Sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 là bước ngoặt tất yếu của lịch sử. Sự ra đời của Đảng là mốc son chói lọi trên hành trình giữ nước, xây dựng và phát triển của đất nước ta, nhân dân ta. Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, làm nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Đồng thời, chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện, thử thách và không ngừng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm để ngày càng xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân.
Tháng 12/1953, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở mặt trận chiến lược với quyết tâm: Tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm của Pháp tại Điện Biên Phủ. Ảnh Tư liệu TTXVN
"Một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công"
Nhìn lại lịch sử từ giữa thế kỷ XIX khi đất nước ta chưa có Đảng lãnh đạo để thấy, mặc dù nhân dân ta, dân tộc ta đã dũng cảm vùng lên không chịu khuất phục trước sự xâm lược, áp bức, đè nén của chủ nghĩa thực dân nhưng không thành công. Điển hình như cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Thủ Khoa Huân, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám… Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
Ngày 3/2/1930, sau gần 20 năm đi tìm đường cứu nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc; là bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX và cũng là điểm mở đầu quyết định cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam và sự phát triển của dân tộc trong các giai đoạn sau này.
Sau khi ra đời, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân đồng tình, ủng hộ và tin tưởng tuyệt đối; chỉ trong vòng 15 năm, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930-1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh; Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936-1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939-1945).
Ở tuổi 15, với năm nghìn đảng viên, tháng 8/1945, Đảng đã lãnh đạo toàn dân tộc làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại.Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, phát xít tàn bạo, chấm dứt sự tồn tại của chế độ phong kiến lỗi thời; thiết lập nền dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do; đưa nhân dân ta từ thân phân nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước. Với thắng lợi vĩ đại ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền trong toàn quốc” (1).
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đất nước ta bước vào thời đại mới, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc - Thời đại Hồ Chí Minh.
Cuộc Tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên ngày 6/1/1946 đã bầu ra Quốc hội và Chính phủ hợp hiến, hợp lòng dân. Ngay tại kỳ họp thứ hai (tháng 11-1946), Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trang trọng khẳng định quyền độc lập của dân tộc, quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Đảng lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước
Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã trưởng thành và phát triển về mọi mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Nhờ đó, trong 30 năm liên tục, từ 1945-1975, Đảng tổ chức, lãnh đạo hai cuộc kháng chiến trường kỳ giành những thắng lợi to lớn, viết tiếp “những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc”, làm nên những “sự kiện có tầm quốc tế và có tính chất thời đại sâu sắc.”
Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.
Bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.”
Thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Gần 9 năm sau ngày Toàn quốc kháng chiến, sáng 10/10/1954, những chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô dẫn đầu đội hình Đại đoàn Quân Tiên phong 308 đã trở về tiếp quản Hà Nội trong tư thế của những người chiến thắng, thực hiện trọn vẹn lời thề "Ra đi, hẹn một ngày về". Ảnh: TTXVN
Với đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ hy sinh của nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Song song với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế-xã hội, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Sau 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã giành được những thành tựu quan trọng, chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật ban đầu cho chủ nghĩa xã hội; vừa sản xuất, vừa chiến đấu và chi viện sức người, sức của, hoàn thành vai trò hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam; tạo những cơ sở vật chất và những kinh nghiệm quý báu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sau này.
Có thể thấy, “trong cuộc trường chinh để giành độc lập, tự do cho dân tộc, ở đâu và lúc nào cũng có Đảng. Đảng đi đầu trong chiến đấu. Đảng xông pha nơi khó khăn. Đảng gắn bó với Nhân dân bằng những gì Đảng đã làm cho sự nghiệp giải phóng đất nước.” (2)
Đảng lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước
Sau khi đất nước thống nhất, Đảng ta lại tiếp tục tập trung vào nhiệm vụ tái thiết đất nước, chăm lo, ổn định đời sống nhân dân. Trước tình hình đất nước phải đối mặt với nhiều thách thức: khủng hoảng kinh tế-xã hội, cơ chế bao cấp kìm hãm sự phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, Đảng đã mạnh dạn đề ra đường lối đổi mới toàn diện, bắt đầu từ Đại hội VI (1986), mở ra một chương mới cho dân tộc.
Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã vượt qua mọi khó khăn, vươn tới những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng.
Đặc biệt, nhìn lại 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, có thể khẳng định nhiệm kỳ 2021-2025 là một chặng đường đầy thử thách nhưng cũng ghi dấu nhiều kết quả quan trọng, toàn diện và có ý nghĩa lâu dài. Tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02%, bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 6,3%, thuộc nhóm cao của khu vực và trên thế giới. GDP bình quân đầu người đạt hơn 5.000 USD, đưa Việt Nam vào nhóm các nước thu nhập trung bình cao (hoàn thành một trong những cột mốc lớn mà Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra).
Tổng vốn FDI năm 2025 thu hút đạt 38,4 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, nhiều nhất từ khi có vốn FDI, đưa tổng số vốn FDI thu hút trong cả nhiệm kỳ đạt 184,2 tỷ USD, thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới. Quy mô thương mại quốc tế đạt kỷ lục hơn 930 tỷ USD năm 2025 (trong đó xuất khẩu nông sản lần đầu vượt 70 tỷ USD), thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới.
Những thành tựu về kinh tế là điều kiện tất yếu mang lại những thay đổi to lớn trong đời sống nhân dân. Văn hóa, xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. An sinh xã hội luôn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách của Đảng và Nhà nước. Việc hoàn thành sớm mục tiêu xóa nhà tạm, phát triển mạnh nhà ở xã hội (334 nghìn căn nhà, nhà ở xã hội, hơn 100 nghìn căn hộ trong năm 2025), tỷ lệ nghèo đa chiều giảm nhanh (chỉ còn 1,3%), khẳng định ưu tiên xuyên suốt của Nhà nước đối với con người, đặc biệt là người yếu thế và công bằng xã hội.
Trong giáo dục và y tế, nhiều chủ trương có ý nghĩa lâu dài được triển khai, từ miễn, hỗ trợ học phí phổ thông, xây dựng thêm nhiều trường học, tăng đầu tư cho giáo dục vùng khó khăn, biên giới, đến việc củng cố hệ thống y tế, vừa giải quyết các tồn đọng kéo dài, vừa chuẩn bị nền tảng cho nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân toàn diện.
Quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế được nâng tầm. Từ một quốc gia bị cô lập, đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2025, Việt Nam đã nâng cấp quan hệ với 17 đối tác, đưa tổng số nước có khuôn khổ quan hệ từ Đối tác toàn diện trở lên là 42 nước, trong đó có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với tất cả 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam tiếp tục thể hiện niềm tin, trách nhiệm và cam kết mạnh mẽ đối với chủ nghĩa đa phương, đề cao luật pháp quốc tế; tham gia tích cực vào các trụ cột của các thể chế đa phương, nhất là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC và các cơ chế tiểu vùng.
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng kiên định, kế thừa và đổi mới, trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực vận hành của Nhà nước. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy năm 2025 không chỉ giảm đầu mối, khắc phục chồng chéo, mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản trị, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Đánh giá về những thành tựu đạt được của nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, trong bài trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam nhân dịp năm mới 2026, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Chúng ta đã vượt qua thử thách bằng ý chí, nghị lực và sự đoàn kết; giữ vững ổn định để phát triển; kiên trì chỉnh đốn, hoàn thiện để đi nhanh hơn và đi chắc hơn. Những thành tựu đạt được là to lớn, đáng trân trọng, nhưng chúng ta vẫn phải khiêm tốn, tỉnh táo, không được “ngủ quên bên vòng nguyệt quế”.
Hành trình gần một thế kỷ của Đảng Cộng sản Việt Nam là minh chứng sống động cho sức mạnh của ý chí, trí tuệ và tinh thần dân tộc. Từ việc khai sinh ra một quốc gia độc lập, thống nhất non sông, đến công cuộc đổi mới đưa đất nước hội nhập và phát triển, Đảng luôn là ngọn lửa rực cháy, là bản lĩnh vững vàng dẫn lối. Thực tiễn đó đã khẳng định: ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực, bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín để lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Giờ đây, khi toàn dân tộc đang hướng về Đại hội Đảng lần thứ XIV, một sự kiện mang tính bản lề, định hình tương lai đất nước, chúng ta càng thấy rõ hơn tầm quan trọng của vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Như Tổng bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Mỗi kỳ Đại hội của Đảng đều là một dấu mốc rất quan trọng, nhưng với Đại hội XIV, ý nghĩa càng sâu sắc hơn, bởi chúng ta bước vào Đại hội trong một bối cảnh thế giới biến động rất nhanh, nhiều bất ổn, khó dự báo; trong khi đất nước sau nhiều thập niên đổi mới đã có cơ đồ, tiềm lực và vị thế mới, đồng thời cũng đứng trước những yêu cầu phát triển mới, cao hơn, quyết liệt hơn. Đây là lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào thực tiễn, nhận diện đúng cơ hội và thách thức; tổng kết điều đã làm được, chỉ rõ điều còn vướng và quan trọng nhất là thống nhất ý chí, thống nhất hành động để đi tiếp cho vững vàng.” (3)
Có thể khẳng định, Đại hội XIV là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, thể hiện trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm lớn lao của Đảng đối với cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; có ý nghĩa định hướng con đường phát triển đất nước, rút ngắn quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIV sẽ tiếp tục khơi dậy khát vọng phát vọng vươn lên của toàn dân tộc, đưa Việt Nam vững bước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.
Theo TTXVN
(1): Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.7, tr.25)
(2): Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
(3): Tổng Bí thư Tô Lâm trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam nhân dịp năm mới 2026



