leftcenterrightdel
 Quang cảnh tại Diễn đàn. (Ảnh: M.P)

Ngày 25/3, tại Hà Nội, Viện nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh tổ chức diễn đàn với chủ đề: "Tương lai chiến lược Ngân hàng số tại Việt Nam".

Ông Phạm Xuân Hòe, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng cho biết: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã công bố một kết quả khảo sát tại các ngân hàng thương mại Việt Nam cho thấy, số hóa giúp các ngân hàng tiết kiệm từ 60-70% chi phí và một khi đã tiếp cận với số hóa, các ngân hàng có xu hướng tiếp cận ngày càng sâu hơn với dịch vụ ngân hàng số, tích hợp đa chiều trong cung ứng dịch vụ tài chính trọn gói. 

Tuy nhiên, sự phát triển và ứng dụng công nghệ số trong ngành Ngân hàng cũng đi kèm không ít thách thức đòi hỏi thay đổi về thể chế, vốn đầu tư lớn, về nguồn nhân lực ngân hàng có đầy đủ kiến thức và năng lực để nắm bắt các công nghệ mới, các kỹ năng mới trong hoạt động ngân hàng – tài chính thời kỳ số hóa...

Trong khi đó, theo bà Nguyễn Thùy Dương, Phó Tổng giám đốc Ernst & Young (EY) Việt Nam và Chủ tịch EY Consulting Việt Nam, Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ Fintech, Hiệp hội Ngân hàng, hiện nay phần lớn các tổ chức tín dụng đã nhận thức được tầm quan trọng của việc chuyển đổi số. 

Khảo sát của EY cho thấy , có 42% tổ chức tín dụng hiện đang xây dựng chiến lược chuyển đổi số; 28% đã và đang thực hiện triển khai chuyển đổi số tích hợp với chiến lược kinh doanh và 11% đã phê duyệt và đang triển khai chiến lược chuyển đổi số riêng. 

Phần lớn các tổ chức tín dụng không chỉ triển khai đa dạng dịch vụ cho khách hàng trên kênh số như chuyển tiền online, tiết kiệm trực tuyến, thanh toán hóa đơn, thanh toán qua thương mại điện tử chiếm từ 47%-77,7% ; trên 41% đang kỳ vọng triển khai đăng ký và xét duyệt khoản vay trên kênh số.

Ngoài ra các ngân hàng còn tập trung số hóa các hoạt động nghiệp vụ, vận hành nội bộ. Cụ thể, 73% ngân hàng quy trình hoạt động liên tục; 47,6% hệ thống quản lý quan hệ khách hàng; 42,8% chữ ký điện tử, chữ ký số nội bộ. Có 70% các tổ chức tín dụng (TCTD) có mức độ sẵn sàng triển khai từ mức trung bình trở lên với các công nghệ: công nghệ thiết bị di động, kết nối dữ liệu mở theo giao diện chương trình ứng dụng; phân tích dữ liệu, chuẩn hóa tin điện theo chuẩn tin điện tử tài chính quốc tế ISO 20022, công nghệ hỗ trợ khách hàng (chatbot, trợ lý ảo…) trong đó phân tích dữ liệu là công nghệ được ứng dụng rộng rãi nhất trong nghiệp vụ TCTD (trên 53% các TCTD).

Ông Phạm Xuân Hùng, Trưởng ban Ban Nghiên cứu & Điều Phối chính sách giám sát, Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cho rằng, việc phát triển ngân hàng số tại Việt Nam đang gặp một số hạn chế, khó khăn như khoảng trống trong hành lang pháp lý đối với phát triển ngân hàng số còn chậm ban hành, mới tập trung cho các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, như về chứng thực chữ ký số; xác định danh tính khách hàng; bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong dịch vụ tài chính; bảo vệ tính riêng tư dữ liệu người dùng.

Khung pháp lý thường đi sau so với sự phát triển công nghệ như sự cạnh tranh các công ty công nghệ tài chính (các quy định vẫn có đầy đủ).

Bên cạnh đó chiến lược đầu tư hạ tầng công nghệ nền tảng tài chính chậm và chưa đồng bộ; tính chia sẻ dữ liệu giữa các lĩnh vực với nhau còn nhiều bất cập. Hạn chế về nguồn lực công nghệ thông tin trong phát triển ngân hàng số; công tác truyền thông và nâng cao nhận thức của người tiêu dùng (giữa các vùng miền).

Chính vì vậy, theo ông Phạm Xuân Hùng, cơ quan quản lý cần sớm hoàn thiện khung khổ pháp lý về định danh khách hàng trực tuyến (eKYC) có giới hạn; hệ thống đại lý ủy thác của ngân hàng về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ ngân hàng số; chính sách về an toàn, bảo mật thông tin trong giao dịch điên tử để bảo vệ lợi ích hợp pháp cho khách hàng; quy trình nghiêp vụ giao dịch điện tử qua ngân hàng, giám sát hoạt động ngân hàng số.

Các ngân hàng thương mại cần nghiên cứu và xây dựng lộ trình chuyển đổi ngân hàng số, phân bổ nguồn lực phù hợp cho đầu tư công nghệ mới. Đẩy mạnh quá trình số hóa ngân hàng và phát triển ngân hàng số thuần túy.

Ông Phạm Xuân Hòe cũng cho rằng, cần phải có quan điểm rất mở và cân bằng giữa khuyến khích đổi mới sáng tạo với vấn đề rủi ro thì mới có thể làm được. Hơn nữa, hạ tầng cho giao dịch số và hạ tầng thanh toán quốc gia cần phải đổi mới nhanh hơn, tốt hơn, đặc biệt là thanh toán bán lẻ.

Minh Phương