Chứng cứ đến đâu kết luận đến đấy

Tại khoản 3, Điều 2 quy định về nguyên tắc xử lý kỷ luật: “Khi xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, thái độ tiếp thu phê bình và sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra, mục tiêu, yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng”.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn như sau: Khi xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, phải làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, động cơ, nguyên nhân của vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và căn cứ vào thái độ tự giác, tinh thần quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, vi phạm và khắc phục hậu quả đã gây ra, chứng cứ đến đâu kết luận đến đấy, không suy diễn. Đồng thời, phải xét hoàn cảnh lịch sử cụ thể, khách quan, toàn diện nhằm đạt mục tiêu, yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng.

Đảng viên vi phạm bị kỷ luật cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ) ở Khoản 2 của các điều từ Điều 7 đến Điều 34 thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ vào quy định nêu trên để xem xét, quyết định cụ thể: Cảnh cáo hoặc cách chức một, một số hoặc tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đảng viên đó.

Đảng viên vi phạm bị kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo, nếu xét thấy không còn đủ uy tín thì tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định cho miễn nhiệm hoặc đề nghị cho thôi giữ chức vụ đó.

Các trường hợp chưa xem xét, xử lý kỷ luật và không xử lý kỷ luật

Tại khoản 1, Điều 5 quy định: “Đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức, bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện được cơ quan y tế có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (từ cấp huyện trở lên) xác nhận thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật”.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn: “Bệnh hiểm nghèo” là bệnh nguy hiểm đến tính mạng của người bị mắc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Thời gian chưa xem xét, xử lý kỷ luật nêu trên không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật về Đảng.

Tại khoản 2, Điều 5 quy định: “Đảng viên vi phạm đã qua đời, tổ chức đảng xem xét, kết luận, không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp đảng viên đó vi phạm kỷ luật đặc biệt nghiêm trọng”.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn: Đảng viên qua đời, sau đó mới phát hiện có vi phạm thì không tiến hành kiểm tra. Khi đang kiểm tra hoặc xem xét, xử lý kỷ luật mà đảng viên vi phạm qua đời thì chỉ kết luận, không thi hành kỷ luật. Trường hợp đảng viên vi phạm đặc biệt nghiêm trọng qua đời thì vẫn kiểm tra, kết luận và xử lý kỷ luật.

Con phạm tội, đảng viên phải chịu trách nhiệm liên đới

Tại điểm d, khoản 1, Điều 13 quy định về vi phạm trong công tác phòng, chống tội phạm nêu rõ: “Thiếu trách nhiệm trong quản lý, giáo dục dẫn đến có vợ (chồng), con hoặc cấp dưới trực tiếp phạm tội”. Theo hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, con của đảng viên phạm tội mà đảng viên phải chịu trách nhiệm liên đới gồm: con đẻ, con nuôi hợp pháp, con dâu, con rể cùng sống, sinh hoạt trong gia đình và trực tiếp phụ thuộc vào việc nuôi dưỡng, quản lý của đảng viên đó.

Cũng tại văn bản lần này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn thực hiện một số điều trong Quy định 102, như: Phạm vi, đối tượng; nguyên tắc, thời hiệu xử lý kỷ luật; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; vi phạm các quy định về bầu cử; vi phạm trong công tác tổ chức, cán bộ, trong công tác phòng, chống tội phạm; vi phạm về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo; vi phạm quy định về kết hôn với người nước ngoài; vi phạm quy định về chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình./.

Xem toàn văn Hướng dẫn số 04-HD/UBKTTW

Xem toàn văn Quy định số 102-QĐ/TW

ĐP