Gửi câu hỏi Xóa trắng

TS Nguyễn Công Dũng, Phó Tổng biên tập Thường trực Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phát biểu khai mạc Tọa đàm trực tuyến “Tự chủ đại học – Xu thế phát triển tất yếu”

 

Kính thưa các đồng chí đại biểu!

Một trong những nội dung quan trọng mà Nghị quyết số 29 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” nhấn mạnh là, đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng. Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò của hội đồng trường…

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 29, dưới sự nỗ lực triển khai của toàn Đảng, toàn dân, của Ban Tuyên giáo Trung ương, của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng tất cả các Bộ ngành, địa phương, giáo dục và đào tạo của nước ta đã thực sự có nhiều chuyển biến, trong đó giáo dục đại học đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Tự chủ đại học trở thành xu thế tất yếu, nhu cầu tự thân của trường đại học, được xem là chìa khóa nâng cao chất lượng đào tạo và chất lượng đầu ra, việc làm sinh viên…

Để góp phần tuyên truyền, đưa Nghị quyết số 29 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo…” vào cuộc sống, nhằm tạo ra bước chuyển đổi mạnh mẽ về đổi mới giáo dục Đại học, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Giao lưu trực tuyến với chủ đề: “Tự chủ đại học – Xu thế phát triển tất yếu”.

Tham gia chỉ đạo và trả lời trực tuyến, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu:

1. PGS.TS  Nguyễn Văn Phúc – Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

2. TS Trần Doãn Tiến – Tổng Biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

3. TS Nguyễn Đắc Hưng – Vụ trưởng Vụ Giáo dục và Đào tạo, Dạy nghề (Ban Tuyên giáo Trung ương)

4. PGS.TS Bùi Anh Tuấn – Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại thương

5. GS.TS Phạm Huy Dũng – Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Đại học Thăng Long

Đến dự Giao lưu trực tuyến, chúng tôi cũng trân trọng giới thiệu có đại diện một số lãnh đạo Vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Trường ĐH Ngoại thương Hà Nội, Trường ĐH Thăng Long…cùng các cơ quan thông tấn báo chí đến dự và đưa tin.

Kính chúc sức khỏe Quí vị đại biểu và chúc cho buổi Giao lưu trực tuyến của chúng ta sẽ đạt kết quả tốt đẹp.

TS Trần Doãn Tiến, Tổng Biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phát biểu Đề dẫn Giao lưu trực tuyến  “Tự chủ đại học – Xu thế phát triển tất yếu”

Kính thưa:  PGS. TS Nguyễn Văn Phúc – Thứ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, chuyên gia!

Thưa các đồng chí, đồng nghiệp!

Vấn đề tự chủ đại học là xu hướng phát triển tất yếu của các quốc gia.  Trong đó đối với nước ta, cũng có thể coi đây là “gốc rễ” của đổi mới lĩnh vực rất quan trọng này, bởi vì, tự chủ đại học là điều kiện cần thiết để thực hiện các phương thức quản trị đại học tiên tiến nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo.

Nhìn lại 5 năm thực hiện Nghị quyết 29- NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, có thể khẳng định vấn đề tự chủ đại học ở nước ta đã có những chuyển biến rất tích cực.

Đến thời điểm này, đã có 23 cơ sở giáo dục đại học công lập được Chính phủ cho thí điểm tự chủ.  Sau 3 năm (2014-2017), mô hình thí điểm tự chủ bước đầu được đánh giá tích cực, các cơ sở giáo dục Đại học đã có những thành tựu nhất định và được xã hội công nhận. Các trường Đại học đã chủ động mở ngành và phát triển chương trình đào tạo theo nhu cầu xã hội; phương pháp và nội dung giảng dạy tiếp cận chuẩn quốc tế. Số đề tài khoa học công nghệ được phê duyệt, số lượng các công trình được công bố của  các trường tự chủ từ 2013 - 2016 nhìn chung tăng lên đáng kể.

Cùng với đó, các trường tự chủ đã được giao nhiều quyền hơn nữa trong các lĩnh vực, giúp giảm bớt các thủ tục hành chính nên đã chủ động, linh hoạt hơn trong tổ chức thực hiện các hoạt động của nhà trường. Về tổ chức bộ máy, các trường chủ động hơn trong thành lập mới, sáp nhập, chia tách, giải thể, nâng cấp các đơn vị trong trường, nhà trường. Sự sắp xếp lại tổ chức đem lại những hiệu quả tích cực. Tỷ lệ  giảng viên có học hàm, học vị từ thạc sĩ trở lên tăng, trong khi đội ngũ lao động gián tiếp (chuyên viên, nhân viên) giảm xuống...

Về tài chính, tổng thu giai đoạn sau tự chủ so với trước tự chủ tăng 16,6%. Cơ chế thí điểm tự chủ tạo điều kiện cho các trường chủ động trong công tác xây dựng kế hoạch tài chính và dự toán ngân sách ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Cùng với việc tăng học phí, các trường đã thực hiện tăng cường cơ sở vật chất, đảm bảo chất lượng đối với người học, thực hiện chính sách xã hội hóa đối với người học, có những thay đổi về chính sách học bổng và học phí đối với đối tượng chính sách.

Kính thưa các đồng chí và quý độc giả!

Sau hơn 3 năm thực hiện thí điểm tự chủ Đại học, nhiều khó khăn, vướng mắc cũng đã bộc lộ cần được tháo gỡ trước khi cơ chế tự chủ chính thức được vận hành rộng rãi. Đó là: thiếu quy định và định nghĩa cụ thể về tự chủ và quyền của các trường đại học trong việc xác định quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường;  còn thiếu đồng bộ, thống nhất và khả thi trong hệ thống các văn bản pháp quy, cơ chế, chính sách về thực hiện tự chủ Đại học; việc giao quyền tự chủ đối với giáo dục Đại học mới chỉ thực hiện trong phạm vi thí điểm, chưa trở thành yêu cầu cấp thiết với các trường; điều kiện tự chủ mới chỉ tiếp cận chủ yếu từ góc độ về tài chính chưa tính đến năng lực chuyên môn và năng lực tổ chức quản lý của các cơ sở đào tạo. Hiện nay, vấn đề tổ chức quản trị tại các cơ sở giáo dục thí điểm vẫn còn nhiều tranh cãi…

Từ kinh nghiệm quốc tế và xu hướng chung trên thế giới hiện nay là chuyển dịch dần từ mô hình Nhà nước kiểm soát sang các mô hình có mức độ tự chủ cao hơn đối với trường đại học. Tại Việt Nam, thực tế cho thấy, tự chủ sẽ tạo động lực cho trường đại học phát huy mọi khả năng, năng lực nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động, đồng thời cũng làm tăng tính cạnh tranh giữa các trường đại học, tạo điều kiện để đa dạng hóa các hoạt động đào tạo. Mặt khác, huy động được sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các trường đại học, giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước.

Tại Hội thảo Giáo dục  mới đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam cũng nhấn mạnh, Giáo dục của Việt Nam, trong đó có giáo dục đại học không thể nằm ngoài xu thế chung của thế giới. Vì vậy, tự chủ đại học là tất yếu!.

Khi bàn về các giải pháp trong thời gian tới, các chuyên gia cũng chỉ rõ, cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy định rõ quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục Đại học; làm rõ nội dung tự chủ đại học đối với các cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập để bảo đảm bình đẳng giữa các cơ sở giáo dục đại học; Giải quyết những điểm giao thoa, chồng chéo giữa các luật và văn bản dưới luật liên quan đến việc thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục Đại học; Tăng cường thí điểm, xây dựng lộ trình, điều kiện để dần xóa bỏ cơ chế “cơ quan chủ quản”;Tăng cường kiểm tra, giám sát và hậu kiểm theo quy định pháp luật để nâng cao trách nhiệm của các trường đối với chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo…

Đặt vấn đề như vậy để thấy rằng chúng ta đã và sẽ tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức. Và rất cần có những cơ chế, chính sách, giải pháp căn cơ để giải bài toán này. Việc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức giao lưu trực tuyến hôm nay cũng là một bước để trao đổi, làm rõ một số vấn đề xung quanh chủ đề rất nóng này. Cụ thể là:

Thứ nhất, tự chủ Đại học – xu thế phát triển tất yếu của các quốc gia hiện nay.

Thứ hai, cơ sở lý luận, vấn đề cốt lõi của tự chủ đại học là gì?.

Thứ ba, nhận diện thực trạng tự chủ đại học ở nước ta hiện nay.

Thứ tư, những vấn đề đặt ra về tự chủ đại học hiện nay. Nên trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học như thế nào và cần thực hiện quyền tự chủ ra sao để đảm bảo mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả và chất lượng của giáo dục đại học, đồng thời vẫn đảm bảo được công bằng xã hội?. Cơ chế nào để  điều chỉnh hợp lý về cơ sở, chính sách, pháp luật đi kèm với việc tăng cường công tác quản lý, giám sát và hậu kiểm…? v.v…

Thứ năm, những giải pháp nào để tiếp tục đổi mới, tăng cường tự chủ đại học trong thời gian tới.

Kính thưa các đồng chí và quý bạn đọc!

Giao lưu, đối thoại trực tuyến với độc giả của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam là một phương thức mới được Báo triển khai thường xuyên. Cuộc Giao lưu hôm nay nhằm tuyên truyền sâu rộng, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc về quan điểm, mục tiêu đổi mới giáo dục Đại học. Trong đó vấn đề tự chủ đại học là “gốc rễ” của đổi mới, nhất là các nội dung căn bản: Tự chủ về học thuật, tự chủ về tài chính và tự chủ về tổ chức và quản lý.

Tại buổi Giao lưu trực tuyến hôm nay, Ban Tổ chức rất mong các đồng chí lãnh đạo, các chuyên gia tập trung phân tích, trao đổi, trả lời làm sâu sắc thêm các nội dung mà bạn đọc quan tâm. Chúng tôi kỳ vọng buổi Giao lưu sẽ góp phần giải quyết 5 vấn đề nêu trên, nhằm từng bước tháo gỡ những “nút thắt” trong vấn đề đổi mới giáo dục Đại học nói chung và tự chủ Đại học nói riêng.

Thay mặt lãnh đạo Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi xin cảm ơn đồng chí Nguyễn Văn Phúc, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các chuyên gia đã dành thời gian tham gia buổi Giao lưu trực tuyến quan trọng, đầy ý nghĩa này. Rất mong bạn đọc, ngoài các câu hỏi đã gửi đến Ban Tổ chức, tiếp tục gửi các câu hỏi để trao đổi, giao lưu với các khách mời.

Kính chúc sức khỏe Quí vị đại biểu và chúc cho buổi Giao lưu của chúng ta đạt kết quả tốt đẹp.

Trân trọng cảm ơn!

 

Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc:

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29, trong đó đặt ra mục tiêu: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. Sau 5 năm thực hiện bước đầu tạo ra những chuyển biến đối với giáo dục đại học.

Nghị quyết số 29 được ban hành vào năm 2013; đến năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 77 thí điểm đổi mới đối với các cơ sở giáo dục đại học. Đến nay, Chính phủ đã phê duyệt thí điểm 23 trường thực hiện tự chủ.

Đây là đợt thí điểm lớn nhất từ trước đến nay, tự chủ trên 3 phương diện mới là: Chuyên môn học thuật, tổ chức nhân sự bộ máy và tự chủ về tài chính. Sau 5 năm, qua kết quả thí điểm của 23 cơ sở đại học, Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá đã đạt kết quả tích cực, kiến nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục Đại học.

Những nội dung sửa đổi đó đã được đưa vào dự thảo Luật. Quốc hội đã có ý kiến và dự kiến cuối năm 2018 sẽ thông qua để thể chế hóa chính thức những chủ trương, chính sách đã thực hiện trong những năm qua. Chúng ta phải thể chế hóa vì thời gian thí điểm 2014-2017 đã hết.

Trong Nghị quyết 29 nhấn mạnh việc xây dựng một số trường ĐH, các ngành học mang tầm quốc tế. Các cơ sở giáo dục ĐH trong những năm qua đã ý thức được việc xây dựng uy tín, chất lượng, hội nhập với thế giới. Các trường 5 năm trước đã được kiểm định (117 trường), hơn 100 chương trình được kiểm định quốc tế... Với nỗ lực của các trường, đến nay theo số liệu mới nhất có 7 trường nằm trong top 500 trường Châu Á và 2 đại học lọt top 1.000 của thế giới. So với các trường lớn trên thế giới, so với quy mô ngân sách, đầu tư của chúng ta còn khiêm tốn nhưng bước đầu những đối mới đã đúng hướng, khả quan. Hy vọng với cơ chế đẩy mạnh tự chủ, sắp tới chúng ta sẽ có những trường phát triển hơn nữa .

Ngoài hội nhập và kiểm định, các cơ sở giáo dục bắt đầu quan tâm đến nghiên cứu khoa học quốc tế. Có một thời gian dài, nguồn thu của các trường dựa nhiều vào học phí; việc nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế chưa được quan tâm,  mà chúng ta biết, các trường muốn được xếp hạng quốc tế phải có yếu tố nghiên cứu khoa học. Trong những năm gần đây, các trường đã được quan tâm đầu tư và tạo cơ chế thích hợp để thúc đẩy những nghiên cứu khoa học. Trong 2 năm gần đây, số liệu công bố quốc tế nhiều hơn 5 năm trước đây cộng lại. Điều đó dẫn đến thứ hạng của các trường đại học của chúng ta tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây.

Nghị quyết 29 cũng nhấn mạnh đến phát huy về phẩm chất, năng lực của người học. Trong các quy chế các trường bắt đầu tham khảo các chương trình đào tạo của nước ngoài, ý kiến của doanh nghiệp, nhu cầu xã hội để đổi mới chương trình, nội dung phương pháp giảng dạy phù hợp.

Quan sát ở các trường đại học, các thầy cô giáo đã đổi mới phương pháp, phát huy tính chủ động, sáng tạo của sinh viên. Khá nhiều trường các em sau khi tốt nghiệp hoàn toàn đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao xã hội.

Như vậy, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 29, chúng ta hoàn toàn có niềm tin nếu tiếp tục đổi mới, thể chế hóa đường lối và quan tâm, hỗ trợ với những trường đại học có kết quả tốt, tôi tin tưởng sắp tới sẽ có nhiều trường góp mặt vào quá trình đào tạo nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

Vụ trưởng Vụ Giáo dục và đào tạo, dạy nghề Nguyễn Đắc Hưng:

 Vâng! Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc. Có thể nói, lịch sử phát triển 5 năm của ngành Giáo dục không dài nhưng thực hiện đúng kỳ vọng của Trung ương. Nhân dân có thể đánh giá được thông qua 5 chỉ số sau:

Chỉ số thứ nhất, nhìn một cách khái quát, thể hiện rõ nét nhất là trước khi thực hiện Nghị quyết 29, chúng ta chưa có trường nào nằm trong top 1000 các trường đại học trên thế giới. Sau 5 năm, chúng ta có 2 trường top thế giới, châu Á từ 1 -2 trường, đến nay lên 7 trường, rất nhiều trường trong top 400 – 300 châu Á. Một số ngành, lĩnh vực đào tạo đã so sánh được với các trường đại học lớn trên thế giới và khu vực.

Chỉ số thứ hai, 84% sinh viên ra trường có việc làm sau 12 tháng.

Chỉ số thứ ba, số công trình nghiên cứu được công bố trong nước và quốc tế tăng gấp đôi.

Chỉ số thứ tư, sự chuyển biến về nhận thức, hành động trong các trường ĐH, nhất là khi chúng ta tổng kết 3 năm thực hiện Nghị quyết có thể khẳng định chủ trương tự chủ của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 29 là hoàn toàn đúng đắn, cho phép chúng ta tạo nên cuộc cạnh tranh lành mạnh trong khối các trường ĐH toàn quốc.

Điều đáng phấn khởi là trước đây, chúng ta đánh giá một số trường ĐH dân lập hình như có mặc cảm là có chất lượng thì vừa rồi, một số trường ĐH theo kiểm định quốc tế được đánh giá là rất cao.

Điều cuối cùng là công tác quản lý đối với chất lượng đào tạo đại học và sau đại học được quản lý chặt chẽ hơn thông qua việc tiếp cận dần với chất lượng, tiêu chuẩn của quốc tế.

Đấy là những thành tựu, mà theo tôi, trong 5 năm qua chúng ta đã đạt được. Tất nhiên, tiếp tục thực hiện Nghị quyết 29 thì còn dài, nhưng trong thời gian không xa nữa, mà cụ thể hơn là sau 10 năm tổng kết thực hiện Nghị quyết thì sẽ có nhiều chuyển biến hơn và rõ nét hơn, thu được nhiều thành quả hơn.

Hiệu trưởng Bùi Anh Tuấn: Trước hết, tôi đồng tình với ý kiến của Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc và Vụ trưởng Nguyễn Đắc Hưng đã chia sẻ. Dưới góc nhìn khác của cá nhân, nhìn nhận lại 5 năm qua, có thể thấy, thành tựu lớn nhất là đáp ứng yêu cầu tốt hơn về giáo dục ĐH, cả về số lượng và chất lượng, biểu hiện ở những điểm chủ yếu: Tiếp cận giáo dục ĐH của người dân được nâng cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và việc làm tốt hơn. Ở một số ngành nghề đào tạo, nhân lực không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn đáp ứng nhu cầu khu vực và quốc tế, rất đáng ghi nhận. Vấn đề chuyển giao công nghệ và tri thức mới thời gian qua cũng làm tốt.

Nguyên nhân của những kết quả đạt được là đổi mới giáo dục ĐH triển khai hiệu quả, quyết liệt theo tinh thần Nghị quyết 29. Giáo dục ĐH có sự thay đổi đặc biệt, quan tâm tới cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao trong điều kiện mới, đặc biệt nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ của các cơ sở, nhất là công tác kiểm định được chú trọng quan tâm. Các cơ sở phải nhận thức được kiểm định như là một đợt khám bệnh để nâng cao chất lượng tổng thể.

Một điều không thể phủ nhận là tự chủ ĐH, điều này đã tạo ra một sức sống mới giúp các trường ĐH nâng cao chất lượng của mình, đồng thời, hướng tới cung cấp một thị trường lao động với nguồn nhân lực chất lượng cao.

GS.TS Phạm Huy Dũng: 5 năm qua là bước tiến của nhiều năm trước. Chúng ta làm việc trong khuôn khổ của pháp luật, với chủ trương mở cửa và điều này cũng xuất phát từ chính nhu cầu tự mở cửa. Ví dụ như trường ĐH Thăng Long, đã mời các giảng viên quốc tế để đào tạo tiếng Anh; từ đó, dần dần các giảng viên trong nước cũng từng bước nâng cao trình độ tiếng Anh của mình. Tôi nhận thấy các trường tư thục làm được việc này thì các trường công lập có thể làm tốt hơn. Trường Đại học Thăng Long cũng chủ động đào tạo giảng viên người Việt đạt chuẩn về trình độ tiếng Anh sau thời gian đầu mời giảng viên quốc tế vào dạy bằng cấp bằng tiếng Anh. Đại học Thăng Long đã tiến hành dạy thạc sỹ bằng tiếng Anh và tiến đến đào tạo tiến sỹ bằng tiếng Anh. Đây cũng là cách đổi mới để hội nhập và thu hút nhiều sinh viên quốc tế đến theo học tại Việt Nam nói chung và trường Đại học Thăng Long nói riêng.

Trong đào tạo ĐH, chúng tôi quan niệm không có nghiên cứu không giảng dạy được. Do đó, cũng cần tập trung cho công tác này và thí điểm tự chủ ĐH đã đề cập nhiều tới nội dung này. Cá nhân tôi 83 tuổi nhưng năm 2017 cũng đã xuất bản hai sách về kinh tế quốc tế (1000 trang) và công tác xã hội trong bệnh viện (1000 trang), nếu không cập nhật thì sẽ khó để giảng dạy tốt. Điều này cũng đồng nghĩa với việc phải gắn giảng dạy với nghiên cứu khoa học cũng phải được tập trung ở trường ĐH, nhất là các trường tư. Cũng phải thẳng thắn là trường tư xin một đề tài khoa học thì rất khó, do đó, tôi rất mong, tới đây, cơ chế này cũng mở rộng đối tượng hơn, trong đó có cả các trường tư.

Ở đây, tôi cũng phải nhắc đến nữ Chủ tịch Hội đồng quản trị của Đại học Thăng Long – có niềm đam mê đặc biệt với giáo dục, nhất là giáo dục Đại học. Tôi cũng là một cổ đông và tất cả cổ đông khác của trường, không ai giữ một đồng cổ tức, tất cả đều dùng quay vòng lại để đầu tư cho hoạt động giáo dục của nhà trường. Nói như người Pháp thì “giáo dục không bao giờ có lãi đâu”.

Tự chủ Đại học chính là gắn với tự chủ học thuật và tự chủ kinh phí. Tôi thiết nghĩ, nếu hôm nay có sự tham dự của đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ thì sẽ tốt hơn vì khoa học công nghệ và giáo dục có mối liên hệ gắn bó với nhau rất chặt chẽ.

PGS.TS Bùi Anh Tuấn: Tôi xin chia sẽ thêm là thầy Dũng mặc dù năm nay 83 tuổi nhưng rất say mê trong nghiên cứu, trong giáo dục Đại học, cùng với trường Đại học Thăng Long, Đại học Ngoại thương cũng đang cung cấp các chương trình đào tạo bằng tiếng anh. Nhiều sinh viên trao đổi và tham gia các chương trình đào tạo tiếng anh tại trường chúng tôi.

Tôi cũng phải khẳng định lại tự chủ học thuật là một trong những tự chủ sớm nhất của tự chủ đại học và việc xây dựng và ban hành các chương trình giáo dục Đại học là của các trường ĐH, Bộ không can thiệp vào nội dung xây dựng chương trình, duy có các môn giáo dục lý luận chính trị thì bắt buộc phải đảm bảo yêu cầu của giáo dục nước ta.

-Xin cảm ơn ông!

Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc: Trước khi trả lời câu hỏi, tôi cũng xin bổ sung thêm ý kiến của PGS.TS Bùi Anh Tuấn vừa rồi. Về mặt chương trình thì hiện nay  các trường đại học hoàn toàn tự chủ. Chỉ có những môn lý luận chính trị, giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng là thực hiện theo quy định. Còn các môn còn lại trong chương trình đào tạo hoàn toàn do các trường quyết định về nội dung, phương pháp, giáo trình. Ở đây, trong mở rộng về chuyên môn thì hiện nay, tiến hành thí điểm Nghị quyết 77 và đang đưa vào Luật Giáo dục đại học sửa đổi, bổ sung và sẽ mở rộng. Trước đây Nghị quyết 77 là thực hiện theo trường công, nhưng mà hiện nay thì qua thực tiễn, chúng tôi thấy rằng,  đạt kết quả tốt thì mở rộng  triển khai luôn ở tất cả các trường, không phân biệt công, tư gì nữa, miễn là chúng  ta đáp ứng điều kiện về chất lượng; ví dụ như: Vấn đề về mã ngành đào tạo, như trong liên kết đào tạo trong nước và quốc tế… Tất cả những vấn đề này là tự chủ một bước xa hơn so với trước đây.

Trở lại với câu hỏi Bộ Giáo dục và Đào tạo đã làm gì để thực hiện Nghị quyết 29? Sau khi Nghị quyết ban hành thì Chính phủ có chương trình hành động để triển khai Nghị quyết, rồi Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng có chương trình hành động, trong đó làm rất nhiều việc. Chúng tôi thực hiện đầy đủ theo 9 giải pháp trong  Nghị quyết 29 đã nêu. Ở đây, tôi xin nêu một số vấn đề lớn.

Trước tiên là công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế rất quan trọng. Tư tưởng của Nghị quyết rất đột phá, rất đổi mới, tuy nhiên chúng ta phải thể chế hoá vào trong thực tiễn. Về phía Bộ, đối với phần việc của Bộ, liên quan nhiều đến chuyên môn, chúng tôi đã ban hành các thông tư, quy định để các trường thực hiện; ví dụ như: Tuyển sinh, chỉ tiêu tuyển sinh, những quy định về liên kết đào tạo, hợp tác quốc tế, khoa học công nghệ… Những vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ thì Bộ chủ động để thay đổi, những vấn đề nào thuộc thẩm quyền của Chính phủ thì chúng tôi cũng tham mưu để Chính phủ ban hành những văn bản, những quy định.

Như chúng ta biết thì Nghị quyết 77 và sau này là văn bản liên quan đến vấn đề cơ chế, tự chủ, trong đó có phần nhân sự, tổ chức bộ mày, tài chính thì Bộ cũng đã tham mưu cho Chính phủ đề thay đổi quan điểm, thể chế để giúp cho các trường đại học của chúng ta nâng cao tự chủ, đồng thời tăng trách nhiệm. Mục đích là để nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

Và trong Nghị quyết 29 có một nội dung quan trọng là đổi mới cơ chế tài chính. Đổi mới tài chính trong những năm qua có những thay đổi quan trọng. Từ các nghị định, quyết định của Bộ, của Chính phủ có những thay đổi trong cơ chế tài chính và chính cơ chế tài chính thay đổi tạo những đổi mới về cơ chế tài chính tại các trường, tạo động lực bên trong cho các trường ĐH.

Trong Nghị quyết 29 cũng nhấn mạnh đến những thay đổi trong đội ngũ. Về đội ngũ thì trong những năm qua, cả trong nước và đào tạo ở nước ngoài thì chúng ta đều đẩy mạnh công tác này. Có thể nói là việc đổi mới hiện nay đã được khẳng định bằng việc chúng ta được xếp hạng thế giới. Việc các trường đại học của chúng ta được xếp hạng, công bố quốc tế tăng hơn rất nhiều là do đội ngũ của chúng ta được đào tạo bài bản, trong đó có đội ngũ được đào tạo từ nước ngoài về rất nhiều. Và chính đội ngũ đó hiện nay đóng vai trò rất nòng cốt trong các trường đại học, từ đào tạo nội dung đến đào tạo về nghiên cứu khoa học.

Như chúng ta đã biết thì trong 2 năm vừa rồi, số công trình nghiên cứu khoa học công bố quốc tế trên các tạp chí quốc tế đã tăng gấn 2 lần tức là bằng tổng 5 năm trước đó cộng lại. Như vậy tôi cho rằng, nghiên cứu khoa học trong những năm qua đã có những khởi sắc.

Trong Nghị quyết 29 nhấn mạnh là hội nhập quốc tế. Việc hội nhập quốc tế, các trường đại học rất chủ động đổi mới chương trình đào tạo, chương trình hợp tác nước ngoài, phát triển chương trình chất lượng cao... Đây là những vấn đề mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cố gắng thể chế hóa bằng chính sách để thúc đẩy sự phát triển của các trường đại học.

Vụ trưởng Nguyễn Đắc Hưng:

Nhiều năm nay, vấn đề giáo dục lúc nào cũng được xã hội quan tâm. Đây là thuận lợi cũng là khó khăn. Và có thể nói rằng, giáo dục những năm qua, nhất là 5 năm vừa rồi đối mặt rất nhiều thách thức mà thách thức lớn nhất là đổi mới tư duy, thứ hai là niềm tin của xã hội với giáo dục.

Về đổi mới tư duy, khi Nghị quyết 29 ra đời, lúc bấy giờ bối cảnh quốc tế và trong nước đang có nhiều biến động, nhưng thời gian gần đây, nhất là từ năm 2016, khi thế giới xuất hiện khái niệm và vận hành của tác động cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thì rõ ràng thách thức đặt ra với những tất cả quốc gia trên thế giới là nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Với Việt Nam càng cần chuyện đó, vì chúng ta là nước đang phát triển, ở trong bối cảnh chuyển biến từ kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu.

Xin nhấn mạnh, trong hội nhập sâu rộng quốc tế, tác động của cuộc cách mạng 4.0 lớn như thế thì đổi mới tư duy là quan trọng. Trong khi một bộ phận không nhỏ giáo viên, nhân dân cũng thấy rằng, khó khăn trong đổi mới là vẫn có tư tưởng bao cấp trì trệ ở một bộ phận trường, giáo viên nào đó. Đây là một thách thức, nếu không chuyển biến tư duy thì chúng ta khó có thể thực hiện cộng cuộc đổi mới thành công.

Thách thức thứ hai là cần khắc phục là niềm tin của xã hội với giáo dục. Nhìn tổng thể, giáo dục đã làm được rất nhiều việc, nhưng cũng có những khuyết điểm trong quá trình thực hiệ và hình như xã hội chưa tin vào giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng.

Vì vậy, thời gian tới, công tác tuyên truyền phải kịp thời, chính xác những kết quả, thành công và hạn chế, khó khăn để xã hội cùng chia sẻ, giúp đỡ ngành Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, lấy lại niềm tin trong nhân dân và xã hội.

Bản thân các trường đại học cũng phải vươn lên, phải khẳng định với xã hội rằng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực bậc đại học, sau đại học ở Việt Nam không thua kém chất lượng đào tạo ở khu vực và trên thế giới; nhân lực Việt Nam có đủ khả năng để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế, cạnh tranh bình đẳng trên sân chơi trong nước cũng như trên khu vực.

Tôi cho rằng có như vậy mới lấy lại niềm tin trong xã hội, nhân dân và có vậy công cuộc đổi mới mới thành công.

Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc: Đối với giáo dục ĐH chúng ta đang hội nhập với thế giới. Trong quá trình đó, chúng ta nghiên cứu và tiếp thu một cách tốt nhất các kinh nghiệm của các nước trên thế giới. Những kinh nghiệm của thế giới rất đa dạng nhưng tự chủ ĐH là điều cốt lõi cho các cơ sở giáo dục phát triển. Vì các cơ sở giáo dục ĐH là nơi truyền bá những kiến thức, sáng tạo, tri thức mới đòi hỏi các trường ĐH sự tự chủ, chủ động sáng tạo ra tri thức mới. Như vậy, việc tự chủ ĐH là nhu cầu rất quan trọng để phát triển.

Tuy nhiên, để việc tự chủ thành công, phải tự chủ không chỉ trong cơ quan nhà nước mà trong nội bộ trường ĐH, từ những người lãnh đạo quản lý đến các thầy cô, người học... tạo ra môi trường học thuật khoa học, phát huy tiềm năng, trí tuệ, phẩm chất của người học; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các trường. Đi liền với tự chủ là nâng cao chất lượng, kiểm định chất lượng, trách nhiệm giải trình và hỗ trợ các trường tự chủ để đạt mục tiêu sau cùng là nâng cao chất lượng giáo dục.