Căn cứ pháp lý để thu hồi thẻ luật sư

Thứ tư, 06/04/2022 11:43
(ĐCSVN) – Liên quan đến việc cơ quan chức năng vừa tiến hành khởi tố người vi phạm pháp luật mà người đó đang có chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư, dư luận bày tỏ sự quan tâm: Trường hợp nào người đang có chứng chỉ luật sư, thẻ luật sư sẽ bị thu hồi? Trách nhiệm của các cơ quan liên quan?
leftcenterrightdel
Ảnh minh họa. (Nguồn: lsvn.vn). 

Về vấn đề nêu trên, luật sư N.P.T, đoàn luật sư TP Hà Nội cho rằng, pháp luật đã có những văn bản pháp lý về hình thức xử lý đối với từng trường hợp liên quan. Theo đó, tại điều 18, chương II, Luật Luật sư 2015 có nêu những quy định về việc thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, trong đó có một số quy định như: không còn đủ tiêu chuẩn luật sư; bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn luật sư… Một trong những quy định đáng chú ý tại Điều 18 này là việc người đã được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư khi bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật. Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư và quy định thủ tục thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư. Trong trường hợp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư thì thông báo cho Liên đoàn luật sư Việt Nam để thu hồi thẻ luật sư...

 Trong khi đó, Thông tư số 05/2021/TT-BTP ngày 24/6/2021 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư cũng quy định rõ về nội dung này (điều 5, chương II, Thông tư số 05/2021/TT-BTP). Theo đó, khi có căn cứ xác định luật sư thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật Luật sư thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư.

Cùng với đó, khi có căn cứ xác định luật sư thuộc một trong những trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, h, i và k khoản 1 Điều 18 của Luật Luật sư thì Đoàn Luật sư nơi người đó là thành viên hoặc các cơ quan, tổ chức khác có văn bản đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của người đó kèm theo các giấy tờ chứng minh luật sư thuộc trường hợp bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư.

Trong trường hợp luật sư bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn Luật sư theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 18 của Luật Luật sư thì trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định kỷ luật luật sư, Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư kèm theo quyết định kỷ luật luật sư. Người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư phải chấm dứt hoạt động hành nghề luật sư kể từ ngày có quyết định kỷ luật luật sư bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn Luật sư.

Hằng năm, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát người thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật Luật sư để đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư.

Ngoài ra, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, trừ trường hợp quyết định kỷ luật luật sư bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn Luật sư bị khiếu nại và đang được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư được gửi cho người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, Đoàn Luật sư nơi người đó đã là thành viên, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương, Sở Tư pháp, các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương nơi có Đoàn Luật sư mà người đó đã là thành viên. Trong trường hợp người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư do không gia nhập Đoàn Luật sư theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 18 của Luật Luật sư thì quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư được gửi cho người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư và Sở Tư pháp nơi gửi hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư của người đó. Quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam ra quyết định thu hồi thẻ luật sư của người bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư. Quyết định thu hồi thẻ luật sư được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

Người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư có trách nhiệm nộp lại bản gốc chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư cho Đoàn Luật sư nơi mình đã là thành viên. Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư có trách nhiệm thu và tiêu hủy chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư.

Trong trường hợp người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư do không gia nhập Đoàn Luật sư theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 18 của Luật Luật sư thì người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư nộp lại bản gốc chứng chỉ hành nghề luật sư cho Sở Tư pháp nơi gửi hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Sở Tư pháp có trách nhiệm thu và tiêu hủy chứng chỉ hành nghề luật sư.

Chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư bị tiêu hủy dưới hình thức cắt góc bên trái của chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư.

“Như vậy, căn cứ pháp lý liên quan đến sự việc nêu trên đã có quy định. Do đó, Đoàn luật sư – nơi người đang đăng ký hội viên có dấu hiệu vi phạm pháp luật cần thực hiện thủ tục rà soát lại hoạt động hành nghề luật sư của người đó. Cũng theo quy định hiện hành, chỉ khi nào tòa án xét xử, ban hành bản án có hiệu lực pháp luật thì khi đó người đang hành nghề luật sư, có thẻ luật sư, chứng chỉ hành nghề luật sư sẽ không còn đủ tiêu chuẩn hành nghề luật sư nữa. Đây là cơ sở pháp lý để thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư theo quy định” – luật sư N.P.T cho biết thêm./.

Trường Quân - Phan Quang

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

  Ý kiến bình luận
Họ và tên
Email
Lời bình
Xác thực