảo là địa ngục trần gian, nhưng các chiến sĩ cộng sản đã biến nó thành trường học cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá cao những trường học như thế: “Biến cái rủi thành cái may, các đồng chí ta đã lợi dụng những ngày tháng ở tù để hội họp và học tập lý luận. Một lần nữa, việc đó lại chứng tỏ rằng chính sách khủng bố cực kỳ dã man của kẻ thù chẳng những không ngăn trở được bước tiến của cách mạng, mà trái lại nó đã trở nên một thứ lửa thử vàng, nó rèn luyện cho người cách mạng thêm cứng rắn. Mà kết quả là cách mạng đã thắng, đế quốc đã thua”15.

Các đồng chí ta phát hành báo chí để làm phương tiện học tập và tranh đấu. Nhiều tạp chí và báo có uy tín lần lượt ra đời như Ý kiến chung, Người tù đỏ, Tiếng sóng bể, Hòn Cau, Trên đường tranh đấu…Ý kiến chung là tạp chí lý luận phục vụ học tập và nghiên cứu, do đồng chí Bùi Công Trừng phụ trách. Tờ Người tù đỏ có nội dung dễ hiểu, phù hợp với trình độ chung, do đồng chí Nguyễn Văn Cừ phụ trách. Qua những cuộc tranh luận trong các lớp học, trong các phòng giam và những bài viết trên báo chí, hệ tư tưởng của giai cấp vô sản ngày càng thâm nhập vào đời sống người tù. Nó giúp các đồng chí ta lý giải được những vấn đề lý luận cách mạng. Nhiều nội dung quan trọng trong các văn kiện: Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt, trong Luận cương chính trị của Đảng được giải quyết thấu đáo hơn. Nhiều tù nhân Quốc dân Đảng, tù thường dần dần cũng nhận thấy chỉ có những người cộng sản mới làm trọn được sứ mệnh lịch sử là dẫn dắt quần chúng lao động làm cách mạng giải phóng dân tộc. Với những kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình, đồng chí Lê Duẩn đã tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh trên báo chí để tuyên truyền lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Đồng chí Hoàng Quốc Việt kể lại: "Banh II của chúng tôi có tờ Ý kiến chung, có những cây bút cừ như anh Nguyễn Văn Cừ, anh Lê Duẩn, anh Bùi Công Trừng viết nhiều”16.

Phong trào đấu tranh của tù nhân ngoài Côn Đảo bắt đầu có tiếng vang. Một số đồng chí thoát khỏi cảnh lao tù trở về đất liền lên tiếng tố cáo chế độ nhà tù tàn bạo. Các đồng chí Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Nguyễn viết loạt bài ký sự Côn Lôn đăng trên các báo ở Hà Nội và Sài Gòn gây xôn xao dư luận ở Đông Dương và Pháp. Để xoa dịu dư luận, tháng 1-1936, Toàn quyền Đông Dương phải tuyên bố tha 6 tù chính trị ở Côn Đảo và giảm nhiều án chung thân xuống 15-20 năm. Một mặt, chúng lại tìm cách tiếp tục đàn áp cuộc đấu tranh của người tù. Tên thực dân gian ác Buviê lại được cử sang làm chúa ngục Nhà tù Côn Đảo. Hắn thẳng tay tước bỏ những quyền lợi mà những người tù đã đấu tranh giành được. Đồng chí Lê Duẩn bàn với các đồng chí trong Ban phụ trách và chi bộ nhà tù phát động những đợt đấu tranh mới. Từ Nhà tù Côn Đảo, đường dây liên lạc với các đồng chí Pháp vẫn được duy trì. Các đồng chí ta vẫn nhận được đều đặn thư từ, sách báo, tài liệu qua con đường biển, kể cả những văn kiện của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII. Nhiều tài liệu quan trọng đến Côn Đảo rồi mới về đất liền. Nhạy bén trước sự chuyển biến của tình hình, các đồng chí ta đề ra những yêu sách đấu tranh cao hơn. Bên cạnh những yêu sách đòi cải thiện chế độ lao tù, còn đòi phải thả hết tù chính trị. Cuộc đấu tranh được tổ chức chặt chẽ và trên quy mô toàn đảo. Toàn đảo thành lập Uỷ ban tranh đấu có các đội thông tin, tuyên truyền, trật tự, tự vệ… để chỉ đạo thống nhất cuộc đấu tranh. Các đề lao có Ban tranh đấu. Đồng chí Lê Duẩn thường xuyên đóng góp những ý kiến thiết thực và hăng hái đi hàng đầu trong cuộc đấu tranh. Ngày 27-5-1936, cuộc đấu tranh bắt đầu. Đồng chí Phạm Hùng thay mặt những người tù đưa yêu sách. Bọn chúa ngục từ chối và bắt đồng chí Phạm Hùng giam xà lim. Theo kế hoạch đã định, toàn đảo nhất loạt hò la, hô vang các khẩu hiệu: “Đả đảo khủng bố!”, "Đả đảo Buviê". Chúa đảo ra lệnh cho cai ngục thẳng tay đàn áp. Chúng dùng roi mây loại lớn đánh tới tấp người tù. Uỷ ban tranh đấu quyết định tuyệt thực để phản đối và tiếp tục đấu tranh. Tù nhân nhất loạt bỏ cơm. Những người đang lao động tại các sở tù cũng bỏ việc để hưởng ứng. Cuộc tuyệt thực đến ngày thứ tư thì mọi người lả dần, không còn thấy cái đói hành hạ như hai hôm đầu nữa. Bọn cai ngục khiêng vào các phòng giam những thùng sữa nóng hổi. Mùi sữa nóng thơm lừng hấp dẫn. Nằm trên sàn xi măng, các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng đưa mắt động viên anh em kiên trì chịu đựng, đấu tranh đến cùng. Ánh mắt ấm áp của những người bạn tù vốn được anh em quý mến tin tưởng đã tiếp thêm sức mạnh cho một người. Mấy hôm sau báo chí Sài Gòn bắt đầu đưa tin về cuộc đấu tranh. Sau 13 ngày tuyệt thực cuộc đấu tranh thắng lợi, địch phải đáp ứng phần lớn những yêu sách của người tù. Về yêu sách đòi thả hết tù chính trị, chúng hứa sẽ chuyển lên Thống đốc Nam Kỳ và Toàn quyền Đông Dương.

Giữa những năm ba mươi, tình hình thế giới đang có những biến động lớn. Nhân loại đang đứng trước nguy cơ chiến tranh phát xít. Phong trào đấu tranh bảo vệ hoà bình cũng đang phát triển mạnh ở châu Âu. Tháng 10-1936, Mặt trận Nhân dân Pháp vừa thành lập đã công bố cương lĩnh tranh cử của mình. Trong cương lĩnh tranh cử của Mặt trận, nội dung đại xá chính trị phạm chiếm vị trí quan trọng. Tháng 5-1936, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp được thành lập do ông Lêông Bờlum, người của Đảng Xã hội làm Thủ tướng và ông Mutê, cũng là người của Đảng Xã hội làm Bộ trưởng Thuộc địa. Bọn phản động thuộc địa buộc phải thực hiện chỉ thị của Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp. Trong bốn tháng cuối năm 1936 có 500 tù chính trị ở Côn Đảo được trả lại tự do, trong số đó một nửa là các chiến sĩ cộng sản. “Nhà tù là nơi thử thách ý chí của những chiến sĩ cách mạng Việt Nam, là nơi diễn ra cuộc chiến đấu một mất một còn giữa cách mạng là bọn cướp nước. Bè lũ thực dân muốn giết hại những người cộng sản để tiêu diệt phong trào cách mạng Việt Nam, nhưng chúng không làm được. Những người cộng sản Việt Nam đã thắng"17. Ngọn lửa đấu tranh đã rèn luyện các đồng chí trở thành những con người gang thép. Đây là vốn quý để gây dựng lại phong trào đấu tranh trong giai đoạn mới của cách mạng. Bọn thực dân Pháp biết vậy, nhưng không còn cách gì ngăn cản được. Đồng chí Hoàng Quốc Việt đã kể lại: "Mãi gần cuối năm, vào một buổi sáng chúa ngục gọi chúng tôi ra bắt xếp hàng rồi nhìn chúng tôi từ đầu đến chân, nhìn anh Lê Duẩn, nhìn anh Phạm Văn Đồng, tiu nghỉu nói:

- Các anh mà cũng được về à ?

- Chúng tôi đáp:

- Anh tiếc à ? Anh phải nhớ rằng các anh bắt chúng tôi không có chứng cớ gì hết”18.

Một ngày cuối tháng 10-1936, chiếc tàu biển mang tên viên Toàn quyền Đông Dương Pátxkiê nhô neo đưa 200 tù chính trị từ Côn Đảo trở về đất liền. Buổi chia tay với các đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Nguyễn Duy Trinh và những người còn phải ở lại thật là cảm động. Người đồng chí già tóc bạc, người lính thuỷ nổi tiếng trên biển Đen năm xưa, nét mặt phong sương, quắc thước, nắm chặt tay từng người, dặn dò, trao gửi nhiệm vụ. Tiếng còi rúc vang. Tàu rời bến. Đồng chí Lê Duẩn vẫy tay chào tạm biệt các đồng chí thân yêu và đưa mắt nhìn toàn cảnh Nhà tù Côn Đảo: những dãy nhà xám xịt, mốc xanh, những bót gác đứng thoi loi, nghĩa địa Hàng Keo19 quạnh vắng, Núi Chúc xanh mờ và xa xa là Hòn Cau bồng bềnh trong khói sóng. Tất cả còn in đậm dấu ấn của một thời đau thương mà oanh liệt.

Tàu Pátxkiê cập bến Ô Cấp để các đồng chí quê ở Nam Kỳ lên bờ rồi chạy thẳng ra Đà Nẵng. Cuộc chia tay vội vàng diễn ra trên cầu tàu và sân ga. Các đồng chí: Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Hoàng Quốc Việt đi tiếp ra Hải Phòng. Đồng chí Phạm Văn Đồng về Quảng Ngãi, đồng chí Hà Huy Giáp về Vinh. Các đồng chí Nguyễn Chí Diểu, Lê Duẩn về Huế và Quảng Trị.

Đúng mười năm cách xa biền biệt, đồng chí Lê Duẩn mới lại trở về xóm nghèo Chợ Sãi năm xưa, người xạm đen, gầy guộc, trên lưng áo còn in đậm số tù. Ngày sum họp với gia đình cũng là ngày buồn thương, đau đớn trong đời người chiến sĩ cách mạng. Bà Võ Thị Đạo, một người mẹ mẫu mực, điểm tựa tinh thần của các con, qua đời. Bà đã dồn nén tình thương mãnh liệt của người mẹ, động viên con ra đi thực hiện lý tưởng của mình để rồi ngày ngày chờ ngóng tin con. Nỗi đau bất tận cũng ngày ngày thiêu đốt tâm can người mẹ. Sức lực kiệt dần. Bà mất ngày 13-3-1936 để lại tình thương cho bà con làng xóm. Cả làng xã đưa bà đến nơi an nghỉ cuối cùng. Bé gái Lê Minh Cừ lên 5 tuổi nay mới được gọi tiếng "Ba".

 

3. Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ

Năm 1936, chủ nghĩa phát xít đã trở thành mối đe doạ đối với nhân dân thế giới. Các nước đế quốc quân phiệt Đức, Italia, Nhật Bản liên kết thành một khối quân sự. Chúng tuyên bố mục tiêu hàng đầu của chúng là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản. Nhân loại đứng bên bờ vực của thảm họa chiến tranh. Trước tình hình đó, Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII đã họp tại Mátxcơva (7-1935). Đại hội đã phân tích tình hình và vạch rõ những mâu thuẫn, xác định kẻ thù trước mắt của giai cấp công nhân, của nhân dân thế giới là chủ nghĩa phát xít. Nhiệm vụ đấu tranh nước mắt trong giai đoạn này của phong trào cộng sản và công nhân thế giới, của các dân tộc là chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, đòi dân chủ, gìn giữ hòa bình.

Xuất phát từ nhận định đó, Quốc tế Cộng sản chủ trương thành lập Mặt trận Nhân dân trên thế giới rộng rãi nhằm ngăn chặn và chống chủ nghĩa phát xít. Đó là nhiệm vụ chủ yếu cấp bách của tất cả các đảng cộng sản và các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới.

Tại Pháp, tháng 1-1936, Mặt trận Nhân dân chống phát xít được thành lập. Mặt trận đề ra cương lĩnh đòi thả hết tù chính trị, giải tán và tước vũ khí của bọn phátxít, thực hiện tuần lễ làm việc 40 giờ và tăng thêm trợ cấp cho người thất nghiệp. Mặt trận Nhân dân đã giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử mùa hè năm 1936.

Nhận thấy một số điểm nêu trong Nghị quyết Đại hội lần thứ nhất của Đảng không còn phù hợp với tình hình trong nước và thế giới, tháng 7-1936, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp nhằm thảo luận và điều chỉnh đường lối của Đảng. Hội nghị xác định, kẻ thù của cách mạng Đông Dương chủ yếu và nguy hiểm nhất cần tập trung đánh đổ là bọn phản động thuộc địa và tay sai. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương, sau đổi thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Mặt trận thu hút tất cả các đảng phái các đoàn thể chính trị tán thành cải cách dân chủ.

Trước cuộc đấu tranh của nhân dân ta và nhân dân Pháp, chính quyền thực dân phải trả tự do (chúng gọi là ân xá) cho một số tù chính trị. Để dễ quản lý, chúng chỉ định nơi cư trú và thực hiện chế độ kiểm soát nghiêm ngặt.

Tháng 8-1936, từ các nhà tù Buôn Ma Thuột, Côn Đảo, các đồng chí Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu trở về Huế bắt đầu khôi phục phong trào cách mạng. Tháng 10-1936 , đồng chí Lê Duẩn từ Côn Đảo về Quảng Trị. Vừa về đến quê hương, nén nỗi đau vô hạn trước cái chết của mẹ, đồng chí nhanh chóng liên lạc với các đảng viên và quần chúng cách mạng như: Hoàng Hữu Chấp, Trần Mạnh Quỳ, Phú (thợ may chợ Sãi) và Hồ Xuân Lưu20 để tiếp tục hoạt động.

Đồng chí Hoàng Thị Ái làm liên lạc của Trung ương và Xứ uỷ trong những năm 1929, 1930, là người cùng quê với đồng chí Lê Duẩn, cũng vừa từ Nhà tù Vinh trở về. Đồng chí Lê Duẩn bàn với chị Ái và vợ anh Phú cùng buôn sắn, cá khô, vừa hoạt động cách mạng.

Đồng chí Lê Thế Tiết21 ở Tường Vân, xã Triệu Vân, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, có điều kiện kinh tế khá giả được đồng chí Lê Duẩn giao nhiệm vụ vận động tài chính cho Đảng. Lê Thế Tiết bán tài sản của gia đình mình lấy tiền bỏ vào quỹ Đảng.

Cầm ít tiền ủng hộ của đồng chí Lê Thế Tiết làm vốn, đồng chí Lê Duẩn cùng Hoàng Thị Ái lên vùng núi Ba Lòng, một huyện miền núi buôn bán sắn khô và tìm cách gây dựng cơ sở. Từ Ba Lòng, các đồng chí mở rộng địa bàn hoạt động đến Gio Linh. Ở Gio Linh, đồng chí Lê Duẩn được gia đình ông Vũ, một gia đình có truyền thống cách mạng giúp đỡ cho ở nhờ. Ông Vũ có con đi hoạt động cách mạng đã hy sinh ở Nhà tù Buôn Ma Thuột. Sau khi gây dựng được cơ sở ở Gio Linh, đồng chí vào Cam Lộ gặp Hồ Xuân Lưu cùng gây dựng lại cơ sở đảng ở Cam Lộ. Đồng chí Lê Duẩn đi tới đâu thì phần lớn các cơ sơ đảng ở đó được khôi phục. Những chiến sĩ cộng sản ở Vĩnh Linh vừa từ các nhà tù trở về được đồng chí Lê Duẩn tập hợp lại cùng nhau xây dựng phong trào. Phần lớn các vùng Gio Linh, Cam Lộ, Vĩnh Linh trong những năm 1936 1937, các cơ sở đảng đều được xây dựng lại.

Bước vào năm 1936, nhiều cán bộ, đảng viên do bị giam cầm lâu ngày, mới ra khỏi nhà tù đế quốc, chưa liên lạc được với cấp trên, nên chưa nắm vững chủ trương, chính sách, phương thức hoạt động của Đảng trong tình hình mới. Một số vẫn giữ quan điểm hoạt động theo phương thức cũ, không theo đường lối công khai hợp pháp; một số tuy nhạy bén với tình hình nhưng chưa tiếp thu được chủ trương mới nên lúng túng trong hoạt động. Vì vậy trong nội bộ cán bộ, đảng viên ở địa phương chưa thống nhất được phương thức đấu tranh cho phù hợp với thực tế lúc bấy giờ. Trước tình hình đó, đồng chí Lê Duẩn chỉ đạo cho cán bộ, đảng viên nhanh chóng bắt liên lạc với các cơ sở cũ, đồng thời đi khắp các địa bàn nắm tình hình và tổ chức truyền đạt cho các đảng viên cộng sản về tinh thần của Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất; Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đang ngày 26-7-1936; giải thích ý nghĩa của Mặt trận Nhân dân đối với cách mạng nước ta, chỉ rõ sự chuyển hướng chỉ đạo và hình thức, phương pháp đấu tranh trong tình hình mới. Đồng chí tập hợp lực lượng thanh niên ở các huyện Triệu Phong. Hải Lăng và Cam Lộ để tuyên truyền, giác ngộ đưa họ vào tổ chức, tham gia hoạt động cách mạng. Đặc biệt, trước thực tiễn cách mạng trong nước và Quảng Trị, đồng chí nhấn mạnh: Phải triệt để lợi dụng những khả năng hoạt động công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp để lãnh đạo quần chúng, song không được quên việc duy trì và phát triển các tổ chức bí mật của Đảng, phòng khi bất trắc.

Với tư duy năng động, nhạy bén, cùng với lòng nhiệt tình và trình độ lý luận sắc bén, đồng chí Lê Duẩn đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối, chính sách của Đảng vào tình hình cụ thể ở Quảng Trị, đề ra những chủ trương mới, sát đúng, tạo được uy tín lớn trong đông đảo đảng viên và quần chúng. Đồng chí nhanh chóng tập hợp được cán bộ cốt cán làm hạt nhân lãnh đạo phong trào, chắp nối được các cơ sở đảng, đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân trong Mặt trận Dân chủ để đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ... Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, các tổ chức cơ sở đảng đã được khôi phục và đến cuối năm 1936, Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Trị được thành lập gồm các đồng chí: Lê Duẩn, Hồ Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khiếu, Trần Mạnh Quỳ.

Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn, phong trào hưởng ứng Đông Dương đại hội phát triển rầm rộ ở Vĩnh Linh, các cựu chính trị phạm chia nhau về các địa phương vận động quần chúng sưu tập dân nguyện, lập Uỷ ban vận động Đông Dương đại hội từ xã lên. Phong trào Mặt trận Dân chủ phát triển lan rộng khắp các phủ huyện và được tổ chức công khai, rộng rãi trong toàn tỉnh. Các Uỷ ban vận động hướng dẫn quần chúng lập bản dân nguyện, tổ chức các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia. Bên cạnh Uỷ ban hành động, một số xã còn thành lập được Uỷ ban cải cách hương thôn thu hút dông đảo quần chúng nhân dân, trong đó có cả một số hào lý hưởng ứng. Cuộc vận động trù bị Đông Dương đại hội đã mở đầu cho phong trào Mặt trận Dân chủ ở Quảng Trị.

Do ảnh hưởng của phong trào Đông Dương đại hội, bất chấp lệnh quản thúc và sự canh gác nghiêm ngặt của địch, đồng chí Lê Duẩn và các cựu tù chính trị đã tranh thủ thế hợp pháp đẩy mạnh hoạt động, không quản ngày đêm gian khổ về các làng xã vận động, giác ngộ, tổ chức quần chúng vào các hội tương tế, ái hữu. Phong trào cách mạng trong tỉnh, nhất là ở Cam Lộ, Triệu Phong, Vĩnh Linh phục hồi nhanh chóng. Thấy phong trào quần chúng lên mạnh, bọn cầm quyền phản động ở tỉnh và các phủ tìm cách làm giam uy tín và hạn chế hoạt động của các cựu chính trị phạm. Điển hình là ngày 16-12-1936, khi xét xử vụ kiện ở làng Vệ Nghĩa, tên tri phủ Triệu Phong đã dùng roi mây đánh cụ Hồ Ngọc Thâm, một cựu chính trị phạm ngay giữa công đường, khiến cụ tự cắn lưỡi để phản kháng. Nhân cơ hội đó đồng chí Lê Duẩn chủ trương cho con trai cụ Hồ Ngọc Thâm kiện tên tri phủ lên Công sứ Quảng Trị, Khâm sứ Trung Kỳ và Bộ Thuộc địa Pháp, đồng thời trực tiếp lãnh đạo Đảng bộ Triệu Phong phát động quần chúng đứng lên đấu tranh chống bọn quan lại đàn áp các cựu chính trị phạm. Kết quả, tên tri phủ Triệu Phong buộc phải xin lỗi cụ Hồ Ngọc Thâm. Cuộc đấu tranh giành thắng lợi đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của quần chúng, mở ra phong trào đấu tranh công khai hợp pháp, tạo cơ hội để ta đưa ra những yêu sách đấu tranh về chính trị sau này.

Đầu năm 1937, trước cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương và áp lực của dư luận tiến bộ Pháp, Chính phủ Bình dân Pháp phải cử một phái bộ sang Đông Dương điều tra, nắm tình hình, và qua đó, điều chỉnh một số chủ trương mở rộng phần nào các quy chế về dân chủ ở Việt Nam và Đông Dương.

Trung ương Đảng chủ trương phát động một phong trào đấu tranh mới, đẩy mạnh các hình thức tổ chức hoạt động công khai, hợp pháp để tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân vào mật trận thống nhất, tập trung mũi nhọn đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa và tay sai cô lập, phân hoá nội bộ kẻ thù.

Tháng 2-1937, được tin phái viên của Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp là Gôđa được cử sang Đông Dương điều tra tình hình sẽ đến Quảng Trị, các cựu chính trị phạm trong tỉnh, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Lê Duẩn, chủ trương nhân cơ hội này phát động phong trào quần chúng rộng rãi biểu dương lực lượng trong toàn tỉnh, lấy cớ thu thập nguyện vọng nhân dân để chuyển tới Gôđa. Thực hiện chủ trương đó, Đảng bộ Quảng Trị đã phát động một phong trào quần chúng rầm rộ đưa thỉnh nguyện cho Gôđa.

Tháng 2-1937, các tù chính trị cũ ở Quảng Trị gửi điện cho Toàn quyền Đông Dương Brêviê đòi thả hết tù chính trị và đòi ban hành tự do dân chủ. Nội dung bức điện như sau:

“Gửi quan Toàn quyền Đông Dương, Sài Gòn.

Hân hạnh kính chào quan Toàn quyền mới do Chính phủ Mặt trận Nhân dân cử sang. Chúng tôi bày tỏ nguyện vọng sau đây của chúng tôi: toàn xá chính trị phạm, tự do báo chí, tự do nghiệp đoàn. Ban hành các luật xã hội, bãi bỏ thuế thân, thành lập chính phủ duy nhất chịu trách nhiệm trước Viện do phổ thông đầu phiếu bầu ra...

Ký tên: Các chính trị phạm Quảng Trị vừa được thả”22.

Nhằm ngăn chặn hoạt động của các cựu chính trị phạm lợi dụng cuộc đón tiếp Gôđa để thúc đẩy phong trào cách mạng quần chúng trong tỉnh, chính quyền phản động Pháp và Nam Triều ở Quảng Trị giao nhiệm vụ cho tên Nguyễn Định, tri phủ Triệu Phong mời các cựu chính trị phạm nổi tiếng trong tỉnh vào phủ đường Triệu Phong bày tỏ thảo luận dân nguyện, nhằm giam chân họ trong thời gian Gôđa đến Quảng Trị.

Tri phủ Triệu Phong gửi giấy mời các chính trị phạm Lê Duẩn, Trần Công Khanh và nhiều người khác đến phủ đường. Nhận rõ âm mưu của địch, đồng chí Lê Duẩn gửi thư cho Trần Công Khanh (Vĩnh Linh) bàn việc phải gấp rút tổ chức một cuộc biểu tình quần chúng vào Triệu Phong, lấy cớ là theo thư mời của tri phủ Triệu Phong để thảo nguyện vọng chuyển tới ông Guytxtanh Gôda. Nhận được thư của đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trần Công Khanh đã triệu tập một cuộc họp có đông đủ đại biểu các làng đến dự. Sau khi thảo luận, cuộc họp nhất trí với kế hoạch của đồng chí Lê Duẩn và bầu ban chỉ huy gồm 4 đồng chí, do đồng chí Trần Công Khanh đứng đầu.

Theo kế hoạch, rạng sáng ngày 20-2-1937, khoảng 4.000 người đủ các tầng lớp nhân dân trong phủ chia làm ba đoàn đã kéo đến địa điểm tập trung tại Quảng Xá: một đoàn đi bằng thuyền, một đoàn đi bộ và một đoàn đi bằng tàu hoả. Sáng ngày 21-2-1937, đoàn biểu tình đã tập trung tại chợ Sãi. Nhân dân Triệu Phong tập trung chờ sẵn rầm rập kéo đến cùng với đồng bào Vĩnh Linh hợp thành một đoàn biểu tình đông chưa từng có tiến lên thị xã tỉnh lỵ. Đoàn biểu tình bị tên Công sứ cùng tuỳ tùng và một đại đội lính khố xanh chặn lại. Tên tri phủ Triệu Phong đe doạ bắt những người cầm đầu. Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, chúng không dám bắt đồng chí Lê Duẩn. Thừa thắng, đoàn biểu tình đòi kéo lên chỗ có bóng cây để tránh nắng, mục đích là để tiến gần toà sứ. Lúc đó đoàn biểu tình của nhân dân Hải Lăng đã cùng hoà nhập. Nhân dân tham gia cuộc mít tinh cử đồng chí Trần Công Khanh làm chủ toạ, điều khiển cuộc thảo luận và cử đồng chí Hoàng Hậu Chấp làm thư ký...

Sau cuộc đấu tranh thảo dân nguyện thắng lợi, tại chợ Sãi, ban vận động đón tiếp Gôđa được thành lập do đồng chí Lê Duẩn làm trưởng ban. Hưởng ứng phong trào, hàng vạn quần chúng nhân dân khắp nơi trong tỉnh đã biểu dương lực lượng, biểu tình đòi thả tù chính trị, bỏ thuế thân, giảm thuế điền thổ, đòi ban hành các quyền tự do dân chủ.

Sau khi Uỷ ban vận động đón tiếp Gôđa của tỉnh được thành lập, các phủ, huyện, thị và cơ sở (tổng, xã) trong tỉnh cũng thành lập Uỷ ban vận động. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn, ngoài Uỷ ban vận động (gồm một số đại biểu công khai hoạt động) còn có một bộ phận dự bị, hoạt động bí mật, không tham gia các cuộc biểu tình, chuẩn bị kế hoạch tuyên truyền và tổ chức sau khi cuộc vận động đón tiếp Gođa kết thúc để nuôi dưỡng phong trào.

Uỷ ban vận động tỉnh đã đề ra kế hoạch hành động sau cuộc đón tiếp Gôđa với các nội dung chủ yếu:

- Giải thích cho quần chúng hiểu rằng: không chỉ đưa yêu sách và đề đạt nguyện vọng là xong, mà phải tiếp tục đấu tranh buộc bọn thống trị phải thực hiện các yêu sách và nguyện vọng đã đề đạt.

- Khi cuộc đón tiếp Gôđa ở tỉnh, huyện kết thúc thì quần chúng biểu tình dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban vận động kéo về làng, xã, tổng họp mít tinh, giải thích các khẩu hiệu đấu tranh.

- Đoàn kết nông dân lao động, tranh thủ sự đồng tình của tầng lớp trên, đấu tranh buộc địch thực hiện các quyền lợi thiết thực hàng ngày, bãi bỏ đồi phong bại tục, hoãn nộp thuế, lập hương ước...

- Đưa quần chúng vào sinh hoạt trong các tổ chức công khai hợp pháp và nửa hợp pháp như tổ đọc sách báo và các hội biến tướng khác...

Nhờ có kế hoạch cụ thể, định rõ các công việc phải làm trước, trong và sau khi đón Gôđa, nên phong trào đón Gôđa ở Quảng Trị thu được kết quả lớn. Ngày 25-2-1937, hơn 15.000 đồng bào Vĩnh Linh và Gio Linh đại diện cho các tầng lớp nhân dân với hàng ngũ chỉnh tề sắp hàng từ bến đò Hiền Lương đến ngã ba rẽ về Cửa Tùng chờ đón Gôđa.

Khoảng 8 giờ ngày 26-2-1937, khi đoàn xe của Gôđa vừa tiến lên khỏi ngã ba thì đoàn biểu tình chào đón ông ta bằng các khẩu hiệu:

“Hoan hô Gôđa!”

“Mặt trận Nhân dân Pháp muôn năm!”

“Tự do dân chủ!”

“Bỏ thuế thân, giảm thuế điền thổ!”

“Đại xá chính trị phạm!”

Gôđa xuống xe, bắt tay đồng chí Trần Công Khanh, nhận bản dân nguyện, hứa hẹn rồi lên xe đi tiếp. Ở địa điểm thị xã tỉnh Quảng Trị, thực hiện chủ trương của Uỷ ban vận động đón Gôđa của tỉnh, Uỷ ban vận động đón Gôđa của phủ Triệu Phong đã chọn địa điểm thuận lợi để tập trung quần chúng...

Khi Gôđa sắp đến, đoàn biểu tình ở chợ Sãi (phủ Triệu Phong) đến tập trung ở nhà ga để đón Gôđa thì bị bọn thống trị cho lính ra chặn lại, nhằm cản trở sự tiếp xúc của quần chúng với phái viên của Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp. Trước lý lẽ đấu tranh có lý, có tình của đoàn biểu tình, chúng phải đồng ý để những người biểu tình cử một đoàn khoảng 600 người kéo lên ga, sáp nhập với lực lượng quần chúng của Hải Lăng và tổng An Đông tổ chức đón Gôđa do đồng chí Lê Duẩn làm trưởng đoàn.

Đoàn biểu tình của hai phủ Triệu Phong Hải Lăng và thị xã Quảng Trị khoảng gần một vạn người, xếp hàng đứng trên đường trước nhà ga Quảng Trị đợi sẵn. Khi thấy Gôđa và đoàn tuỳ tùng xuất hiện từ phía cầu Ga, quần chúng biểu tình đã giương cao băng, biểu ngữ và hô vang các khẩu hiệu: Ủng hộ Mặt trận Nhân dân Pháp; Ban hành luật tự do dân chủ; Bỏ thuế thân, Thả hết tù chính trị... Đến trước nhà ga, xe của Gôđa dừng lại, đồng chí Lê Duẩn thay mặt đoàn biểu tình, tỏ lời chào mừng Gôđa và những người cùng đi. Đồng chí phát biểu ý kiến, nói lên tình cảnh khổ cực của nhân dân Quảng Trị sống dưới chế độ bảo hộ của thực dân Pháp, đồng thời nêu lên những yêu sách, nguyện vọng bức thiết của mọi tầng lớp nhân dân lao động. Trước khi kết thúc, đồng chí và một số đại biểu khác đã đưa cho Gôđa các bản thỉnh nguyện nêu rõ các yêu cầu của quần chúng. Đó là các yêu cầu về tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do đi lại, lập hội, tự do ứng cử và bầu cử, thực hiện các luật lao động và bảo hiểm xã hội, giảm thuế và ân xá tù chính trị. Phái đoàn điều tra của Chính phủ Pháp buộc phải tiếp nhận các bản thỉnh nguyện và hứa hẹn sẽ đề đạt những nguyện vọng của nhân dân Việt Nam lên Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp. Sau khi Gôđa đi, các đoàn biểu tình kéo về tập trung ở bãi cát giữa thị xã Quảng Trị và chợ Sãi họp míttinh. Thay mặt Uỷ ban vận động đón Gôđa của tỉnh, đồng chí Lê Duẩn nói chuyện với quần chúng dự mít tinh, giải thích ý nghĩa việc tổ chức đón Gôđa. Sau đó, đồng chí nói về tình hình thế giới, trong nước và nhiệm vụ của nhân dân Quảng Trị trong giai đoạn mới.

Phong trào đón Gôđa ở Quảng Trị đã có tiếng vang lớn trong cả xứ, ảnh hưởng chính trị sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, khiến bọn thống trị phải lo sợ. Bản báo cáo của Bộ Lại gửi lên vua Bảo Đại ngày 27-3-1937 đã thú nhận: “Chúng tôi kính cẩn báo cáo để Hoàng thượng biết rằng theo báo cáo chính trị tháng 2-1937 của các tỉnh Trung Kỳ, tình hình chính trị trong xứ nói chung yên tĩnh, trừ hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên là các nơi xảy ra những sự kiện chính trị quan trọng mà chúng tôi xin kể ra dưới đây:

Quảng Trị, các cựu chính trị phạm và những kẻ tình nghi, hưởng ứng lời kêu gọi của Lê Duẩn, Trần Công Khanh đã xúi giục dân chúng đi đón ông Gôđa và đưa nguyện vọng cho ông ấy.

Đến giờ đây bọn họ đang tuyên truyền lập các hội buôn, các nhóm đọc sách, báo và chuẩn bị cuộc biểu tình để đón phái đoàn điều tra sắp sang Đông Dương. Họ xúi giục những người buôn bán ở chợ Quảng Trị đòi giảm thuế patăng..."

Sau cuộc biểu tình đón Gôđa, mặc dù bọn thống trị tìm mọi cách hạn chế hoạt động của các cựu chính trị phạm, song dưới sự chỉ đạo sâu sát và khôn khéo của đồng chí Lê Duẩn, phong trào cách mạng ở Quảng Trị vẫn phát triển sâu rộng. Các tổ chức hợp, pháp nửa hợp pháp như tổ làm vườn, hội hiếu, tổ đọc sách, báo phát triển nhiều nơi. Đặc biệt là các tổ đọc sách, báo đã có tác dụng lớn trong việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng.

Tháng 3-1937, đồng chí Lê Duẩn đã đi về các huyện: Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh kiểm tra tình hình, kịp thời góp ý với các cán bộ lãnh đạo các địa phương những ý kiến quan trọng về chủ trương công tác, về giữ gìn bí mật, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng. Nhờ đó, các biểu hiện lệch lạc như: công khai hợp pháp bộc lộ hết lực lượng hoặc rụt rè, cố thủ ở một số cán bộ đã được khắc phục.

Nhờ hoạt động tích cực của đồng chí Lê Duẩn, phong trào đấu tranh của nhân dân Quảng Trị ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhiều tổ chức đảng được khôi phục. Trong ba ngày từ 28 đến 30-6-1937, Hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị được tổ chức tại làng Phú Long (Hải Lăng) dưới sự chủ toạ của đồng chí Lê Duẩn. Hội nghị khẳng định qua phong trào cách mạng Quảng Trị từ năm 1936 đến thời gian này, cơ sở đảng được phục hồi nhiều nơi các tổ chức quần chúng phát triển. Hội nghị quyết định xây dựng lại Đảng bộ từ chi bộ đến huyện uỷ theo hướng bí mật, bất hợp pháp; đẩy mạnh xây dựng các tổ chức quần chúng, đưa quần chúng ra hoạt động công khai hợp pháp và nửa hợp pháp, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng. Hội nghị bầu Ban chấp hành Đảng bộ gồm 7 uỷ viên: Hoàng Thị Ái, Hoàng Hữu Chấp, Hồ Xuân Lưu, Trần Mạnh Quỳ Nguyễn, Mực, Nguyễn Vức, Dương Đậu. Đồng chí Hoàng Hữu Chấp được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. Khi đồng chí Hoàng Hữu Chấp bị bắt (9-1937), đồng chí Trần Mạnh Quỳ được cử làm Bí thư.

Từ sau Hội nghị Đảng bộ, phong trào cách mạng của nhân dân Quảng Trị lên cao, tổ chức đảng và tổ chức quần chúng phát triển mạnh.

Tháng 9-1937, dân chúng các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ biểu tình đưa nguyện vọng lên dân biểu Trần Đăng Hiến.

Tháng 10-1937, dân chúng Triệu Phong biểu tình đưa nguyện vọng của dân đến dân biểu Phan Triệu Khanh.

Tháng 12-1987, nhân dân Quảng Trị đấu tranh đòi cải cách nông thôn và phát triển phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ. Nhiều nơi thành lập được hương ước, quy định quyền của dân làng được tham gia giải quyết công việc của làng xã. Nông dân đòi thêm được quyền lợi về ruộng đất ở Ngô Xá (Triệu Phong), một suất đinh được chia thêm một sào năm thước ruộng. Ở Huỳnh Công (Vĩnh Linh), phụ nữ cũng được chia ruộng công. Bà con còn mở nhiều lớp học chữ Quốc ngữ, nhất là lớp học cho phụ nữ. Hoạt động của đồng chí Lê Duẩn không chỉ trong phạm vi tỉnh Quảng Trị, mà đồng chí còn cùng các đồng chí Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu tích cực hoạt động xây dựng lại Đảng bộ Trung Kỳ. Tháng 3-1937, đồng chí Lê Duẩn từ Quảng Trị vào Huế làm việc với các đồng chí Nguyễn Chí Diểu, Phan Đăng Lưu, đi khảo sát tình hình ở Huế, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam. Sau khi đi xem xét tình hình phong trào địa phương, đồng chí trở lại Huế cùng với các đồng chí Nguyễn Chí Diều, Phan Đăng Lưu triệu tập Hội nghị cán bộ một số tỉnh Trung Kỳ vào ngày 20-3-1937. Hội nghị yêu cầu các tổ chức đảng phát động phong trào đấu tranh trong quần chúng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VII quốc tế Cộng sản: chống chiến tranh đế quốc, lập mặt trận rộng rãi, đòi các quyền dân sinh, dân chủ. Hội nghị quyết định thành lập Xứ uỷ lâm thời gồm các đồng chí: Nguyễn Chí Diểu, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, do đồng chí Nguyễn Chí Diều làm Bí thư. Khoảng cuối tháng 8 đầu tháng 9-1937, do bị bệnh nặng, đồng chí Nguyễn Chí Diểu đã uỷ quyền cho đồng chí Lê Duẩn thay mình làm Bí thư Xứ uỷ lâm thời.

Tháng 3-1938, Xứ uỷ Trung Kỳ chính thức được lập lại. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư. Cũng trong khoảng thời gian này, Xứ uỷ cử Lê Thế Tiết và Lê Thị Quế vào Huế, thuê nhà và mở hiệu buôn nước mắm An Long ở 83 đường Gia Long làm cơ quan tài chính của Xứ uỷ Trung Kỳ. Bán hàng có Lê Thị Quế là chủ hiệu, Lê Công Bé, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Thị Quả, Lê Thị Nuội23.

Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Huế là nơi tập trung nhiều thanh niên, học sinh. Trong các phong trào cách mạng, tuổi trẻ thành phố đã có những đóng góp xứng đáng. Nhận thức đầy đủ vai trò và vị trí của thanh niên, các đồng chí Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Bùi San đã trực tiếp tổ chức giác ngộ thanh niên, học sinh trong các trường học. Ngày 26-3-1938, Đoàn Thanh niên Dân chủ ở Huế được thành lập.

Cuối tháng 3-1938, Xứ uỷ cử đồng chí Lê Thị Quế đến gặp ông Châu Tùng Cẩm và bà Tôn Nữ Thị Huê, chủ căn nhà 95C đường Gia Long (Huế) để thuê nhà và giao cho đồng chí Lê Kim Thuyên mở "Thư quán Thuận Hoá". Chỉ trong thời gian ngắn, "Thư quán Thuận Hoá đã thành nơi hội tụ của thanh niên, học sinh. Các phong trào truyền bá chữ quốc ngữ, phong trào đọc sách báo tiến bộ, phong trào bài trừ hủ tục trong đời sống vàn hoá... thu hút đông đảo thanh niên. Đây chính là nơi liên lạc và tổ chức các lớp huấn luyện. Tại căn nhà này, các đồng chí Lê Duẩn và Phan Đăng Lưu thường xuyên làm việc với các cán bộ lãnh đạo các tỉnh, phổ biến nhiều Nghị quyết quan trọng của Xứ uỷ.

Căn nhà mở "Thư quán Thuận Hóa” sâu bên trong và hợp kiểu nhà cổ ở thành phố. Phòng ngoài kê một chiếc tủ kính trong bày các loại sách. Sát cửa vào buồng trong kê một chiếc bàn nhỏ và chiếc ghế gỗ. Hồ Xuân Lưu thường ngồi trên chiếc bàn này đóng vai người bán hàng thuê cho hiệu sách, nhưng nhiệm vụ chính là gác cơ quan. Phòng trong hẹp hơn chỉ đủ kê một chiếc chõng tre. Đồng chí Lê Duẩn cùng ngồi trên chõng tre với các đồng chí dự lớp huấn luyện. Những người dự huấn luyện không biết nhau và thường chỉ từ một đến hai người. Chương trình huấn luyện ngắn gọn. Nhiều đồng chí được trưởng thành qua những lớp huấn luyện này như: Tố Hữu, Hoàng Anh, Nguyễn Chí Thanh, Trần Quỳnh...

Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của báo chí hợp pháp, tháng 7-1938, Xứ uỷ quyết định xuất bản tờ báo Dân24cơ quan ngôn luận hợp pháp của Đảng do đồng chí Phan Đăng Lưu chỉ đạo. Tờ báo sử dụng tên của các nghị viên tiến bộ như Nguyễn Đăng Quế, Nguyễn Xuân Các với danh nghĩa chủ bút và thư ký toà soạn, nhưng thực tế điều hành công việc của toà soạn là Phan Đăng Lưu, Hải Thanh, Lâm Mộng Quang, Hải Triều, Nguyễn Cửu Thạch, Hà Thế Hạnh. Kế thừa sự nghiệp của báo Nhành lúa và báo Sông Hương (tục bản), báo Dân đấu tranh đòi cải cách dân chủ. Báo phản ánh nguyện vọng của nhân dân kêu gọi các tầng lớp nhân dân đấu tranh đòi cải cách chế độ thuế khoá, đòi tự do dân chủ, đòi thả chính trị phạm. Trong cuộc đấu tranh chống dự án tăng thuế ở Trung Kỳ, báo Dân thường xuyên nhận được nhiều thư từ, điện tín của nhân dân khắp nơi gửi về. Tòa soạn nhận và công bố các bản nguyện vọng của các đoàn biểu tình, tiếp đại biểu của các ngành các giới và các nghị viện. Dù chỉ tồn tại trong ba tháng, báo Dân thực sự là vũ khí tư tưởng sắc bén25.

Từ giữa năm 1937, tình hình thế giới có nhiều thay đổi theo chiều hướng xấu. Bọn quân phiệt Nhật Bản tiến công Bắc Kinh, mở rộng chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Nước Pháp cũng phải chuẩn bị đối phó với chiến tranh. Bọn thực dân tuyển thêm hai vạn lính ở Đông Dương, phát hành công trái, thực hiện nhiều biện pháp vơ vét của cải, tăng hàng loạt thuế.

Xứ uỷ Trung Kỳ chủ trương chống dự án tăng thuế. Ngày 5-2-1938, Trung ương Đảng ra thông báo: Bầu cử và Thuế. Thực hiện chủ trương đó, khắp Trung Kỳ, các cơ quan tỉnh uỷ đã vận động các tầng lớp nhân dân tổ chức những cuộc đấu tranh liên tục, quy mô lớn với nhiều hình thức phong phú như: biểu tình, bãi công, gửi thư, gửi các bản dân nguyện và đấu tranh nghị trường. Chiều ngày 10-9-1938, Thành phố Huế liên tiếp nổ ra ba cuộc đấu tranh lớn. Mở đầu là đoàn biểu tình của 40 người đại diện cho thợ thuyền, dân nghèo, tiểu thương phụ nữ và thanh niên. Ngày 16-9-1938, trong lúc Viện dân biểu đang họp, nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân tiếp tục nổ ra trong thành phố. 500 người họp míttinh trước chợ An Cựu phản đối dự án tăng thuế. Viện dân biểu đã nhận được 297 bản thỉnh nguyện của nhân dân các tỉnh, huyện gửi đến. Để đẩy mạnh các hoạt động công khai, hợp pháp, Thông cáo của Trung ương Đảng ngày 20-3-1937 nêu rõ: “Vô luận là cuộc tuyển cử gì, Đảng ta có thể tham gia được là tham gia". Ở Trung Kỳ, ngày 8-8-1937, diễn ra cuộc bầu cử Viện dân biểu Trung Kỳ. Đồng chí Lê Duẩn chỉ đạo cho các đảng bộ trong xứ tiến hành vận động quần chúng tham gia cuộc tuyển cử để tuyên truyền những khẩu hiệu của Đảng, dồn phiếu cho các ứng cử viên của Mặt trận Dân chủ, phối hợp cuộc đấu tranh của quần chúng bên ngoài nghị viện với cuộc đấu tranh của những dân biểu tiến bộ trong nghị viện để bênh vực quyền lợi cho quần chúng, đồng thời liên lạc với một số người tiến bộ trong giới trí thức, địa chủ, tư sản dân tộc, vận động họ ra ứng cử. Dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy, các tổ chức đảng ở Trung Kỳ đã mở rộng thêm các hình thức đấu tranh hợp pháp. Các đảng viên và quần chúng tích cực đi về các cơ sở tuyên truyền, giải thích cho quần chúng hiểu rõ chủ trương của Đảng, vận động tập trung bỏ phiếu cho các ứng cử viên do Đảng giới thiệu như: Trần Đăng Hiến và Phan Triệu Khanh ở Quảng Trị; Hoàng Đức Thạch và Nguyễn Đình Diễn ở Huế; Phan Đăng Lưu và Hoàng Chánh Đông ở Quảng Bình; Phan Thanh ở Quảng Nam. Các ứng cử viên được Đảng ủng hộ đều đắc cử trong cuộc bầu cử này. Trên đà phát triển của phong trào cách mạng, Xứ uỷ lâm thời Trung Kỳ do đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư chủ trương tăng cường công tác xây dựng đảng, thành lập chi bộ Đảng trong các giới, các ngành, đẩy mạnh các hình thức đấu tranh công khai, nửa công khai trên quy mô rộng lớn hơn.

Ở Quảng Trị, dân chúng các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ biểu tình đưa nguyện vọng đến dân biểu Trần Đăng Hiến (tháng 9, 10-1937). Nhân dân Triệu Phong biểu tình đưa nguyện vọng đến dân biểu Phan Triệu Khanh (10-1937). Tại nghị trường, các dân biểu tiến bộ sử dụng diễn đàn công khai lên án tính bất công phi lý của dự án thuế mới.

Tháng 10-1938, nông dân Quảng Trị rầm rộ đấu tranh phản đối chế độ thuế khoá mới. Ngày 17-10-1938, hàng nghìn nông dân Vĩnh Linh biểu tình phản đối thuế thân, thuế điền thổ. Ngày 3-11-1938, hơn 3.000 người ở Triệu Phong lại biểu tình. Ngày 5-11-1938, hơn 800 người biểu tình tại Cam Lộ. Cuộc đấu tranh chống dự án tăng thuế thắng lợi.

Từ tháng 11-1938, tại Pháp, phái hữu ngày càng lũng đoạn chính phủ và Mặt trận Nhân dân ở Đông Dương, bọn phản động thuộc địa cũng ra tay đàn áp phong trào cách mạng. Mở đầu chiến dịch khủng bố ở Trung Kỳ, thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa tờ báo Dân. Tiếp đó là cuộc lùng bắt các đảng viên và quần chúng cách mạng.

Là một chiến sĩ cộng sản dày dạn kinh nghiệm trong đấu tranh và tổ chức hoạt động bí mật, đồng chí Lê Duẩn cùng với tập thể Xứ uỷ kịp thời chỉ đạo các cấp bộ đảng ở Trung Kỳ nhanh chóng chuyển vào hoạt động bất hợp pháp, tiếp tục lãnh đạo quần chúng đấu tranh trong tình hình mới.

Phong trào cách mạng ở Trung Kỳ trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê Duẩn đã đạt tới mức phát triển rất cao và qua đó đào tạo, rèn luyện được nhiều cán bộ có đức, có tài đóng góp cho phong trào cách mạng của toàn xứ và cả nước sau này.

Thời kỳ Mặt trận Dân chủ ở miền Trung trong những năm 1936-1939 là thời kỳ đồng chí Lê Duẩn thể hiện tài năng sáng tạo và nhạy bén trong lãnh đạo phong trào cách mạng. Đồng chí đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo về phương thức đấu tranh cách mạng, kết hợp việc xây dựng, phát triển các tổ chức quần chúng rộng rãi để giữ vững và phát triển phong trào với việc xây dựng đảng làm nòng cốt để phát triển lực lượng cách mạng; đề ra các hình thức và phương pháp đấu tranh phong phú, uyển chuyển; kết hợp hoạt động công khai hợp pháp và nửa hợp pháp với hoạt động bí mật, bất hợp pháp; đấu tranh ở nông thôn với đấu tranh ở thành thị; kết hợp đấu tranh của quần chúng ngoài nghị viện với đấu tranh trong nghị viện. Đó còn là sự sáng tạo, nhạy bén trong chuyển hướng chỉ đạo chiến lược gắn vấn đề giai cấp với vấn đề dân tộc, nêu cao ngọn cờ dân chủ để tập hợp rộng rãi mọi giai tầng trong xã hội, trong dân tộc, kể cả giai cấp tư sản dân tộc những thành phần dân chủ, những cá nhân có tư tưởng tiến bộ đứng về phía nhân dân chống lại bọn phản động thuộc địa và vua quan Nam Triều thối nát; thông qua phong trào dân chủ mạnh mẽ cả bề rộng lẫn chiều sâu mà tiến hành một cuộc tập dượt lớn nhằm tiến tới cao trào cứu nước 1940-1945, giành trọn vẹn chính quyền về tay nhân dân trong Cách mạng Tháng Tám.

4. Kiên định con đường đã chọn

Ngay sau khi phái hữu trở lại cầm quyền ở Pháp, bọn phản động thuộc địa ở Đông Dương liền thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Những cuộc bắt bớ lại xảy ra hàng ngày, hàng giờ. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, chính quyền Pháp ở Đông Dương ra lệnh tổng động viên và ban hành hàng loạt nghị định sắc lệnh phản động nhằm bảo vệ quyền lợi của bọn thực dân. Ngày 28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương ký lệnh giải tán các tổ chức ái hữu, nghiệp đoàn và tịch thu giấy phép và tài sản của các tổ chức đó. Ngày 5-10-1939, vua bù nhìn Bảo Đại ra dụ cấm các cuộc hội họp, cấm tuyên truyền vận động cách mạng ở Trung Kỳ. Chỉ trong thời gian ngắn tại Bắc Kỳ đã xảy ra hàng nghìn vụ khám xét, bắt bớ. Tại Nam Kỳ, 14 tờ báo bị đình bản. Toàn bộ nhân viên toà soạn báo Dân chúng, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Sài Gòn, bị bắt giam. Tình hình trong nước và trên thế giới đang đứng trước những biến động dữ dội. Bọn phát xít âm mưu xô đẩy loài người vào cuộc chiến tranh huỷ diệt. Nhưng chiến tranh cũng hé mở cho phong trào cách mạng thế giới điều kiện phát triển mới và thời kỳ đấu tranh cách mạng sôi nổi. Phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và phong trào giải phóng dân tộc sẽ có những bước phát triển nhảy vọt. Nhiều dân tộc bị áp bức sẽ đứng dậy đấu tranh giành độc lập. Phong trào đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta sẽ trải qua những thử thách, hy sinh lớn lao nhưng cũng hứa hẹn những triển vọng tốt đẹp.

Bản thông cáo của Trung ương Đảng ngày 29-9-1939, nhận định “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng"26.

Trước những biến cố mau lẹ và phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo phong trào cách mạng. Các cấp bộ đảng đã nhận được chỉ thị phải sớm chuyển vào hoạt động bí mật. Theo yêu cầu cửa đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, các đồng chí Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu từ Trung Kỳ vào Sài Gòn công tác. Đồng chí Phan Đăng Lưu được Trung ương phân công phụ trách phong trào các tỉnh Nam Kỳ, giúp đồng chí Võ Văn Tần, Bí thư Xứ uỷ nhanh chóng xây dựng các cơ sở đảng và cơ sở quần chúng bí mật. Đồng chí Lê Duẩn cùng với đồng chí Nguyễn Văn Cừ trực tiếp chuẩn bị những văn kiện để sớm triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ngôi nhà số 312 đường Nguyễn Tấn Nghiệp cũ kỹ rêu phong như bao ngôi nhà khác nằm lọt giữa khu đồng bào theo đạo Thiên chúa là nơi các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn thường lui tới họp bàn công việc. Công việc soạn thảo văn kiện cho sát với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới đòi hỏi phải tập trung cao độ trí tuệ tập thể của lãnh đạo cao nhất của Đảng, nhưng cũng buộc ta phải hạn chế những cuộc họp hành, hội thảo đông người để tránh sự chú ý của bọn mật thám. Sài Gòn đang là nơi tập trung cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, thực dân Pháp huy động một lực lượng cảnh sát và mật thám đông đảo, có những tên khét tiếng tàn ác như Badanh, để lùng sục, bắt bớ và đàn áp phong trào. Thâm độc hơn, bọn chúng còn dụ dỗ mua chuộc và triệt để sử dụng một số tên tay sai đã một thời tham gia hoạt động trong các tổ chức của ta, nhưng không chịu được đòn thù và sự cám dỗ của địch đã phản bội lại lý tưởng, bán rẻ đồng chí mình cho giặc. Các đồng chí Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong lần lượt sa vào tay địch. Vốn là người thận trọng và giàu kinh nghiệm tổ chức hoạt động bí mật, đồng chí Lê Duẩn thường ít xuất hiện giữa đám đông và hạn chế những cuộc tiếp xúc không cần thiết. Tại Bắc Kỳ, địch tăng cường khủng bố. Báo Tin tức, cơ quan ngôn luận của Đảng tại Hà Nội đã đình bản, các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt đã rút vào bí mật. Tại Nam Kỳ, đồng chí Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Tạ Uyên, Nguyễn Thị Minh Khai phải lặn lội khắp các tỉnh, thành để tổ chức lại các cơ sở bí mật trong quần chúng. Dưới sự chỉ đạo của Trung ương và Xứ uỷ, phong trào đấu tranh cách mạng ở Nam Kỳ đã tránh được những tổn thất đáng tiếc. Chỉ trong thời gian ngắn, hệ thống tổ chức đảng ở Nam Kỳ được tổ chức lại với những hình thức hoạt động kín đáo, phù hợp với tình hình mới. Các cơ quan tuyên truyền, vận động quần chúng được xây dựng và củng cố như các ban công vận, nông vận thanh vận, binh vận. ..; 19 trong số 21 tỉnh, thành ở Nam Kỳ thành lập được cấp uỷ chính thức. Hai tỉnh còn lại là Bà Rịa và Hà Tiên cũng có ban cán sự. Thực tế công tác xây dựng đảng và phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng ở Nam Kỳ là những bài học sinh động và bổ ích để các đồng chí lãnh đạo của Đảng tổng kết kinh nghiệm, xác định tính chất và những mục tiêu cụ thể của cách mạng trong giai đoạn mới. Công việc chuẩn bị nội dung Hội nghị Trung ương dồn cả lại cho hai đồng chí Nguyễn Văn Cừ và Lê Duẩn. Các đồng chí nhiều đêm thức trắng để trao đổi ý kiến, phân tích tình hình thế giới, xu hướng phát triển của cuộc chiến tranh đế quốc, khả năng đấu tranh để bảo vệ hoà bình của các lực lượng tiến bộ do Liên Xô làm trụ cột. Các đồng chí dành nhiều thời giờ thảo luận tình hình trong nước và tính chất cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Đồng chí Lê Duẩn nhận thức rõ trọng trách lớn lao mà Đảng và nhân dân giao phó. Những quyết định sáng suốt và đúng đắn trong một thời điểm quan trọng của sự nghiệp cách mạng sẽ tạo ra được những chuyển biến căn bản. Giữa đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Nguyễn Văn Cừ thường có những cuộc tranh luận sôi nổi nhiều khi khá gay gắt. Đồng chí Vũ Văn Hiếu, Bí thư đầu tiên của đặc khu mỏ Hòn Gai, người bạn tù thuỷ chung ở Nhà tù Côn Đảo, chăm lo, giúp đỡ các đồng chí Nguyễn Văn Cừ và Lê Duẩn tận tình như những người ruột thịt. Tuy bận tham gia soạn thảo văn kiện của Hội nghị Trung ương, đồng chí Lê Duẩn vẫn sắp xếp thời gian đi về những vùng cơ sở cách mạng giúp đỡ các đồng chí chỉ đạo phong trào. Đồng chí rất quan tâm công tác xây dựng các tổ chức bí mật và phong trào quần chúng ở đô thị, trọng điểm là Sài Gòn Chợ Lớn. Đồng chí cảm phục nghị lực và sự hiểu biết sâu sắc của đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, lúc đó là Uỷ viên Ban Thường vụ Xứ uỷ Nam Kỳ kiêm Bí thư Thành uỷ Sài Gòn Chợ lớn. Đồng chí thường quan tâm giúp đỡ đồng chí Minh Khai trong công tác và cả trong cuộc sống hàng ngày. Chính sự chăm sóc ân cần của những người anh em, người đồng chí đã giúp Minh Khai vơi đi nỗi đau của người vợ xa chồng sắp đến kỳ sinh nở. Tình cảm đồng chí thiêng liêng đó giúp Minh Khai vượt lên thời gian khổ, cống hiến trọn đời cho Đảng, cho cách mạng. Sau này, đồng chí Lê Duẩn kể lại: “Tôi đã gặp và làm việc với nhiều cán bộ phụ nữ, nhưng chưa thấy ai có ý thức quyết vươn lên gánh vác vai trò lãnh đạo cách mạng như đồng chí Minh Khai”27.

Trong cuộc chiến đấu một mất một còn, có một số người đã thoái hóa, đầu hàng, làm tay sai cho địch. Trong số đó có Đinh Văn Di, nguyên là một cán bộ khá sắc sảo trong phong trào cách mạng thời kỳ 1930-1931, đã từng bị giam giữ cùng với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn tại Nhà tù Côn Đảo. Không chịu được đòn thù, bị địch cám dỗ, Đinh Văn Di đã không giữ vững được khí tiết và đã trở thành kẻ phản bội. Sau khi được trả lạc tự do và trở về quê quán, Di nhận làm mật thám cho Pháp. Vì khéo che đậy bộ mặt thật, Di đã được cử làm Bí thư Liên Tỉnh uỷ Thanh Nghệ Tĩnh. Tháng 3-1938, Di đi dự Hội nghị Trung ương tại Sài Gòn. Sau khi Liên tỉnh uỷ Thanh Nghệ Tĩnh trở lại trực thuộc Xứ uỷ Trung Kỳ, đồng chí Lê Duẩn có dịp ra Vinh để chỉ đạo phong trào, đã phát hiện những điều không bình thường trong công tác tổ chức đấu tranh tại địa phương. Khi Đinh Văn Di được triệu tập dự Hội nghị Trung ương, đồng chí Lê Duẩn báo cáo với Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ về những điều mình biết về Đinh Văn Di. Theo đề nghị của đồng chí Lê Duẩn, một cuộc “Hội nghị Trung ương” đã khai mạc và kết thúc nhanh nhằm đánh lạc hướng Dinh Văn Di. Hắn ra về và báo cáo ngay với mật thám Pháp28.

Sau khi gạt bỏ tên phản bội, Hội nghị Trung ương họp từ ngày 6 đến ngày 8-11-1939 tại nhà ông Hai My, một cơ sở quần chúng cách mạng thuộc 18 thôn Vườn Trầu, ngoại thành Sài Gòn. Dự Hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần.

Hội nghị Trung ương tháng 11-1939 phân tích và nhận định tình hình thế giới và trong nước lúc đó đang có nhiều biến động. Cuộc chiến tranh đế quốc đang đặt ra trước nhân loại một nguy cơ lớn, nhưng nó cũng tạo điều kiện cho phong trào cách mạng nhiều nước phát triển. Đối với phong trào cách mạng nước ta, mục tiêu giành độc lập dân tộc dã được đặt ra. Đồng chí Lê Duẩn viết: “Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp quỳ gối dâng Đông Dương cho phát xít Nhật, dân ta một cổ hai tròng, Đảng nhận định đây là thời kỳ mà áp bức, bóc lột và chiến tranh làm cho nhân dân ngày càng cách mạng hoá thời kỳ mà cách mạng nhất định sẽ nổ ra"29.

Hội nghị Trung ương tháng 11-1939 họp giữa lúc phong trào cách mạng nước ta đang đứng trước những khó khăn, thử thách khắc nghiệt. Bọn đế quốc đang thẳng tay khủng bố, nhiều đồng chí trung kiên đã sa vào tay giặc hoặc phải lẩn tránh những cuộc bắt bớ. Hội nghị Trung ương quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của phong trào cách mạng nước ta, mở ra một cao trào mới cao trào vận động cách mạng giành chính quyền trong cả nước

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ sáu ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình chuyển hướng chiến lược của Đảng đối với phong trào cách mạng Trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, và phải tuyệt đối giữ bí mật để tránh sự lùng sục của kẻ thù, anh chị em công nhân đã làm ngày làm đêm in xong các văn kiện của hội nghị để sớm đưa đến với đồng bào đồng chí. Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, một nhà giáo quê ở Hà Nam, đã dâng hiến tất cả sức lực của mình cho công việc âm thầm và khó khăn đó. Nhiều đồng chí cán bộ trung kiên của phong trào được phân công về các địa phương để truyền đạt nghị quyết mới và tổ chức chuyển hướng hoạt động. Đồng chí Võ Văn Tần, Bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ, đã lặn lội khắp vùng lục tỉnh. Đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, nén nỗi đau của người mẹ trẻ phải xa con, luôn luôn bám sát các cơ sở vùng Sài Gòn Chợ Lớn. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, người trẻ nhất của cơ quan Xứ uỷ Nam Kỳ được cử ra miền Trung công tác chẳng may bị địch bắt. Đồng chí Lê Duẩn phải thường xuyên làm việc tại cơ quan Trung ương ở số nhà 312 đường Nguyễn Tấn Nghiệp 30 (Sài Gòn) để giúp đồng chí Tổng Bí thư điều hành công việc chung. Giúp việc đồng chí Nguyễn Văn Cừ và đồng chí Lê Duẩn vẫn là đồng chí Vũ Văn Hiếu, người đã để lại cho đồng chí Lê Duẩn những ấn tượng sâu sắc, cảm động nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi và đầy gian khổ của mình. Ba người con của những miền đất nước xa xôi tụ họp tại vùng quê mới đang là điểm nóng của phong trào cách mạng cả nước. Người xa vợ con, người chưa một lần biết hương vị hạnh phúc gia đình, tự nguyện gắn bó như anh em ruột thịt trong lúc cuộc sống đang khẩn trương và cạm bẫy của quân thù giăng khắp mọi nơi.

Vào một ngày đầu năm 1940, đồng chí Hoàng Thị Ái và đồng chí Bùi San, trong vai hai chị em từ miền Trung vào kiếm sống, tìm đến trụ sở cơ quan Trung ương Đảng nằm lọt giữa vùng bà con theo đạo Thiên chúa. Bắt gặp ánh mắt khác thường của một con chiên ngoan đạo đang quảy đôi thùng nước, biết có dấu hiệu bất trắc, các đồng chí liền rẽ sang ngả khác. Sau này các đồng chí được thông báo cho biết, trụ sở cơ quan đã bị khám xét, các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn và Vũ Văn Hiếu đã bị bắt. Đó là ngày 18-1-1940.

Hai năm về trước, trong hồ sơ của mật thám Pháp có ghi rõ: “Vai trò Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Đông Dương đã chuyển giao từ Hà Huy Tập cho người có đôi mắt không đều. Kẻ thù đã biết rõ vai trò của đồng chí Nguyễn Văn Cừ trong Đảng, mặc dù đồng chí Vũ Văn Hiếu đã nhận hết những tài liệu tìm thấy tại trụ sở cơ quan là của mình. Đồng chí Lê Duẩn bị đưa về giam giữ tại Khám Lớn Sài Gòn để chờ ngày ra toà. Trong những cuộc tra hỏi, những lần tra tấn của kẻ thù, trước sau như một đồng chí Lê Duẩn chỉ nhận mình đã từ bỏ mọi hoạt động cách mạng và đang từ miền Trung vào Sài Gòn Chợ Lớn tìm việc làm để kiếm sống.

Những cuộc lùng sục của mật thám vẫn tiếp tục diễn ra liên miên. Các đồng chí: Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Tạ Uyên, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Hữu Tiến... đã sa vào tay địch. Ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ. Phong trào đấu tranh của quần chúng cách mạng đã làm rung chuyển cả hệ thống chính quyền của định tại Nam Kỳ. Nhưng chưa đủ những điều kiện chín muồi đề giành thắng lợi, cuộc khởi nghĩa sớm bị dập tắt và bị dìm trong biển máu. Hàng trăm làng mạc bị triệt hạ, hàng nghìn chiến sĩ cộng sản và những người yêu nước khác bị xử bắn hoặc bị xâu tay thả xuống biển, trong đó có các đồng chí: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến... Các đồng chí Lê Duẩn, Vũ Văn Hiếu trong đoàn người bị đưa xuống tàu đày ra Côn Đảo.

Trong những năm 1940-1945, Nhà tù Côn Đảo mang cái tên địa ngục trần gian với nghĩa đầy đủ nhất của nó. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, chỉ trong vòng hai năm, 1941-1942, thực dân Pháp đã đày ra Côn Đảo gần 4.000 tù nhân thuộc đủ các hạng người, phần lớn là những chiến sĩ cộng sản và những người yêu nước khác. Cũng trong thời gian đó, kẻ thù tiến hành khủng bố những người tù dã man chưa từng thấy. Cứ mỗi chuyến tàu chở tù nhân cập bến, bọn cai ngục xếp hàng hai từ cầu tàu đến cổng lại giam cầm roi vụt tới tấp lên người họ. Những người tù tay bị xiềng xích, mình mẩy gầy gò thâm tím và loang lổ máu tươi. Nhiều người đi không vững phải lê lết trong vòng tay bạn bè.

Giữa năm 1941, Thống đốc Nam Kỳ cử Bơruonnê ra làm chúa đảo thay Buviê. Bơruonnê thực hành chế độ nhà tù rất tàn bạo. Một số quyền lợi tối thiểu trước đây người tù giành được nay bị xoá bỏ. Chúng cấm tù nhân không được nhận thư từ, quà cáp, không được hội họp, đọc sách báo. Ra vào khám phải tự lột trần truồng ra cho chúng khám xét. Điều kiện ăn ở lại càng khắc nghiệt hơn. Người tù thì nhiều, số trại giam thì có hạn, mọi người phải ở chật như nên trong sự ngột ngạt, nóng bức đến cùng cực. Các loại bệnh tả, ỉa chảy, kiết lỵ, thương hàn, ghẻ hầm mặc sức hoành hành, tàn phá cơ thể và cướp đi sinh mạng nhiều người. Đồng chí Lê Duẩn kể lại: "Hồi đó, mỗi buồng khoảng sáu mươi mét vuông, địch nhốt đến trăm bốn mươi, trăm năm mươi đồng chí. Chật chội và ngột ngạt đến khủng khiếp; muốn thở, phải thay phiên nhau nằm gần cửa ra vào. Chất tươi thì thiếu thốn vô cùng, bởi ngày nào cùng cơm hẩm, cá mục, cho nên được ăn một quả ớt, hay một cọng rau xanh là sung sướng làm rồi. Khi được tắm thì mỗi người chỉ vẻn vẹn một lon nước. Đó là không kể chuyện bị đánh đập hằng ngày Bọn địch đối xử với người tù hà khắc không sao kể hết được. Từ năm 1940 đến năm 1945, trong số một trăm mấy chục anh chị em bị giam cùng phòng với tôi phần lớn đã chết dần, chết mòn, cuối cùng, chỉ còn mười lăm đồng chí”31. Những cái chết vì đòn roi, và bệnh tật và kiệt sức diễn ra hằng ngày, hàng giờ. Có ngày, vài chục người chết như vậy. Đồng chí Lê Hồng Phong, nhà yêu nước nổi tiếng Nguyễn An Ninh cũng từ trần trong những năm đó. Trong điều kiện cuộc sống cực khố và chế độ nhà tù tàn bạo như vậy, chi bộ đặc biệt ở Côn Đảo vẫn được thành lập và hoạt động. Trong nhà tù, sách báo và tài liệu vô cùng hiếm hoi, điều kiện mở các lớp huấn luyện và học tập càng khó khăn hơn, chi bộ nhà tù chủ trương tổ chức đấu tranh chống khủng bố, đòi cải thiện điều kiện sinh hoạt và phải giữ vững niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng.

Đầu những năm bốn mươi, cuộc đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới và sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Phát xít Đức mở cuộc tiến công quy mô lớn và ồ ạt vào đất nước Xôviết. Quân đội Hítle áp sát cửa ngõ Mátxcơva. Tại châu Á, phát xít Nhật đã đánh chiếm những vùng đất đai rộng lớn. Ở trong nước, cơ sở đảng tại nhiều địa phương bị tan vỡ; nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng bị giam giữ, đầy đoạ trong các nhà tù. Tại Nam Kỳ, sau đợt khủng bố đẫm máu của kẻ thù, phong trào cách mạng của quần chúng chưa kịp khôi phục. Trong điều kiện như vậy, để giữ vững được niềm tin ở thắng lợi cuối cùng, những chiến sĩ cộng sản phải có một ý chí gang thép. Mặc dù hằng ngày phải đối mặt tới sự tàn bạo của kẻ thù, chứng kiến sự ra đi của bạn bè, đồng chí, Lê Duẩn vẫn giữ vừng niềm tin và động viên đồng đội kiên định con đường đã chọn. Trong những ngày đó, đồng chí càng thấm thía sâu sắc hơn tình đồng chí cao cả và thiêng liêng giữa những người cộng sản. Đồng chí Rum Bảo Việt32 làm y tá trong nhà tù đã tận tình chăm lo sức khoẻ cho đồng chí Lê Duẩn qua khỏi những căn bệnh đơn giản nhưng hiểm nghèo. Và cũng tại đây, đồng chí Lê Duẩn mới thấy hết một tình thương bao la đối với con người, đối với cách mạng của đồng chí Vũ Văn Hiếu. Đồng chí Lê Duẩn kể lại: “Trong số những đồng chí đã hy sinh, hình ảnh đồng chí Vũ Văn Hiếu làm cho tôi xúc động hơn cả. Đồng chí Hiếu là một đồng chí sống vì Đảng và chết cũng không rời Đảng. Đồng chí ấy bị bắt cùng một lúc với anh Nguyễn Văn Cừ và tôi. Vào tù, đồng chí bảo với anh Cừ và tôi rằng: “Tôi đã nhận tài liệu địch lấy được là của tôi, địch có đánh, thì tôi chịu, tôi không khai cho các anh đâu. Các anh cứ chối hết đi. Tôi chịu đòn, chịu chết thay cho các anh để các anh sống và hoạt động cho Đảng". Ở Côn Đảo, đồng chí Hiếu bị địch đánh đập, hành hạ nhiều quá. Biết mình kiệt sức không thể sống được, một hôm nhân lúc bên ngoài gửi vào cho một cái áo, đồng chí Hiếu không mặc mà đưa áo cho tôi và nói: “Tôi sắp chết rồi, tôi nghĩ mãi mà không biết làm cái gì để phục vụ cho Đảng đến phút cuối cùng, tôi chết có trần truồng cũng không sao, áo đây anh mặc lấy để sống mà làm việc cho Đảng". Tôi từ chối nhưng đồng chí Hiếu vẫn khăng khăng không chịu. Đồng chí bảo: “Tôi đã nghĩ kỹ rồi, chỉ có việc này là tôi còn cống hiến được cho Đảng, sao anh không nhận?"”33.

Sự điên cuồng và tàn bạo của kẻ thù cũng chính là những dấu hiệu báo trước sự sụp đổ của chúng. Trên thế giới, chủ nghĩa phát xít bị đánh gục. Ở trong nước, công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa thành chính quyền đang sôi sục khắp cả ba miền Trung, Nam, Bắc. Trong những ngày tháng Tám mùa thu lịch sử, cùng với nhân dân cả nước, đồng bào Nam Bộ đồng loạt nổi dậy, lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân lập ra chính quyền cách mạng.

Ngày 17-9-1945, đồng chí Lê Duẩn cùng với các đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Lê Thanh Nghị, Phan Trọng Tuệ ứa nước mắt dự cuộc mít tinh chào đón phái đoàn của Uỷ ban nhân dân Nam Bộ ra đón các chiến sĩ cộng sản vừa thoát khỏi địa ngục tù Côn Đảo, trở về đất liền chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới.

_____________

1. Lê Duẩn: Tuyển tập, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1987, t.1, tr.20.

2. Lê Duẩn: Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1978, tr.17.

3. Ban Chấp hành Thành đoàn Hà Nội: Lịch sử Đoàn thanh niên Cộng sản Thành phố Hà Nội, Hà Nội, 1987, tr.29.

4. Lê Duẩn: Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1978, tr.366.

5. Nhân dân ta rất anh hùng, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1960, tr.44-45.

6. Vũ Thiện Chân: Hồi ký, bản chép tay. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ Đảng, ký hiệu LQ 3/3.

7. Lê Duẩn: Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1978, tr.372.

8. Lê Duẩn: Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1978, tr.369.

9. Đồng chí Vũ Thiện Chân có biệt hiệu là Chân Búa.

10. Vũ Thiện Chân: Hồi ký, bản chép tay. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ Đảng, ký hiệu LQ 3/3.

11. Sông Cái: sông Hồng.

12. Nhân dân ta rất anh hùng, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1960, tr.164.

13. Nhân dân ta rất anh hùng, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1960, tr.167.

14. Lê Duẩn: Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1978, tr.366.

15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.10, tr.3-4.

16. Nhân dân ta rất anh hùng, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1960, tr.165.

17. Lê Duẩn: Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1978, tr.366.

18. Nhân dân ta rất anh hùng, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1960, tr.170.

19. Nay là Nghĩa trang Hàng Dương.

20. Sau đổi tên là Trần Quốc Thảo, Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn.

21. Bí thư đầu tiên của Tỉnh ủy Quảng Trị.

22. Những sự kiện Lịch sử Đảng Bình Trị Thiên. Tài liệu của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Bình Trị Thiên biên soạn.

23. Con gái đồng chí Lê Thế Tiết.

24. Số 1 ra ngày 6-7-1938.

25. Sau khi ra được 17 số, Toàn quyền Đông Dương viện cớ báo Dân đăng tin thất thiệt, rút giấy phép và truy tố người phụ trách tờ báo, thực chất là để trả thù vụ chống dự án tăng thuế. Tại phiên toàn ngày 13-10-1938, hai ông Nguyễn Đăng Quế và Nguyễn Xuân Các bị phạt 5 tháng tù treo và mất chức vụ trong Viện dân biểu.

26. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.6, tr.756.

27. Theo bút tích của đồng chí Lê Duẩn trong cuốn Chị Minh Khai, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1980, tr.1.

28. Bị lộ mặt, Đinh Văn Di công khai hoạt động chống cách mạng. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, y đã bị chính quyền cách mạng kết án tử hình tại Vinh.

29. Lê Duẩn: Tuyển tập, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1987, t.1, tr.446.

30. Nay là đường Bùi Thị Xuân.

31. Lê Duẩn: Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1978, tr.367.

32. Đồng chí Rum Bảo Việt (viết tắt của cụm từ Rừng U Minh bảo vệ Việt Nam) sau này là một nhà báo cách mạng, được nhiều người biết đến.

33. Lê Duẩn: Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1978, tr.370.