(ĐCSVN) - Từ ngày 1/1/2016, Luật BHXH (sửa đổi) chính thức có hiệu lực, tạo hành lang pháp lý quan trọng giúp ngành BHXH triển khai thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao.

Về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), Luật BHXH (sửa đổi) đã mở rộng diện tham gia bắt buộc đối với các đối tượng là người lao động (NLĐ): Làm việc theo hợp đồng lao động, howph đồng làm việc có thời hạn từ 1 đến dưới 3 tháng; là công dân nước ngoài làm việc có giấy phép lao động được cơ quan thẩm quyền của Việt Nam cấp; người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí...

Đối với việc bổ sung người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH bắt buộc trong phạm vi 2 chế độ hưu trí và tử tuất; kinh phí tham gia BHXH của nhóm này có sự hỗ trợ của Nhà nước (Nhà nước đóng 14% và người lao động đóng 8%).

Đối với BHXH tự nguyện bỏ quy định tuổi trần tham gia BHXH tự nguyện, bỏ quy định mức thu nhập đóng BHXH tự nguyện thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung (nay là mức lương cơ sở) để phù hợp với khả năng tham gia của người dân. Người tham gia có thể lựa chọn phương thức đóng BHXH tự nguyện một cách linh hoạt như, có thể đóng một lần cho nhiều năm về sau hoặc một lần cho những năm còn thiếu để hưởng chế độ BHXH tự nguyện. Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khả năng ngân sách Nhà nước trong từng thời kỳ, Nhà nước sẽ có quy định mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH cho người dân tham gia BHXH tự nguyện.

Về phía người sử dụng lao động, Luật BHXH (sửa đổi) quy định phải có trách nhiệm phối hợp với cơ quan BHXH trả trợ cấp BHXH, sổ BHXH, định kỳ sáu tháng, niêm yết công khai thông tin về việc đóng BHXH cho NLĐ; xác nhận thời gian tham gia đóng BHXH khi NLĐ chấm dứt HĐLĐ hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật. Đồng thời phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng BHXH theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, cơ quan BHXH.

Liên quan chế độ hưu trí và cân đối Quỹ BHXH, Luật BHXH (sửa đổi) đã quy định nhóm lao động nữ được nghỉ hưu ở độ tuổi từ đủ 50 tuổi đến 55 tuổi. Trường hợp bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì nghỉ hưu khi đủ 46 tuổi, nhưng phải có đủ 20 năm đóng BHXH; khi mức lương hưu của nhóm này thấp hơn mức lương cơ sở thì Nhà nước nâng lên bằng mức lương cơ sở.

Đối với mức lương hưu hằng tháng, Luật BHXH (sửa đổi) quy định: Từ ngày Luật hiệu lực thi hành cho đến trước ngày 1/1/2018 mức lương hưu hằng tháng của NLĐ đủ điều kiện nghỉ hưu được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH, tương ứng với 15 năm đóng BHXH. Sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%. Từ ngày 1/12018, mức lương hưu hằng tháng của NLĐ được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH và tương ứng với số năm đóng BHXH như sau: Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm; lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm. Sau đó cứ thêm mỗi năm, NLĐ được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.

Đối với trường hợp nghỉ hưu trước tuổi, Luật quy định lộ trình tăng tuổi hưởng lương hưu đối với nhóm bị suy giảm khả năng lao động như sau: Từ ngày 1/1/ 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương; sau đó, mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi thì nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng lương. Riêng với những lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% sẽ trở lên thì điều kiện nghỉ hưu sẽ là, nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và có thời gian đóng BHXH từ đủ 20 năm trở lên.

Theo Luật BHXH (sửa đổi), tỉ lệ giảm trừ do nghỉ hưu trước tuổi tăng từ 1% lên 2% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi. Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06 tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 06 tháng thì không giảm tỉ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi. Tỉ lệ hưởng lương hưu hằng tháng của lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH, đủ 55 tuổi được tính như sau: đủ 15 năm đóng BHXH tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH, từ đủ 16 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH, cứ mỗi năm đóng BHXH tính thêm 2%.

Nhằm hạn chế hưởng BHXH một lần để đảm bảo ASXH về lâu dài, Luật BHXH (sửa đổi) quy định chỉ giải quyết BHXH một lần nếu: Đủ tuổi hưởng lương hưu theo nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH và không tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện; đi nước ngoài định cư; bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế...

Luật BHXH (sửa đổi) đã quy định Cơ quan BHXH là cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH, quản lý và sử dụng các Quỹ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp. Cơ quan BHXH được thực hiện thanh tra chuyên ngành đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp nhằm khắc phục tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH của DN. Đồng thời, thanh tra LĐ-TB&XH và Thanh tra tài chính phải tăng cường thanh tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH, trong đó có việc thực hiện chế độ chính sách BHXH của cơ quan BHXH. Bộ máy thực hiện công tác thanh tra sẽ là đội ngũ cán bộ BHXH đang làm công tác kiểm tra hiện nay để không tăng thêm biên chế. .

Liên quan đến trách nhiệm thực hiện BHXH, Luật BHXH (sửa đổi) đã bổ sung quy định: Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH trình Chính phủ quyết định biện pháp xử lý trong trường hợp cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng về BHXH của NLĐ; UBND các cấp xây dựng chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH trong kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương hằng năm trình HĐND nhân dân cùng cấp quyết định. Tổ chức công đoàn được quyền khởi kiện đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ; bổ sung trách nhiệm tham gia thanh tra việc thi hành pháp luật về BHXH. Ủy ban MTTQ và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân, đoàn viên, hội viên thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH, chủ động tham gia các loại hình BHXH phù hợp với bản thân và gia đình; tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên; phản biện xã hội, tham gia với cơ quan nhà nước trong việc xây dựng chính sách, pháp luật về BHXH; giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH theo quy định của pháp luật.

Đối với chi phí quản lý BHXH, Luật quy định 3 năm một lần, Chính phủ báo cáo Ủy ban TVQH xem xét, quyết định mức chi phí. Quy định này tạo điều kiện để cơ quan BHXH có thời gian chủ động xây dựng, triển khai các kế hoạch, nhiệm vụ. Hàng năm, Chính phủ báo cáo để Quốc hội thẩm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng Quỹ BHXH; 3 năm một lần Kiểm toán Nhà nước báo cáo Quốc hội kết quả kiểm toán; hoặc thực hiện kiểm toán đột xuất Quỹ BHXH.

Đặc biệt, Luật BHXH (sửa đổi) đã bổ sung riêng một nội dung về “Hiện đại hoá quản lý BHXH”. Trong đó quy định cụ thể: Ưu tiên đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để quản lý, thực hiện BHXH; chậm nhất đến năm 2020, hoàn thành việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu điện tử về quản lý BHXH trong phạm vi cả nước. Nguồn kinh phí này được đảm bảo từ chi phí quản lý BHXH (trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư Quỹ). Cùng đó, Luật cũng cụ thể hóa các hoạt động khác dược sử dụng từ chi phí quản lý BHXH là: Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH; cải cách thủ tục BHXH; phát triển, quản lý đối tượng tham gia, đối tượng thụ hưởng; tổ chức thu, chi trả BHXH và hoạt động bộ máy của cơ quan BHXH các cấp.

Về các hình thức đầu tư Quỹ, bên cạnh việc mua trái phiếu Chính phủ, hoạt động đầu tư, tăng trưởng Quỹ được mở rộng phạm vi gửi tiền, mua trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi tại các ngân hàng thương mại có chất lượng hoạt động tốt theo xếp loại tín nhiệm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.