Chương IV - CÙNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 - 1954)

Cập nhật lúc 15h14  -  Ngày 12/10/2016

share facebookgửi emailin bài này

CÙNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 - 1954) 

1. Trong những tháng năm đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

Cách mạng Tháng Tám thành công, Uỷ ban dân tộc giải phóng do Đại hội quốc dân Tân Trào cử ra ngày 16-8-1945 trở thành Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đồng chí Phạm Văn Đồng được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính. Từ căn cứ địa Việt Bắc, Chính phủ lâm thời chuyển về Hà Nội chuẩn bị lễ Tuyên ngôn độc lập, chính thức khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hà Nội là nơi đã diễn ra sự kiện lịch sử trọng đại này và cũng là nơi chứng kiến những trang mới trong cuộc đời đồng chí Phạm Văn Đồng. Đồng chí có dịp gặp lại bạn bè, thăm lại những cơ sở hoạt động trong những năm 1925 1926 và 1937 1939.

Ngày 27-8-1945, đồng chí tham dự phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời tại Hà Nội, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì ít ngày sau, thay mặt Chính phủ, đồng chí đến dự và nói chuyện với một số trí thức tiến bộ, bàn việc ra báo La Republiqué (in bằng tiếng Pháp)1.

“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Với nhận thức ấy nhân năm học đầu tiên của nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những lời tâm huyết trong thư gửi các học sinh tiểu học và trung học nhân ngày khai trường: non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn công học tập của các em". Để tổ chức lại hệ thống các trường cao đẳng, đại học, ngày 10-101945 , Người ký Sắc lệnh số 45/ SL thành lập Trường Đại học văn khoa Hà Nội gồm các khoa triết lý, chính trị xã hội, Việt Nam học, Hán học, sử ký (Sử học), địa dư (Địa lý) để đào tạo văn khoa đại học sĩ (cử nhân), văn khoa bác sĩ (tiến sĩ). Trường Đại học văn khoa do GS. Đặng Thai Mai làm giám đốc, với các giảng viên là các nhà luật học, triết học, văn hoá, sử học... Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp được trường mời giảng dạy một số bài quan trọng ở lớp Cao đẳng chính trị xã hội (đồng chí Phạm Văn Đồng giảng dạy ở Khoa Hiến pháp).

Lịch sử đã chứng kiến những năm tháng chồng chất khó khăn của cách mạng Việt Nam sau tháng 8-1945. Nền Cộng hoà dân chủ vừa khai sinh thì tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp lại nổ ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ. Chính những người mang danh Đồng minh đã trở thành tấm lá chắn cho hành động xâm lược đó. Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, 20 vạn quân Quốc dân Đảng Trung Hoa mang danh Đồng minh vào giải giáp quân Nhật, cùng với bọn tay sai Việt quốc, Việt cách kéo về giở thói côn đồ sách nhiễu. Thù trong, giặc ngoài cùng với giặc đói, giặc dốt bao vây, uy hiếp chính quyền cách mạng non trẻ. Chưa bao giờ cách mạng Việt Nam lại nhiều kẻ thù đến như vậy.

Trong giờ phút hiểm nghèo đó, cùng với Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo tay chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh. Chống trả giặc ngoại xâm, diệt giặc dốt, giặc đói là những nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, của chính quyền cách mạng. Hàng loạt chủ trương, biện pháp kể cả những biện pháp đau đớn" nhanh chóng được thực hiện.

Ngày 11-11-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố "tự giải tán", nhưng thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật và vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới. Ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” xác định: kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng"; nhiệm vụ cần kíp lúc này là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”2. Nhận định chính xác về thế và lực của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đề ra chủ trương: động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến và tổ chức lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài”3.

Muốn kháng chiến thắng lợi phải bắt tay thực hiện ngay những công việc kiến thiết nước nhà; muốn kiến thiết thành công phải có chương trình, kế hoạch khoa học, phải tập hợp được nhân tài và phát huy động được mọi nguồn lực. Sau khi tham khảo ý kiến các nhân sĩ, trí thức, ngày 31-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số/SL thành lập Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết. Ủy ban có nhiệm vụ xây dựng các đề án trình Chính phủ. Thành phần Ủy ban gồm các thành viên của Chính phủ lâm thời như Hoàng Minh Giám, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Cù Huy Cận; các nhà cách mạng có uy tín như Đặng Xuân Khu (Trường Chính), Bùi Công Trừng, Trần Văn Giàu... của các trí thức, của các nhà khoa học có danh tiếng như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Cao Luyện, Đào Duy Anh, Đặng Văn Hướng, Nghiêm Xuân Yếm, Đặng Thai Mai, Phạm Khắc Hoè ... Uỷ ban được đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Chính phủ.

Ngày 6-1-1946, nhân dân ta từ Bắc chí Nam tiến hành cuộc Tổng tuyển cử tự do đầu tiên trong lịch sử, bầu Quốc hội khoá I của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đồng chí Phạm Văn Đồng được giới thiệu ứng cử tại Quảng Ngãi và trúng cử với số phiếu khá cao. Ngày 2-3-1946, tại Hà Nội, Quốc hội khoá I họp kỳ thứ nhất đã hoàn toàn nhất trí với đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở rộng thêm 70 ghế đại biểu Quốc hội không qua bầu cử cho Việt quốc, Việt cách và để một số đại biểu các đảng phái tham gia Chính phủ liên hiệp chính thức. Đồng chí Phạm Văn Đồng được kỳ họp bầu làm Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội4.

Đúng như dự đoán của Đảng ta, các thế lực đế quốc và phản động quốc tế đã tạm thời dẹp những bất đồng và cấu kết cùng phá hoại cách mạng Việt Nam. Ngày 28-2-1946, tại Trùng Khánh (Trung Quốc). Hiệp ước Hoa Pháp được ký kết. Theo đó, thực dân Pháp trao trả cho chính quyền Quốc dân Đảng Trung Quốc các tô giới ở Thượng Hải, Thiên Tân, Hán Khẩu, Quảng Châu Loan; bán lại cho Trung Quốc đường sắt Côn Minh Lào Cai, hàng hoá vận chuyển qua Bắc Việt Nam được miễn thuế. Đổi lại, chính quyền Tưởng đồng ý để Pháp đưa 15 nghìn quân vào miền Bắc thay chân quân đội Tưởng thực hiện giải giáp quân đội Nhật". Nguy cơ cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trên cả nước càng tới gần.

Để đuổi nhanh quân Tưởng về nước và để có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với phía Pháp bản Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 tại Hà Nội. Theo đó, Việt Nam đồng ý để 15 ngàn quân Pháp thay thế quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa ở miền Bắc, nhưng phải đóng quân ở những địa điểm được quy định; Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một quốc gia tự do nằm trong Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng; việc thống nhất nước Việt Nam sẽ do nhân dân Việt Nam tự định đoạt; những quyền lợi kinh tế của Pháp ở Việt Nam sẽ được bảo đảm.

Việc ký kết và thực thi Hiệp định sơ bộ là một cuộc đấu tranh phức tạp giữa nhân dân ta với các thế lực thực dân hiếu chiến và bọn tay sai của chúng. Đó cũng là quá trình giáo dục và tổ chức quần chúng khẩn trương chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến gian khổ, thường kỳ chống thực dân Pháp.

Trong những năm tháng đầy khó khăn và thử thách của cách mạng Việt Nam, đồng chí Phạm Văn Đồng tham gia nhiều hoạt động, dự các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ và Uỷ ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết. Đồng chí còn nhiều lần được cử là đại diện của Chính phủ Việt Nam giao dịch với phía Pháp và trực tiếp đối mặt với các chính khách ngoan cố, hiếu chiến của chính quyền thực dân.

Trước những hành động khiêu khích, phá hoại Hiệp định sơ bộ 6-3 của quân đội Pháp ở Việt Nam, ngày 13-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thông điệp tới Chính phủ Pháp, đòi phía Pháp phải thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định sơ bộ và tiến hành ngay việc đàm phán chính thức với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Người kêu gọi Chính phủ và nhân dân tiến bộ các nước trên thế giới, đặc biệt là nhân dân Pháp lên tiếng đòi Chính phủ Pháp thi hành Hiệp định sơ bộ. Người kêu gọi nhân dân Việt Nam bình tĩnh, sẵn sàng chờ lệnh Chính phủ. Ngày 24-3-1946, trên chiến hạm Pháp Emin Béctanh ở Vịnh Hạ Long, Chủ tịch Hồ Chí Minh có cuộc gặp gỡ với Đácgiăngliơ, Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Tại cuộc gặp này Người đã phê phán thái độ thiếu nghiêm chỉnh của phía Pháp trong việc thực hiện Hiệp định sơ bộ, khẳng định rõ lập trường của Chính phủ ta về vấn đề đàm phán là tôn trọng nền độc lập. thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Khi cuộc gặp gỡ giữa Hồ Chí Minh và Đácgiăngliơ đang diễn ra ở Vịnh Hạ Long thì sáng ngày 24-3-1946, một cuộc mít tinh khổng lồ của hơn 10 vạn quần chúng yêu nước được tổ chức tại Hà Nội. Để biểu thị quyết tâm chiến đấu cho độc lập tự do của cả dân tộc, những người dự mít tinh hô vang khẩu hiệu đòi phía Pháp phải đình chỉ ngay những hành động khiêu khích, đòi phải mở ngay cuộc đàm phán chính thức ở Pari.

Trước thái độ và tinh thần đấu tranh kiên quyết của nhân dân và Chính phủ ta, Đácgiăngliơ buộc phải thoả thuận với Chủ tịch Hồ Chí Minh về thời gian đàm phán và thay mặt Chính phủ Pháp mời Người sang thăm nước Pháp với tư cách là thượng khách. Hai bên cũng thoả thuận: Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà sẽ cử một phái đoàn sang thăm thân thiện nước Pháp; Pháp sẽ cử một phái đoàn sang Việt Nam để cùng với phía Việt Nam chuẩn bị những điều kiện cho việc đàm phán và ký kết Hiệp ước chính thức ở Pari.

Ngày 16-4-1946, đồng chí Phạm Văn Đồng với cương vị là Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà lên đường sang thăm thân thiện nước Pháp5. Buổi tiễn đoàn diễn ra thật lưu luyến và cảm động. Trước lúc lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh cầm tay đồng chí Phạm Văn Đồng và các vị trong đoàn căn dặn: Đoàn kết, cẩn thận. Làm cho nước Pháp hiểu ta để gây tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Tình hình chiến sự căng thẳng khiến người đi, người tiễn không khỏi thoáng chút lo âu. Sau 10 ngày đi máy bay và dừng chân ở một số nơi, 19 giờ ngày 25-4 máy bay đến sân bay Le Bourget. Đón đồng chí Phạm Văn Đồng và phái đoàn có Giáo sư Rever đại diện Quốc hội Pháp, Lamentie - Bộ trưởng thuộc địa, Labrouquère - đại diện Chính phủ Pháp, Sainteny đại diện của Cao uỷ Pháp ở Đông Dương, Marrane Chủ tịch Hội đồng quận Seine.

Hơn hai nghìn Việt kiều tập trung trong và ngoài sân bay vẫy cờ hoa, biểu ngữ đón đoàn.

Gọi là đi thăm thân thiện, nhưng ngoài buổi tiếp kiến với Chủ tịch Chính phủ Pháp vào ngày 26-4, thì việc tiếp xúc với chính giới Pháp là rất ít. Thái độ thiếu thiện chí của phía Pháp rất rõ ràng. Tuy vậy theo chủ trương của Đảng và Chính phủ, thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng và các vị trong đoàn dã có nhiều cuộc gặp gỡ với các đoàn thể quần chúng, với nhiều trí thức Pháp có tên tuổi; với một số đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp, các nhà văn, nhà báo cộng sản Pháp. Đoàn cũng có những buổi gặp gỡ với đông đảo bà con Việt kiều. Mặc dù ở xa Tổ quốc nhưng đồng bào ta rất phấn khởi với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Một số trí thức, nhà khoa học có tên tuổi đã bày tỏ nguyện vọng muốn được trở về quê hương góp phần xây dựng Tổ quốc. Cũng trong cuộc viếng thăm này, cờ đỏ sao vàng Quốc kỳ của nước Việt Nam mới đã tung bay giữa Thủ đô nước Pháp, dư luận tiến bộ Pháp và quốc tế đã chú ý hơn đến hình ảnh nước Việt Nam mới; một số hãng thông tấn, báo chí Pháp và quốc tế bắt đầu lên tiếng và bày tỏ sự đồng tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Đoàn cũng đã mang đến cho nhân dân Pháp tình cảm thân thiện, hữu nghị của Chính phủ và nhân dân Việt Nam.

13 giờ 45 phút, ngày 23-5-1946, đồng chí Phạm Văn Đồng và đoàn đại biểu Quốc hội về đến Hà Nội.

Ngày 31-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 82/SL cử đồng chí Phạm Văn Đồng làm nhiệm vụ mới - Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đàm phán chính thức với đoàn đại biểu Chính phủ Pháp6.

6 giờ 30 phút ngày 31-5-1946, lễ tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm nước Pháp và đoàn đại biểu Chính phủ ta đi Pháp đàm phán được tiến hành trọng thể trước Phủ Chủ tịch. Trước các vị đại diện Quốc hội và thành viên Chính phủ cùng đông đảo đại biểu các tầng lớp nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng và các thành viên trong đoàn đã nắm tay thề: "Anh em chúng ta mang trọng trách quốc gia, trước mặt Quốc dân đây, chúng ta phải thề dù gian lao thế nào chúng ta cũng phải nhất tâm đoàn kết để làm tròn nhiệm vụ đối với Tổ quốc"6.

7 giờ 45 phút, tại sân bay Gia Lâm, chiếc máy bay Đacôta 356 cắm cờ Việt và cờ Pháp đưa đoàn lên đường, cất cánh.

Ngày 22-6-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng và phái đoàn ta mới đến được Pari. Nguyên nhân của việc đến chậm này là do sự thiếu thiện chí của phía Pháp, nhưng lại được họ giải thích là do nước Pháp thay đổi nội các.

Trong thời gian chờ Hội nghị chính thức khai mạc, ngày 4-7, đồng chí Phạm Văn Đồng và phái đoàn Chính phủ ta cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm đền Mout Valérien ở Pari, nơi đặt bia mộ các liệt sỹ Pháp đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống phátxít (1939- 1945), thăm lăng mộ Napôlêông, hoàng đế và nhà quân sự nổi tiếng trong lịch sử nước Pháp.

Sáng chủ nhật ngày 6-7-1946, cuộc đàm phán Việt Pháp khai mạc tại cung chính trong lâu đài Phôngtennơblô ở ngoại ô Pari, do Mác Ăngđrê, Trưởng đoàn Pháp chủ tọa. Tại phiên họp Mác Ăngđrê nói về nội dung cuộc đàm phán nhưng thể hiện những quan điểm bảo thủ và sai trái, thái độ quanh co, không thiện chí.

Trong bài phát biểu, đồng chí Phạm Văn Đồng đã lên án chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam gần một thế kỷ và nhấn mạnh: Việc các thế lực thực dân hiếu chiến muốn dùng vũ lực để khôi phục lại sự thống trị là một việc làm lỗi thời, đi ngược lại nguyện vọng hoà bình của nhân dân Pháp. Đồng chí đặt câu hỏi: Phải chăng những hành động của nhà chức trách Pháp ở Đông Dương đang tiến hành là vì tình thân thiện Pháp Việt? Trước những lý lẽ xác đáng và thái độ cương quyết của đồng chí Phạm Văn Đồng, Mác Ăngđrê sững sờ và đột ngột tuyên bố cuộc họp tạm nghỉ. Cũng như Mác Ăngđrê, các đại biểu phía Pháp tham dự và chứng kiến phiên khai mạc không khỏi bối rối.

Trong lúc phiên họp tạm nghỉ, các đại biểu hai đoàn gặp nhau và cùng đề nghị tiến hành họp riêng để lập ra một ban soạn thảo chương trình nghị sự. Cũng như trong phiên họp khai mạc, các cuộc họp riêng đã diễn ra trong không khí nặng nề và căng thẳng.

Ngay sau ngày khai mạc Hội nghị, các báo tư sản Pháp đã phụ hoạ và biện bạch cho thái độ bảo thủ, thiếu thiện chí của phía Pháp. Họ cho rằng: Diễn văn của ông Phạm Văn Đồng là một lời chất vấn đáng tiếc. Với giọng điệu trịch thượng, họ hy vọng “phía Việt Nam sẽ dịu giọng hơn”. Trả lời câu hỏi của các nhà báo Pháp và quốc tế về thái độ của phía Pháp và không khí phiên khai mạc, Đồng chí Phạm Văn Đồng chỉ nói một câu rất hình tượng: “Ở Phôngtennơblô trời hơi lạnh”7.

Ngày 9-7-1946, phiên họp toàn thể thứ hai được tiến hành do đồng chí Phạm Văn Đồng chủ tọa. Nội dung chương trình nghị sự được hai đoàn thoả thuận là sẽ thảo luận về các vấn đề như:

- Địa vị của Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, về quan hệ ngoại giao của Việt Nam.

- Quan niệm tổng quát về Liên bang Đông Dương.

- Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và việc trưng cầu dân ý.

- Chi tiết về Liên bang Đông Dương và vấn đề quyền lợi kinh tế của Pháp ở Đông Dương.

- Dự thảo Hiệp ước.

Để cuộc đàm phán đi vào những vấn đề cụ thể, hai đoàn nhất trí việc lập các tiểu ban chính trị, quân sự, kinh tế tài chính, văn hoá và thành viên các tiểu ban. Hai đoàn cũng thống nhất việc đàm phán những vấn đề cụ thể sẽ tiến hành ở các tiểu ban.

Theo dõi sát những diễn biến của cuộc đàm phán, tuy không trực tiếp tham gia, nhưng với cương vị của mình, ngày 12-7-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức một cuộc họp báo về mục tiêu và lập trường đàm phán của Chính phủ Việt Nam. Tại cuộc họp báo, Người nói rõ lập trường của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm 6 điểm:

Một là, Việt Nam khẳng định quyền độc lập nhưng không tuyệt giao với Pháp mà vẫn ở trong Liên hiệp Pháp. Về kinh tế và văn hoá, Việt Nam vui lòng cộng tác với nước Pháp.

Hai là, Việt Nam không chịu có một Chính phủ Liên bang Đông Dương.

Ba là, Nam Bộ là một bộ phận của nước Việt Nam, không ai có quyền chia rẽ, không lực lượng nào có thể chia rẽ.

Bốn là, Việt Nam sẽ bảo hộ tài sản của người Pháp ở Việt Nam, nhưng người Pháp ở Việt Nam phải tuân theo luật pháp Việt Nam; Chính phủ Việt Nam giữ quyền mua lại những tài sản có quan hệ đến quốc phòng.

Năm là, Nếu cần đến cố vấn, Việt Nam sẽ dùng người Pháp trước.

Sáu là, Chính phủ Việt Nam có quyền phái đại sứ và lãnh sự đi các nước.

Trong phiên họp toàn thể thứ 3 (họp kín) ngày 12 - 7- 1946, đồng chí Phạm Văn Đồng khẳng định và đề nghị với phía Pháp: Lập trường của Việt Nam là theo tinh thần nội dung cơ bản của Hiệp định sơ bộ ngày 6-3; ưu tiên thảo luận vấn đề địa vị của nước Việt Nam trong Liên hiệp Pháp; vấn đề quyền đặt quan hệ ngoại giao của Việt Nam tạm gác lại và sẽ tiếp tục thảo luận sau. Nhưng phía Pháp tiếp tục làm ngơ.

Trong tiến trình của cuộc đàm phán Việt Pháp, đoàn Việt Nam đã nhân nhượng về thứ tự của những vấn đề đàm phán, hoặc tạm gác một vài vấn đề để thảo luận sau, nhưng những quan điểm chỉ đạo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra vẫn được giữ vững. Tại các phiên họp của các tiểu ban, phía Pháp vẫn cho rằng, Việt Nam đã nằm trong Liên hiệp Pháp thì phải hoàn toàn lệ thuộc vào nước Pháp. Họ đòi các lực lượng vũ trang của ta phải giải tán để sáp nhập vào quân đội Liên hiệp Pháp, đòi quân đội Pháp được tự do đi lại và đóng quân bất cứ nơi nào họ muốn; quan hệ với nước ngoài của Việt Nam phải do Chính phủ Pháp chỉ đạo; họ phủ nhận Việt Nam có quyền độc lập về tài chính v v... Về Liên bang Đông Dương, họ đòi người đứng đầu Chính phủ Liên bang Đông Dương phải là người Pháp, mọi công việc nội trị, ngoại giao phải do người đó điều khiển. Thực chất là họ muốn thiết lập lại chế độ toàn quyền trước đây. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã kiên quyết bác bỏ những hành động sai trái và những đòi hỏi vô lý. Đồng chí tuyên bố: Chế độ các vị Toàn quyền đã hết thời. Nam Bộ là lãnh thổ thiêng liêng của nước Việt Nam không ai có thể chia cắt được.

Trong khi cuộc đàm phán đang dậm chân tại chỗ thì giới chức Pháp ở Đông Dương liên tiếp gây ra những hành động khiêu khích, lấn chiếm. Ngày 14-7-1946, nhân kỷ niệm ngày Quốc khánh Pháp, họ tổ chức một cuộc duyệt binh lớn ở Hà Nội, trong khi tiếng súng xâm lược vẫn tiếp tục nổ ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Trước những hành động đó, ngày 16-7-1946 đồng chí Phạm Văn Đồng đã gửi công hàm cho Chính phủ Pháp phản kháng những hành động của giới chức Pháp ở Đông Dương và tuyên bố họ phải chịu trách nhiệm về những hành động đó, kể cả việc bồi thường thiệt hại.

Ngày 23-7-1946, nhiều báo lớn ở Pari đưa tin Cao uỷ Pháp ở Đông Dương Đácgiăngliơ quyết định triệu tập Hội nghị “Các nước trong Liên bang Đông Dương”, trong đó có "Nước Cộng hoà Nam Kỳ" tại Đà Lạt vào ngày 1-8. Đồng chí Phạm Văn Đồng lại gửi tiếp công hàm cho Chính phủ Pháp phản kháng việc làm này và chỉ rõ đó là những việc làm vi phạm Hiệp định sơ bộ ngày 6-3, phá hoại cuộc đàm phán Việt -Pháp nhưng phía Pháp vẫn thờ ơ. Trước thái độ của chính giới Pháp, tại phiên họp ngày 1-8-1946, đồng chí Phạm Văn Đồng đọc bức công hàm gửi Chính phủ Pháp, trong đó nói rõ: “Chúng ta đứng trước tình hình sau đây: hoặc là các nhà chức trách Nam kỳ quyết định số phận của Nam kỳ, miền Nam Trung kỳ, Tây Nguyên và quy chế của Liên bang Đông Dương. Trong trường hợp này, Hiệp định ngày 6 tháng 3 trở thành không; mục đích của Hội nghị Phôngtennơblô không còn ý nghĩa nữa. Hoặc là Hiệp định ngày 6-3 phải được thi hành và trong trường hợp này chỉ có Hội nghị Phôngtennơblô mới có thẩm quyền thảo luận về những vấn đề đó. Tư thế của chúng ta buộc chúng ta phải đình chỉ công việc của chúng ta cho đến khi sự mập mờ đó tiêu tan”8. Đọc xong bức công hàm đồng chí Phạm Văn Đồng rời phòng họp.

Ngày 2-8, Mác Ăngđrê gặp các nhà báo và nói rằng: Chính phủ Pháp đã xem xét những lời phản kháng của ông Phạm Văn Đồng, nhưng quan điểm cụ thể vẫn lập lờ. Ngày 6-8-1946, đồng chí Phạm Văn Đồng đã thông báo với các nhà báo về nguyên nhân của quyết định tạm ngừng đàm phán: chính sách của Pháp ở Đông Dương có hai đường, một mặt họ cứ tuyên bố là thân thiện nhưng lại tìm mọi cách để phá sự thân thiện đó, mặt khác họ cho quân khiêu khích, lấn dần. Họ muốn đặt chúng tôi trước những việc đã rồi.

Nhận định tình hình đàm phán sẽ diễn biến phức tạp, ngày 2-9-1946, từ Phôngtennơblô, đồng chí Phạm Văn Đồng gửi thư về nước báo cáo với Quốc hội về tình hình diễn biến cuộc đàm phán. Đồng chí chúc Ban Thường trực Quốc hội làm tròn những điều đã định để đưa quốc dân lên con đường tranh thủ độc lập cho nước nhà"; và khẳng định căn bản công việc chúng ta là sức lực của ta, sức lực đoàn kết, tranh đấu, về mặt nào cũng thế”9.

Tuy buộc phải tuyên bố tạm thời đình chỉ cuộc đàm phán, nhưng với thái độ thiện chí, đồng chí Phạm Văn Đồng đã có một số cuộc gặp riêng với Mác Ăngđrê và một số chính khách Pháp; thoả thuận về bản Hiệp định tạm thời đã được hai bên ghi nhận thông qua bản ghi nhớ 14 điều10, những vấn đề mà hai bên đã nhất trí trong quá trình đàm phán và dự thảo bản Hiệp định tạm thời sẽ thông qua trong phiên họp toàn thể dự định vào ngày 10-9.

Ngày 4 - 9, đồng chí Phạm Văn Đồng tiến hành họp riêng với ba cố vấn của Đácglăngliơ là Piguon, Torel và Gonon để xác định việc phải làm ở Việt Nam theo như bản ghi nhận trên.

Sau hơn một tháng tạm thời đình chỉ, ngày 10-9-1946, cuộc đàm phán Việt Pháp ở Phôngtennơblô lại nhóm họp. Nhưng khi công bố dự thảo Hiệp định, phía Pháp đã tự sửa lại một số điều đã thoả thuận: Họ khẳng định Viết Nam nằm trong Liên hiệp Pháp và không có quyền độc lập về quân sự và ngoại giao, Liên bang Đông Dương vẫn do người Pháp đứng đầu v.v.. Đồng chí Phạm Văn Đồng kiên quyết phản đối việc làm này và thông báo phía Việt Nam đề nghị thảo luận lại một cách tổng quát hơn bản dự thảo Hiệp định. Nhưng phía Pháp không đồng ý và tuyên bố kết thúc cuộc đàm phán. Ngày 13-9-1946, tại Pari, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức họp báo để bày tỏ quan điểm của Chính phủ Việt Nam.

Người nói: “Tôi có vừa ý với kết quả của Hội nghị Phôngtennơblô không? Có và không. Không là vì chúng tôi đến đây với hai vấn đề chính: nền độc lập của nước Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp và vấn đề Nam Bộ thì chưa có vấn đề nào được giải quyết cả. Có là vì ở đây tôi được thấy rõ một sự thân thiện, thành thực của Chính phủ và dân chúng Pháp và đã có dịp gặp nhiều bạn Pháp và ngoại quốc”11. Cùng ngày, trước khi rời Pari đi Tulông để về nước, đồng chí Phạm Văn Đồng đã ra thông cáo báo chí nói rõ: "Chúng tôi tiếc rằng Hội nghị Phôngtennơblô không có kết quả như đã định trước. Nhưng chúng tôi tin rằng Hội nghị sẽ tiếp tục trong những điều kiện thuận lợi hơn. Trong lúc chờ đợi, chúng tôi về nước với ý muốn kiên quyết sẽ ký những hiệp định bộ phận tại chỗ với đại biểu các nhà cầm quyền Pháp về những vấn đề nhất định và tỏ rõ bằng hành động ý muốn liên minh và hợp tác của chúng tôi với nước Pháp. Đó là cách tốt nhất để tạo nên một bầu không khí thuận lợi cho việc họp lại Hội nghị Phôngtennơblô"12. Ngày 14-9, tuyên bố với các nhà báo trước khi xuống tàu ở bến cảng Tulông, đồng chí Phạm Văn Đồng nói: “Chúng tôi rất cần đi tới một sự thoả thuận. Vì nếu cuộc đàm phán thất bại thì tai hoạ cho cả Việt Nam và Pháp. Riêng tôi, tôi rất lạc quan về việc tiếp tục đàm phán sau này”13.

Sau 20 ngày hành trình trên tàu Pátstơ (Pasteur) của hải quân Pháp, ngày 4-10-1946, đồng chí Phạm Văn Đồng và phái đoàn Chính phủ ta về đến Tổ quốc. Lễ đón đoàn đã được tổ chức tại cảng Hải Phòng. Phát biểu trước đại biểu các đoàn thể, các giới ra đón, đồng chí Phạm Văn Đồng nói: một điều cần nói trước tiên đó là nhận thức đúng cái kết quả của cuộc đàm phán ở Pháp... Nếu nói mục đích của cuộc đàm phán là để tranh thủ cho được thắng lợi về những vấn đề thiết cốt là vấn đề thống nhất Nam Bộ và vấn đề độc lập của Việt Nam thì kết quả của Hội nghị Phôngtennơblô quả không làm cho chúng ta hài lòng. Nhưng cuộc đàm phán không phải vì vậy mà không có kết quả nào, mà là kết quả gián tiếp, một kết quả ở ngoài, trước hết là sự ủng hộ của dư luận dân chúng và một số trong chính giới và liên giới Pháp đối với lập trường tranh thủ độc lập của Việt Nam, là sự chú ý của dư luận quốc tế (Anh, Mỹ, Nga) đối với vấn đề Việt Nam càng ngày càng tăng. Trước kia danh từ Việt Nam ở ngoài không mấy ai biết đến. Bây giờ ai cũng chú ý đến chữ ấy và những vấn đề quanh chữ ấy.

Cố nhiên là hiện giờ vấn đề Nam Bộ và vấn đề độc lập của Việt Nam chưa đạt được ý muốn, ta còn phải tranh thủ, ta còn phải tiếp tục cuộc đàm phán nữa”14.

Sau khi phái đoàn Chính phủ ta về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở lại Pari ít ngày. Để cứu vãn tình thế, đêm 14 rạng ngày 15-9-1946, Người đã ký với Bộ trưởng Bộ Pháp quốc ở hải ngoại M. Mutê bản Tạm ước.

Tạm ước là sự tiếp nối những kết quả trong quá trình đàm phán của đồng chí Phạm Văn Đồng và phái đoàn ta tại Hội nghị Phôngtennơblô. Nói về quá trình đi tới bản Tạm ước 14-9, trong lời tuyên bố với các nhà báo ở Hải Phòng trước khi lên tàu về Hà Nội, đồng chí Phạm Văn Đồng khẳng định: về bản thoả hiệp tạm thời này có một thứ dư luận sai lầm cho rằng trong sự ký kết bản thoả hiệp, phái đoàn Việt Nam và Hồ Chủ tịch không có liên lạc với nhau, vì phái đoàn đã về rồi thoả hiệp mới ký. Sự thật thì sau khi Hội nghị gián đoạn, phái đoàn vẫn mật thiết làm việc với Hồ Chủ tịch, và mật thiết liên lạc với Chính phủ Pháp trong sự khởi thảo và ký kết. Phái đoàn đều đã công tác và chủ trương như Hồ Chủ tịch, lúc nào phái đoàn cũng đứng sau lưng Hồ Chủ tịch"15.

Trong suốt thời gian đồng chí Phạm Văn Đồng và phái đoàn ta đàm phán tại Hội nghị Phôngtennơblô, Chính phủ và nhân dân cả nước rất quan tâm theo dõi. Ngay sau khi được tin Hội nghị đình chỉ, trong Lời kêu gọi gửi đồng bào cả nước, Trung ương Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam đã khẳng định: “Hội nghị có đình chỉ là vì phái đoàn Việt Nam tại Pháp đã theo đúng chủ trương của Chính phủ, theo đúng nguyện vọng của đồng bào: Bảo vệ chủ quyền toàn vẹn, giữ vững quốc gia thống nhất. Phái đoàn với thái độ cương quyết đã nêu cao tinh thần và ý chí độc lập của dân tộc, tỏ rõ nguyện vọng chính đáng của quốc dân"16. Nhận được tin phái đoàn đã trở về Tổ quốc, các đoàn thể, các giới, uỷ ban hành chính các cấp ở Trung Bộ và Bắc Bộ đã gửi điện về Chính phủ Trung ương chào mừng và hoan nghênh tinh thần đấu tranh của phái đoàn.

Sáng ngày 5-10-1946, tại phiên họp bất thường của Hội đồng Chính phủ, sau khi nghe đồng chí Phạm Văn Đồng bán cáo diễn biến tình hình Hội nghị Phôngtennơblô, toàn thể Hội đồng Chính phủ đã nhất trí với quyết định của phái đoàn và khen ngợi: Phái đoàn đã phấn đấu theo đúng nguyện vọng của nhân dân và chỉ thị của Chính phủ.

Về tới Hà Nội, một sự kiện quan trọng trong đời tư Phạm Văn Đồng đã diễn ra. Ngày 26-10-1946, anh xây dựng gia đình. Người bạn đời của đồng chí là cô Phạm Thị Cúc, em gái một bạn tù Côn Đảo. Chứng kiến buổi thành hôn chỉ có một số đồng chí cùng cơ quan, với hình thức đơn giản, không hoa, không tiệc tùng. Họ thuê một chiếc xe tay rước cô dâu tới nhà hàng Bôđêga trên phố Tràng Tiền, gọi là có chén rượu chúc đôi bạn hạnh phúc trăm năm17.

2. Trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam Trung Bộ

Mặc dù Hội nghị Phôngtennơblô tan vỡ, nhưng việc Chủ tịch Hồ Chí Minh dàn xếp để ký bản Tạm ước 14-9 với phía Pháp có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Tuy vậy, quan hệ giữa ta và Pháp trong cả nước vẫn căng thẳng, những hoạt động quân sự của quân Pháp ngày một gia tăng.

Cuối tháng 11-1946, quân Pháp đổ bộ lên Đồ Sơn, Cát Bà và đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn. Ngày 22-11, Tổng chỉ huy quân đội Pháp -Quyền cao uỷ Pháp ở Đông Dương đã bí mật chỉ thị cho tướng Moóclle, Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Đông Dương: “Không chậm trễ, phải triệt để khai thác vụ rắc rối ở Hải Phòng để triệt thoái các lực lượng chính quy Việt Nam và tất cả các thành phần bán quân sự, nhất là tự vệ, để quân đội ta hoàn toàn tự do chiếm đóng, không chấp nhận bất kỳ một hạn chế nào”. Thực dân Pháp ngày càng lộ rõ ý đồ muốn dùng vũ lực để đánh chiếm toàn bộ đất nước ta. Trung ương Đảng và Chính phủ nhận định: Chiến tranh sẽ lan rộng, tình thế chiến trường sẽ bị chia cắt, giao thông liên lạc giữa trung ương và các địa phương sẽ gặp nhiều trở ngại. Vì vậy, cần phải tăng cường cán bộ lãnh đạo cho các chiến trường quan trọng. Tháng 11-1946, đồng chí Phạm Văn Đồng được cử làm Đặc phái viên của Chính phủ chỉ đạo chiến trường Nam Trung Bộ18. Nhiệm vụ cụ thể được Trung ương Đảng Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh quán triệt là: “Phải quan tâm trước hết việc xây dựng các đảng bộ, xây dựng lực lượng vũ trang; động viên, tổ chức và lãnh đạo quần chúng, tăng cường đoàn kết nhân dân, củng cố và bảo vệ vùng giải phóng, đồng thời kiên trì chiến đấu và quyết tâm đánh thắng kẻ thù trên các mặt trận Nam Trung Bộ"19. Tạm chia tay với người vợ mới cưới, đồng chí Phạm Văn Đồng cấp tốc lên đường vào Nam Trung Bộ.

Sau 10 năm kể từ ngày thoát khỏi ngục tù Côn Đảo, tiếp tục phấn đấu cho lý tưởng hằng ấp ủ, đồng chí Phạm Văn Đồng trở lại quê hương với cương vị và trọng trách mới. Trong không khí thân mật và ấm cúng, tại buổi đón, đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói những lời tâm huyết: “Làm cách mạng, tham gia kháng chiến vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân là một sự nghiệp vĩ đại, không phải là một mâm cỗ được bầy sẵn. Muốn có thành quả, muốn có một mâm cỗ, mỗi người, mọi người, không phân biệt ai, phải sắn tay áo, phải cùng làm việc..Cách mạng và kháng chiến là phải bằng những công việc thực tế và kết quả thực tế, phải vào bộ đội, tham gia tự vệ, tham gia phá hoại địch, phải tăng gia sản xuất phải có trách nhiệm với công việc của mình. Có như vậy cách mạng mới thành công, kháng chiến mới thắng lợi"20. Những lời giản dị, chân tình của đồng chí đã tạo không khí hào hứng, phấn khởi trong các tầng lớp nhân dân địa phương cũng như toàn miền Nam Trung Bộ trong những năm tháng gian khổ của cuộc kháng chiến.

Sau khi tìm hiểu tình hình và bước đầu củng cố tổ chức, đồng chí Phạm Văn Đồng đã tham dự nhiều hội nghị quan trọng với Xứ uỷ, các tỉnh uỷ và Ban Cán sự Đảng Nam Trung Bộ để tìm hiểu, nghiên cứu tình hình, thảo luận kế hoạch chiến đấu và xây dựng lực lượng theo đường lối kháng chiến kiến quốc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ chính trị hàng đầu của Nam Trung Bộ được các đồng chí xác định là phải đánh thắng các cuộc hành quân của địch, giữ vững và củng cố vùng tự do, cùng cả nước quyết tâm đánh thắng chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch; phát động toàn dân thực hiện tiêu thổ kháng chiến, bổ sung lực lượng, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch; tăng cường chặn đánh địch trên các trục giao thông; thiết lập ngay một số tuyến giao thông liên lạc bí mật; tập trung xây dựng một số cơ sở ở vùng đồng bào các dân tộc ít người.

Giữa lúc việc triển khai thế trận của quân và dân Nam Trung Bộ đang tiến hành khẩn trương thì đêm 19 rạng ngày 20-12-1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi trong toàn quốc: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu Tổ quốc”. Cùng với nhân dân cả nước, quân và dân Nam Trung Bộ đã nhất tề đứng dậy cầm vũ khí đánh giặc, cứu nước. Nhiều trận chiến đấu giam chân địch, chặn đánh các cuộc hành quân của địch đã diễn ra quyết liệt ở Đà Nẵng, Quảng Nam, Tuy Hoà, Phan Thiết v.v... Tại thành phố Đà Nẵng, sau gần 40 ngày chiến đấu quyết liệt (từ 20-12-1946 đến 25-l-1947) quân và dân thành phố đã tiêu diệt hơn 1.000 tên địch, phá huỷ một số xe tăng và nhiều xe cơ giới. Sau khi đã tiêu hao nhiều sinh lực địch, lực lượng vũ trang cách mạng an toàn rút khỏi thành phố.

Cuối tháng 1-1947, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã trao tặng quân dân Mặt trận Quảng Nam Đà Năng lá cờ thêu hai chữ vàng "Giữ Vững" và Trung đoàn 96 đơn vị lập nhiều chiến công xuất sắc trong nội thành Đà Nẵng đã vinh dự được nhận lá cờ này.

Tháng 1-1947, để tăng cường trách nhiệm và quyền hạn, Trung ương Đảng đã cử bổ sung đồng chí Phạm Văn Đồng làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ngày 22-1-1947, thay mặt Trung ương Đảng, đồng chí Phạm Văn Đồng tới dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ nhất. Phát biểu ý kiến chỉ đạo Đại hội, đồng chí chỉ rõ những công việc cấp bách mà Đảng bộ Bình Định và cả Nam Trung Bộ phải tập trung sức lực, trí tuệ để thực hiện nhằm đập tan âm mưu đánh nhanh của thực dân Pháp.

Dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ đảng và chính quyền ở Nam Trung Bộ, phong trào tòng quân, tham gia tự vệ chiến đấu, bảo vệ vùng tự do diễn ra khắp các thành phố, làng mạc; triệt để thực hiện tiêu thổ kháng chiến để bao vây và ngăn chặn bước tiến quân của địch, các trục quốc lộ số 1, 14, 19 và các trục đường liên tỉnh số 4, 5, 6 bị phá nát.

Khoảng giữa năm 1947, chủ động khắc phục những khó khăn, chuẩn bị điều kiện kháng chiến lâu dài, đồng chí Phạm Văn Đồng đã kêu gọi quân dân Nam Trung Bộ thi đua tăng gia sản xuất thực hiện tự cấp, tự túc. Đồng chí đã nhiều lần lên thăm và động viên đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền Tây các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi tăng gia sản xuất. Bà con đã lập ra một số trại tăng gia và gọi là Trại Ông Đồng.Một số xưởng sản xuất giấy, dệt vải sita, xưởng sản xuất nông cụ... đã được xây dựng. Chỉ trong thời gian ngắn, Nam Trung Bộ đã cơ bản tự túc được lương thực và nhiều vật phẩm phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày.

Trong chỉ đạo công tác tiêu thổ kháng chiến, đồng chí Phạm Văn Đồng đã lưu ý các địa phương, khi phá đường xe lửa chỉ tháo gỡ tà vẹt, đường ray đưa về cất giấu; cầu cống chỉ kích sập, nền đường và các trụ cầu cần giữ nguyên để khi điều kiện cho phép có thể sử dụng được ngay. Vì vậy, đến đầu năm 1948, khi vùng tự do Nam - Ngãi Bình Phú được củng cố, tuyến đường sắt từ Quảng Nam đến Phú Yên dài hơn 300km đã được khôi phục. Việc vận chuyển bằng xe goòng được duy trì dọc khu giải phóng suốt trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp là một trong những kỳ tích của quân và dân Nam Trung Bộ.

Với vị trí chiến lược quan trọng, Tây Nguyên luôn luôn là địa bàn giành giật giữa ta và địch. Để giành Tây Nguyên, thực dân Pháp đã tiến hành nhiều cuộc hành quân đánh chiếm Lâm Viên và Đồng Nai Thượng. Chúng tăng cường đàn áp, đánh phá các cơ sở cách mạng, đẩy mạnh tuyên truyền chia rẽ dân tộc Tháng 3- 1947, Công sứ Đồng Nai Thượng đã thông tri cho chính quyền tay sai ở các địa phương trong tỉnh phải biến Tây Nguyên thành một vùng hoàn toàn thuộc quyền cai trị của Pháp, chấm dứt sự du nhập của người Việt.

Để bám đất, giành dân ở Tây Nguyên, tháng 4 – 1947, đồng chí Phạm Văn Đồng đã quyết định thành lập Phân khu 15 gồm tỉnh Kon Tum, phần Bắc tỉnh Gia Lai, phần Tây các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi; lực lượng vũ trang thuộc Phân khu cũng được tổ chức lại gồm hai đại đội 202, 204 và một số đội vũ trang do đồng chí Võ Bẩm chỉ huy. Các đơn vị này có nhiệm vụ phát triển chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, tổ chức tiến công các cứ điểm địch ở Kon Tum, Đắc Lắc, quấy rối địch trong các thành phố, thị xã vùng đồng bằng ven biển, buộc địch phải lui về phòng thủ những nơi bị tiến công.

Để củng cố địa bàn, tháng 9-1947, được sự đồng ý và uỷ nhiệm của Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng quyết định tổ chức lại Phân khu 15 gồm 5 tỉnh Tây Nguyên là Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành Khu XV Tây Nguyên. Việc tổ chức lại miền Nam Trung Bộ thành 3 khu (Khu V, Khu VI, Khu XV - Tây Nguyên) đã tạo nhiều thuận lợi cho việc lãnh đạo, chỉ huy và điều động lực lượng vũ trang.

Sau chiến thắng Việt Bắc Thu Đông năm 1947, cuộc kháng chiến của nhân dân ta có nhiều chuyển biến quan trọng. Chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp hoàn toàn bị phá sản, chúng buộc phải lui về bình định và củng cố vùng tạm chiếm. Với chiến thắng Việt Bắc, thế và lực của ta đã thay đổi căn bản.

Giữa tháng 1-1948, Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng nhận định: Bước sang năm 1948, so sánh lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi và đang ở thế giằng co. Tuy vậy địch vẫn có thể huy động được lực lượng để đẩy mạnh chiến tranh; chúng có thể tiến hành những đợt đánh phá ác liệt hơn mà trọng điểm sẽ là đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ. Năm 1948 sẽ là năm chiến tranh thực sự lan rộng trong toàn quốc. Hội nghị chỉ rõ nhiệm vụ của quân và dân ta trong năm 1948 là phải đập tan các cuộc đánh phá của địch, đẩy mạnh hoạt động ở vùng sau lưng địch, tấn công các đồn lẻ, buộc chúng phải thu hẹp vùng kiểm soát, từng bước đưa mặt trận vào sâu trong lòng địch.

Nam Trung Bộ bước sang năm 1948 cũng mang nét chung của tình hình cả nước. Chiến trường đang hình thành hai vùng rõ rệt: vùng tự do có diện tích hơn 20.000 km2 với rừng núi hiểm trở, dải đồng bằng hẹp ven biển và gần 2.000.000 dân; vùng tạm bị chiếm gồm một số địa bàn trọng yếu, một số hải cảng và một số thành phố, thị xã ven biển. Do chiến trường cả nước bị chia cắt, sự chi viện cho Nam Trung Bộ rất khó khăn Quân và dân Nam Trung Bộ phải tự nỗ lực vươn lên, vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Nhiệm vụ Trung ương đặt ra cho quân dân Nam Trung Bộ năm 1948 là:

- Đẩy mạnh hơn nữa những hoạt động chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, đánh bại kế hoạch bình định của chúng.

- Thực hiện tự cấp, tự túc, xây dựng và củng cố vùng tự do thành căn cứ địa và hậu phương vững chắc cho chiến trường.

- Phối hợp và hỗ trợ cho các lực lượng cách mạng của hai nước bạn Lào, Campuchia, xây dựng thế trận đánh địch ở vùng biên giới ba nước Đông Dương.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, nhiều công việc đã được quân và dân Nam Trung Bộ thực hiện. Tháng 2-1948, Uỷ ban kháng chiến hành chính và Ban Quân sự Nam Trung Bộ ra chỉ thị chấn chỉnh tổ chức, tăng cường chỉ đạo đối với lực lượng dân quân. Chỉ đạo thực hiện chỉ thị, đầu tháng 4-1948, đồng chí Phạm Văn Đồng đã triệu tập và chủ trì Hội nghị quân dân, chính, đảng Nam Trung Bộ để thảo luận vấn đề củng cố lực lượng vũ trang địa phương, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Ban chỉ huy quân sự đã quyết định rút một bộ phận của các trung đoàn chủ lực để thành lập lực lượng cơ động gồm 7 tiểu đoàn và 23 đại đội độc lập sẵn sàng hỗ trợ cho các chiến trường. Tiếp đó, tháng 6-1948, Hội nghị dân quân và tháng 7-1948, Hội nghị Quân sự toàn Nam Trung Bộ lần thứ hai được triệu tập. Tại các hội nghị này, đồng chí Phạm Văn Đồng đã quán triệt những nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương, từng đơn vị với những yêu cầu cụ thể, thiết thực:

- Xây dựng lực lượng dân quân du kích vững mạnh ở cả vùng dịch tạm chiếm và vùng đồng bào các dân tộc ít người; kiện toàn cơ quan lãnh đạo và chỉ huy dân quân du kích ở tất cả các cấp, đưa chiến tranh du kích vào sâu trong lòng địch.

- Phối hợp chặt chẽ những hoạt động của bộ đội chủ lực với hoạt động của dân quân du kích. Bộ đội chủ lực ở nơi nào có trách nhiệm xây dựng và dìu dắt lực lượng dân quân du kích ở nơi đó.

- Đẩy mạnh phong trào thi đua lập công, xây dựng làng chiến đấu, sản xuất vũ khí, đạn dược, tăng gia sản xuất để tự túc một phần lương thực, thực phẩm, phấn đấu đạt 300 kg lương thực đầu người.

Thực hiện Sắc lệnh số 120/SL ngày 25-1-1948 của Chính phủ về việc thành lập các liên khu trong cả nước và Huấn lệnh ngày 23-8-1948 của Tổng Chỉ huy Quân đội quốc gia, ngày 20-10-1948, đồng chí Phạm Văn Đồng đã ký và ban hành Nghị định về việc sáp nhập các Khu V, VI và XV thành Liên khu V. Bộ chỉ huy Liên khu V được thành lập gồm các đồng chí Nguyễn Thế Lâm Quyền tư lệnh; Nguyễn Chánh -Chính trị uỷ viên21. Cuối năm 1948, đồng chí Đàm Quang Trung và một đồng chí nữa được cử làm Phó Tư lệnh.

Ngày 22-l0-1948, đồng chí Phạm Văn Đồng và các đồng chí trong Uỷ ban kháng chiến Nam Trung Bộ đã tổ chức cuộc họp với Bộ Chỉ huy các Khu V, VI, XV và Bộ Chỉ huy Liên khu V, các ban chỉ huy trung đoàn và thủ trưởng các cơ quan đơn vị trực thuộc để trao đổi tình hình và bàn việc triển khai thực hiện Nghị định này.

Để tăng cường hiệu quả lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Trung Bộ đồng chí Phạm Văn Đồng đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, xây dựng vùng tự do mạnh cả về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội. Giữa năm 1947, được đồng chí Phạm Văn Đồng trực tiếp chỉ đạo, Trường Trung học bình dân Nam Trung Bộ được thành lập và khai giảng khoá đầu tiên ngày 1-10- 1947. Với tư cách đại diện Chính phủ, Hiệu trưởng danh dự, đồng chí Phạm Văn Đồng đã chủ trì lễ khai giảng và giảng bài đầu tiên với chủ đề Trung với nước, hiếu với dân. Chương trình học tập của Trường Trung học bình dân là chương trình 4 năm của bậc cao đẳng tiểu học (Thành Chung), được các cán bộ Sở giáo dục Liên khu V biên soạn rút xuống 2 năm cho phù hợp với học viên lớn tuổi. Tuy chương trình rút gọn nhưng vẫn bảo đảm số môn học và những nội dung kiến thức cơ bản.

Để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho các lực lượng vũ trang, cùng với việc thành lập Trường Trung học bình dân, Trường Trung học bình dân quân sự Liên khu V cũng được thành lập và khai giảng khoá I vào tháng 9 1948 tại cơ sở đầu tiên ở Sơn Tịnh. Trường được tổ chức thành các trung đội, đại đội, có khoảng 400 học viên. Chương trình học tập của Trường Trung học bình dân quân sự gồm các môn văn hoá (tương đương cấp II); các môn quân sự (bảo đảm học viên tốt nghiệp có thể làm tiểu đội trưởng) và các môn học về chính trị, thời sự, đường lối kháng chiến kiến quốc của Đảng và Chính phủ.

Tuy chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn (Trường Trung học bình dân từ năm 1947 đến năm 1952, Trường Trung học bình dân quân sự từ năm 1948 đến năm 1949) nhưng đa số học viên được đào tạo, bồi dưỡng tại các trường này đều trưởng thành, một số đồng chí sau này trở thành cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, tướng lĩnh trong quân đội ta.

Để đấu tranh kinh tế với địch và xây dựng kinh tế của ta, được Chính phủ cho phép, tháng 9-1947 đồng chí Phạm Văn Đồng và Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ đã quyết định phát hành Bạc tín phiếu kháng chiến với các mệnh giá 1, 5, 10, 20, 50, 100 và 500 đồng. Bạc tín phiếu không chỉ được lưu hành trong vùng tự do mà còn nhanh chóng được lưu hành ở vùng tạm bị chiếm, được dùng cấp phát tiêu chuẩn sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ. Đến năm 1948, trong vùng tự do chỉ còn bạc tín phiếu và bạc Việt Nam lưu hành, tiền Ngân hàng Đông Dương được thu đổi nộp bổ sung vào ngân quỹ Nhà nước. Cho đến nay, nhiều cán bộ, chiến sĩ, nhiều gia đình còn lưu giữ bạc tín phiếu có in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh và chữ ký của đồng chí Phạm Văn Đồng, coi đó là kỷ vật trân trọng. Cùng trong năm 1948, được sự chỉ đạo của đồng chí Phạm Văn Đồng, chi nhánh các báo Sự thật Cứu quốc, Vệ quốc đoàn được xuất bản và phát hành; Đài Phát thanh Nam Trung Bộ bắt đầu phát sóng; tác phẩm Hồ Chủ tịch - hình ảnh của dân tộc - tác phẩm đầu tiên của đồng chí Phạm Văn Đồng viết về Bác Hồ được xuất bản và phát hành đã làm cho quân dân Nam Trung Bộ phấn khởi, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng là liên lạc với lực lượng cách mạng hai nước bạn Lào và Campuchia, từng bước xây dựng thế tựa lưng nhau ở vùng ba biên giới, chi viện cho nhau cùng chiến đấu chống kẻ thù chung. Tháng 9-1948, đồng chí Phạm Văn Đồng và Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ quyết định thành lập Khu đặc biệt Hạ Lào (gồm các tỉnh Nam Lào như Atapư, Pắcxê, Xaravan)22. Cùng trong tháng 9, một số đơn vị liên quân được thành lập, một đội công tác vũ trang được cử lên xây dựng căn cứ ở Tà Ngo (Tây Quảng Nam) để tìm bắt liên lạc với các bạn Lào, trong khi lực lượng cách mạng của bạn cũng đang tìm cách bắt mối liên lạc với ta.

Ngày 1-3-1949, các đồng chí Sithon Commanđam và Khămtày Siphănđon mang thư của đồng chí Xuphanuvông gửi đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam ở Nam Trung Bộ. Đồng chí Phạm Văn Đồng, đại diện Chính phủ Việt Nam đã gặp phái đoàn Bộ Quốc phòng Chính phủ Lào độc lập do đồng chí Khămtày Siphănđon dẫn đầu để hội đàm, thoả thuận những vấn đề có tính nguyên tắc, bàn các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường hợp tác và phối hợp hành động giữa Chính phủ và quân dân hai nước. Khu đặc biệt Hạ Lào được tổ chức lại thành Khu Hạ Lào; một số đơn vị Liên quân Việt - Lào được thành lập. Đây là bước tiến quan trọng trong mối quan hệ chiến đấu Việt -Lào thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp của cả hai dân tộc23.

Cuối năm 1948 đầu năm 1949, tình hình ở Nam Trung Bộ có những thuận lợi rất căn bản, vùng tự do được xây dựng và củng cố, chiến tranh du kích đã phát triển rộng khắp trong cả vùng địch tạm chiếm, kế hoạch bình định của địch bước đầu bị thất bại, hình thế chiến trường bị chia cắt đã được giải toả, thông tin liên lạc giữa trung ương và các miền thông suốt, mọi hoạt động trên chiến trường Nam Trung Bộ đã phối hợp được với các chiến trường khác.

Trong các ngày từ 10 đến 16-1-1949, cùng với các đồng chí chính uỷ Bộ Tư lệnh Liên khu V, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung bộ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã triệu tập và chủ trì Hội nghị chính trị viên bộ đội và dân quân Liên khu lần thứ nhất. Nói chuyện tại Hội nghị, đồng chí Phạm Văn Đồng đã phân tích tình hình chung của cả nước và những đặc điểm riêng của Liên khu V. Về nhiệm vụ quân sự của Nam Trung Bộ năm 1949, đồng chí chỉ rõ: phải phát động chiến tranh du kích rộng rãi, đánh sâu vào vùng địch, nhất là Tây Nguyên, phối hợp chặt chẽ với cách mạng Lào và Campuchia, dồn hẹp phạm vi an toàn và chiếm đóng của địch. Ra sức phá hoại kinh tế và chính trị của địch, đẩy mạnh công tác vận động ngụy binh. Giữ vững vùng tự do, xây dựng lực lượng mạnh về mọi mặt. Để hoàn thành tốt những nhiệm vụ đó, cần phải giải thích sâu rộng nhiệm vụ, phương châm chiến lược, chiến thuật cho tất cả cán bộ và chiến sĩ, phải thúc đẩy cán bộ tiến về chiến thuật, phải xây dựng công tác đảng, công tác chính trị"24.

Sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ, đồng bào chiến sĩ Nam Trung Bộ và những bước phát triển của cuộc kháng chiến là niềm vui và sự khích lệ đối với đồng chí Phạm Văn Đồng. Trong niềm vui và sự khích lệ này khoảng đầu năm 1948, được sự quan tâm của Chính phủ và sự giúp đỡ của các cơ quan, địa phương, cô Phạm Thị Cúc người vợ thân yêu của đồng chí Phạm Văn Đồng vào tới Nam Trung Bộ. Đó là nguồn động viên để đồng chí càng phấn khởi công tác.

Vượt qua những thử thách trong hai năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1947 1948), từ chỗ là một chiến trường sau lưng địch, bị chia cắt với các chiến trường khác, với tinh thần tự lực tự cường, quân và dân Nam Trung Bộ đã từng bước tạo được thế đứng vững chắc, phối hợp và liên kết với những hoạt động của các chiến trường trong toàn quốc. Thắng lợi quan trọng đó đã tạo thế và lực để quân dân Nam Trung Bộ vươn lên cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từng bước đến thắng lợi. Bằng công sức và trí tuệ của mình, đồng chí Phạm Văn Đồng đã có những cống hiến xuất sắc và sáng tạo trong những thành quả chung đó.

Trong những tháng năm làm Đặc phái viên, Đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ, được sự giúp đỡ của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Ngãi, cơ quan đại diện được đặt tại nhà ông Ngô Xuân Dương, ở xã Hành Minh (nay là thị trấn Chợ Chùa), huyện Nghĩa Hành. Nhân viên cơ quan chủ yếu là do Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ và tỉnh Quảng Ngãi cử. Nhà ông Ngô Xuân Dương có địa thế thuận lợi, xa đường quốc lộ lA, có nhiều cây cối lâu năm che phủ, dễ nguỵ trang. Với nhiệt tình yêu nước, ông Ngô Xuân Dương dành cả ba gian nhà chính để đồng chí Phạm Văn Đồng tổ chức hội họp và tiếp khách; gian trái phía tây là nơi ở và làm việc của đồng chí với những đồ dùng đơn giản.

Để bảo đảm bí mật, bất ngờ, có lúc đồng chí Phạm Văn Đồng chuyển sang một cơ quan đường sắt; có lúc chuyển về nhà người anh thứ hai ở Mộ Đức; cũng có lúc chuyển xuống làm việc tại một cơ sở ở Bình Định.

Việc đi lại cũng rất đơn giản, khi dùng ngựa lúc đi xe đạp, nhiều khi đi bộ. Giao thông liên lạc thì tuỳ yêu cầu công việc mà nhờ sự giúp đỡ của các cơ quan địa phương. Đồng chí sinh hoạt chung với anh em trong cơ quan. Tuy vậy, mọi công việc đều được thực hiện khẩn trương chính xác, cụ thể và thiết thực. Tác phong làm việc và sinh hoạt của đồng chí đã tạo niềm tin yêu của cán bộ và nhân dân địa phương.

Khoảng tháng 2 1949, đồng chí Phạm Văn Đồng tạm biệt cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Nam Trung Bộ trở lại Việt Bắc nhận công tác mới ở Trung ương.

3. Thành viên Bộ Chỉ huy tối cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Trở lại Việt Bắc nhận nhiệm vụ công tác mới, đồng chí Phạm Văn Đồng được Đảng cử bổ sung là Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Ngày 25-7-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử đồng chí là Phó Thủ tướng Chính phủ. Theo Sắc lệnh số 86, ngày 2-8-1949 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao, đồng chí Phạm Văn Đồng được cử làm Phó Chủ tịch.

Bước sang năm 1950, tình hình thế giới có những chuyển biến lớn tác động đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam. Cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời làm cán cân so sánh lực lượng cách mạng và phản cách mạng thay đổi ngày càng thuận lợi cho các lực lượng cách mạng, hoà bình và tiến bộ. Hiệp ước hữu nghị liên minh tương trợ Xô -Trung (14-2- 1950) và sự ra đời của Hội đồng tương trợ kinh tế trước đó (l-1949) đã hình thành khối liên minh các nước xã hội chủ nghĩa.

Đáp lại tuyên bố ngày 14-1-1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ các nước tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và quốc gia của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, từ ngày 18-1 đến ngày 18-2 -1950, Chính phủ các nước Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân đã lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta. Thắng lợi ngoại giao ấy đã mở ra triển vọng và sự giúp đỡ to lớn, có hiệu quả cả về tinh thần và vật chất mà các nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân giành cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Nhận định rõ tình hình, chủ động trước những diễn biến mới, từ ngày 21-1 đến 3-2-1950, Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng được tổ chức để thảo luận, nghiên cứu tình hình và đề ra những chủ trương, biện pháp đưa cuộc kháng chiến lên bước phát triển mới. Hội nghị đã ra Nghị quyết Về việc chuyển mạnh sang tổng phản công những nhiệm vụ công tác lớn và cần kíp về mọi mặt, trọng tâm là tăng cường xây dựng quân đội, đẩy mạnh tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta; củng cố hậu phương, căn cứ ta; củng cố chính quyền dân chủ nhân dân; động viên thi đua ái quốc; tăng cường củng cố, xây dựng Đảng...25. Tại Hội nghị đồng chí Phạm Văn Đồng đọc báo cáoPhải kiện toàn chính quyền nhân dân để tổng phản công và kiến thiết chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam. Đồng chí đã khái quát một số nội dung về vấn đề xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân trong điều kiện vừa kháng chiến, vừa kiến quốc và khẳng định rõ: “Nhà nước Cộng hoà dân chủ Việt Nam ngày nay là một nhà nước cộng hoà nhân dân”. Tính chất giai cấp của nhà nước thể hiện ở ba nội dung cơ bản: “Là chế độ chuyên chính của nhân dân, của quảng đại quần chúng công nông dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân", “là công cụ đảm bảo sự thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, chế độ quá độ sang xã hội chủ nghĩa", “đứng trong mặt trận dân chủ thế giới do Liên Xô cầm đầu và phải nhờ cậy sức giúp đỡ của Liên Xô các nước dân chủ nhân dân để bảo vệ độc lập của mình và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân”26. Nhận thức rõ bản chất của Nhà nước đồng chí Phạm Văn Đồng nhấn mạnh chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nhà nước. Đồng chí nói: “Chế độ cộng hoà nhân dân Việt Nam nói cụ thể Nhà nước Cộng hoà nhân dân Việt Nam là một chế độ chuyên chính.

Đó là chế độ chuyên chính dân chủ của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và Việt gian. Đối với thực dân Pháp và Việt gian, đối với cái gì làm hại cuộc kháng chiến, làm hại nền độc lập của Việt Nam, nó quyết trừ diệt và dùng mọi phương pháp, mọi phương tiện để trừ diệt. Quyền chuyên chính ấy là quyền chung của nhân dân, của mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mọi người chống Pháp, nghĩa là công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản và địa chủ ái quốc. Nó tiêu biểu trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến hiện thời. Nó là sự thực hiện khối toàn dân đoàn kết, Mặt trận dân tộc thống nhất trong chính quyền và bộ máy nhà nước. Đối với quân thù, nó là chuyên chính; đối với nhân dân nó là dân chủ, nó là quyền chung, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mọi người"27.

Vấn đề có tính nguyên tắc của Đảng cầm quyền trong điều kiện vừa kháng chiến, vừa kiến quốc được đồng chí Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: đảng ta là một đảng chấp chính. Đảng ta phải dùng chính quyền và bộ máy chính quyền để thực hiện chính sách của Đảng. Đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, của các cấp uỷ, của các cán bộ, của toàn thể đảng viên. Đảng ta có sự phân công tất nhiên và cần thiết theo các ngành quân, dân, chính, đảng, nhưng phân công để chia nhau phụ trách nhiệm vụ nói trên, phân công để phối hợp”28. Quan điểm của đồng chí rất rõ ràng, Đảng phải lãnh đạo toàn diện; những quan niệm như việc chính quyền “khoán trắng cho đồng chí phụ trách chính quyền, không lãnh đạo", hoặc “tưởng lầm rằng lãnh đạo chính quyền là can thiệp vào công việc vụn vặt hàng ngày”29 đều là sai lầm, khuyết điểm. Theo đồng chí, Đảng lãnh đạo chính quyền thể hiện cụ thể ở các mặt sau đây:

“a. Trung ương lãnh đạo chính quyền về đường lối, chính sách, chủ trương lớn. Việc lãnh đạo này phải bao quát tất cả các vấn đề chính quyền để tránh thiên lệch, tránh không ăn khớp. Đảng đoàn Chính phủ trung ương căn cứ quyết nghị và chỉ thị của Trung ương lãnh đạo và điều khiển công tác Chính quyền toàn quốc của Chính phủ trung ương... toàn Đảng phải chấp hành".

"b. Cấp ủy đảng địa phương, căn cứ quyết nghị và chỉ thị cấp trên (Đảng và chính quyền) và tình hình địa phương, lãnh đạo chính quyền địa phương qua đảng đoàn chính quyền địa phương. Cấp uỷ lãnh đạo về đường lối, chủ trương. Cấp uỷ không trực tiếp can thiệp vào công tác chính quyền, công tác chính quyền một cấp đều do đảng đoàn chính quyền cấp ấy trực tiếp phụ trách"30.

Quan điểm chỉ đạo trên đây là rất cụ thể, chính xác, tới nay vẫn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao. Tháng 2-1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng được tổ chức nhằm xác định chủ trương, đường lối cho giai đoạn mới của cuộc kháng chiến, với các nhiệm vụ trọng tâm là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất hoàn toàn cho dân tộc, xoá bỏ những tàn tích phong kiến, thực hiện người cày có ruộng, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội. Tại Đại hội, bản báo cáo Mấy vấn đề cốt yếu của chính quyền dân chủ nhân dân Việt Nam của đồng chí Phạm Văn Đồng tiếp tục nêu rõ những quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng, tổ chức chính quyền nhà nước. Đồng chí cho rằng: “Muốn tổ chức một chính quyền dân chủ nhân dân thật sự, đảm bảo việc nhân dân tham dự trực tiếp, thường xuyên, có hiệu lực, chúng ta phải thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ tập trung... Chính phủ trung ương, ủy ban hành chính các cấp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trước hội đồng nhân dân cấp mình và như thế là báo cáo trước nhân dân". Cụ thể hoá nguyên tắc dân chủ tập trung, đồng chí Phạm Văn Đồng nói rõ: "Trong Quốc hội và hội đồng nhân dân, trong Chính phủ trung ương và uỷ ban hành chính các cấp, thiểu số phải phục tùng đa số... Cơ quan hành chính các địa phương phải phục tùng Chính phủ trung ương. Các cơ quan chuyên môn cấp nào phải phục tùng cơ quan chính quyền (Uỷ ban kháng chiến hành chính) cấp ấy"31.

Đại hội lần thứ II của Đảng đã bầu đồng chí Phạm Văn Đồng làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa II) họp khoảng giữa tháng 3 đầu tháng 4 - 1951 đã cử đồng chí làm Ủy viên chính thức Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, đồng thời kiêm nhiệm Bí thư Đảng đoàn của Chính phủ, Trưởng ban Kinh tế - Tài chính, Trưởng Tiểu ban Miên - Lào, thành viên Ban Tuyên huấn Trung ương32.

Theo quyết định của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, Đảng ta ra hoạt động công khai và lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội cũng quyết định thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam thành một tổ chức mặt trận thống nhất. lấy tên là Mặt trận Liên Việt; đồng thời tăng cường củng cố khối liên minh chiến đấu Việt Miên Lào.

Ngày 11-3-1951, tại Việt Bắc, Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Việt - Miên Lào đã được tổ chức theo sáng kiến của Đảng ta. Đại diện Mặt trận Liên Việt của Việt Nam, của Mặt trận Khơme Ítxarắc, của Mặt trận Lào Ítxala đã thảo luận và nhất trí việc thành lập Khối Liên minh nhân dân Việt Miên Lào theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền dân tộc; thống nhất chương trình hành động chung. Hội nghị đã nhất trí thành lập Ủy ban liên minh nhân dân Việt Miên Lào gồm các đồng chí và các vị: Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Minh Giám, Xuphanuvông, Nuhắc, Sơn Ngọc Minh, Tuxamút...

Tiếp tục những suy nghĩ về vấn đề tăng cường hiệu lực quản lý điều hành của bộ máy nhà nước, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 6 ngày Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đồng chí Phạm Văn Đồng viết bài đăng trên báo Nhân dân, ngày 2-9-1951. Đồng chí quán triệt: Kiện toàn bộ máy chính quyền phải thể hiện rõ ở các công tác lớn như:

"1. Chấn chỉnh và kiện toàn bộ máy chính quyền đúng với nguyên tắc tập trung dân chủ.

2. Chấn chỉnh bộ máy và lề lối làm việc của cấp xã.

3. Kiên quyết chống bệnh quan liêu”33.

Những quan điểm trên đây có tính lịch sử, bởi nó được hình thành trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhiều vấn đề cấp bách, những đòi hỏi của chiến trường phải nhanh chóng được đáp ứng, nhưng Đảng, Chính phủ ta và đồng chí Phạm Văn Đồng vẫn chú trọng tới việc củng cố bộ máy chính quyền nhà nước, coi đây là công tác đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc; nhiều chủ trương, biện pháp đã được đồng chí đề xuất và tổ chức thực hiện như các bộ thuộc Chính phủ được tổ chức lại, quy định về lề lối làm việc giữa Chính phủ trung ương và chính quyền các địa phương được ban hành; các quyết sách lớn về kinh tế, tài chính, văn hoá giáo dục, về thực hiện nhiệm vụ dân chủ người cày có ruộng được hoạch định và thực thi. Trong một số bài nói, bài viết như: Mấy vấn đề cấp bách về kinh tế - tài chính (1951), Mấy công tác lớn năm 1951, Bàn về kế hoạch sản xuất và tiết kiệm (1952), Báo cáo tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ kiểm điểm công tác 6 tháng cuối năm 1952, Tham luận tại Hội nghị liên tịch giữa Ban Thường trực Quốc hội và Ủy ban Liên Việt toàn quốc (2-1953) v.v.., đồng chí Phạm Văn Đồng đã cụ thể hoá một số công việc cấp bách trong công tác kinh tế tài chính như thực hiện tăng thu giảm chi, thống nhất chế độ thu chi của các cơ quan... Đồng chí giải thích: Tăng thu nghĩa là “chỗ nào tăng được thì phải tăng để bảo đảm việc cung cấp cho quân đội, cho kháng chiến ... Tăng thu không có nghĩa là chỉ chú trọng thu thuế khoá mà cần tiến hành thử việc thu đối với các doanh nghiệp quốc gia”34; “giảm chi nghĩa là chỗ nào giảm được thì giảm, giảm để dành phần cần thiết cho quân đội, cho tiền tuyến. Cái giảm được thì giảm hẳn, cái gì giảm được một phần thì giảm một phần, cái gì hoãn được thì hoãn"35. Đồng chí nhấn mạnh: Điều kiện cần thiết để thực hiện được giảm chi trước hết phải tổ chức lại bộ máy biên chế. Đồng chí nêu câu hỏi: "Căn cứ vào cái gì để quy định số người mà công quỹ phải gánh vác việc chi phí” và trả lời rõ: "Phải căn cứ vào sức đóng góp của nhân dân; phải căn cứ vào tiêu chuẩn cung cấp đã được quy định. Đó là hai giới hạn quy định số người biên chế trong các cơ quan, tổ chức"36. Mục tiêu của việc sắp xếp tổ chức được đồng chí nêu rõ là: "Kháng chiến trên hết, tiền tuyến trên hết".

Đầu năm 1953, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định mở cuộc vận động Phóng tay phát động quần chúng triệt để thực hiện giảm tô là tiến hành cải cách ruộng đất. Đường lối chung của Đảng là: Dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông, tiêu diệt chế độ bóc lột phong kiến từng bước và có phân biệt phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến. Phương châm và phương pháp tiến hành là: Phát động và tổ chức quần chúng đấu tranh từng bước, có kế hoạch có lãnh đạo chặt chẽ. Đối với các hạng địa chủ, phải căn cứ vào thái độ chính trị của họ mà tiến hành tịch thu, trưng thu, hoặc trưng mua ruộng đất. Đồng chí Phạm Văn Đồng được Đảng và Chính phủ phân công chuẩn bị và là một trong những đồng chí chỉ đạo cuộc vận động này. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tư (khoá II, tháng l-1953), đồng chí đã trình bày báo cáo (dự thảo) Cương lĩnh về chính sách ruộng đất của Đảng. Bản dự thảo được Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ năm (11-1953) thảo luận, bổ sung và trở thành Cương lĩnh ruộng đất của Đảng.

Tại cuộc họp của Hội đồng Chính phủ (đầu tháng 3- 1953) đồng chí Phạm Văn Đồng đã đọc bản báo cáo Mục đích, phương châm, kế hoạch phát động quần chúng và nhiệm vụ của chính quyền trong phát động quần chúng. Cuộc họp đã thảo luận, bổ sung và thông qua báo cáo và cụ thể hoá trong các văn bản về chính sách ruộng đất của Đảng, về công tác phát động quần chúng và trình Quốc hội. Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khoá I (12-1953), đồng chí Phạm Văn Đồng trình bày dự thảo Luật Cải cách ruộng đất. Quốc hội đã thảo luận, bổ sung và biểu quyết thông qua. Cùng với các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng chí Phạm Văn Đồng đã tham gia một số lớp tập huấn cho các cán bộ làm công tác cải cách ruộng đất. Những ý kiến trong các lớp này và trong một số bài viết, đồng chí đã có những ý kiến chỉ đạo thiết thực, sâu sát. Đồng chí đề nghị: Phải tiến hành công tác chỉnh đốn tư tưởng và tổ chức thông qua vận động Phóng tay phát động quần chúng, qua đó củng cố chính quyền ở nông thôn. Đồng chí đã nêu lên ba nhiệm vụ cụ thể là:

Một là, phải triệt để ủng hộ cuộc vận động Phóng tay phát động quần chúng triệt để thực hiện giảm tô, tiến hành cải cách ruộng đất.

Hai là, Nhà nước cần ban hành những luật pháp cần thiết quy định những điểm cụ thể về ruộng đất, hình thức xử lý những người làm trái quy định.

Ba là, lập các hình thức toà án xét xử những kẻ phạm tội.

Trong quá trình tiến hành cuộc vận động, nhiều cán bộ và quần chúng băn khoăn trong việc phân biệt giữa địa chủ yêu nước, kháng chiến với địa chủ cường hào. Đồng chí Phạm Văn Đồng giải thích: “Trước hết phải hỏi thế nào là yêu nước, kháng chiến, tiến bộ? Yêu nước không phải chỉ là yêu đất ruộng và quyền lợi của mình. Kháng chiến không phải kháng chiến suông, đóng góp chút đỉnh để nhân dân hy sinh, chiến đấu giữ ruộng đất, quyền lợi cho mình... Đó phải là sự chấp hành mọi chính sách của Chính phủ, một lòng một dạ hy sinh quyền lợi ích kỷ của mình để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến"37. Đồng chí yêu cầu phải chú trọng thái độ chính trị của các hạng địa chủ để xem xét một cách cụ thể, có tình, có lý, đúng luật pháp.

Để đối phó với tình thế thất bại hoàn toàn, mùa hè năm 1953, giới cầm quyền Pháp cử tướng Nava sang làm Tổng chỉ huy các lực lượng viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Kế hoạch Nava ra đời với ý đồ giành chiến thắng quân sự quyết định tạo cơ sở cho giải pháp chính trị để nước Pháp rút khỏi cuộc chiến tranh trong "danh dự". Kế hoạch được dự kiến tiến hành trong 18 tháng với sự nô lực cao nhất của nước Pháp và sự viện trợ của Mỹ.

Thực hiện kế hoạch Nava, thực dân Pháp đã tăng quân viễn chinh và lực lượng cơ động, ra sức bắt lính và củng cố ngụy quân. Từ mùa hè cho tới cuối năm 1953, một số chiến dịch càn quét lớn được tiến hành ở Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Khu V và Nam Bộ đánh phá ác liệt vào vùng tự do và các căn cứ kháng chiến của ta. Tháng 7-1953, chúng cho quân nhảy dù tập kích Lạng Sơn, rút quân về tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ và trấn giữ một số địa bàn xung yếu. Tháng 11-1953, chúng đổ quân xuống Điện Biên Phủ và xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm; hình thái của một trận quyết chiến, chiến lược đã hình thành.

Nhận định chính xác diễn biến tình hình và âm mưu địch, tháng 9-1953, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nghiên cứu âm mưu và kế hoạch Nava của thực dân Pháp, xác định phương hướng và nhiệm vụ chiến lược trong Đông-Xuân 1953-1954. Một kế hoạch tác chiến chiến lược đã được hoạch định với phương châm tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt; nguyên tắc chỉ đạo là đánh ăn chắc, đánh chắc thắng, tránh chỗ mạnh, đánh chỗ địch sơ hở.

Để bảo đảm yêu cầu cung cấp cho chiến trường, từ tháng 6-1953, Hội đồng Chính phủ đã quyết định thành lập Hội đồng cung cấp Mặt trậndo Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng là Chủ tịch, Tổng Thanh tra Nguyễn Văn Trân làm Phó Chủ tịch. Hội đồng cung cấp mặt trận có các thành viên là đại diện của Bộ Tài chính (kho thóc), Bộ Công Thương (mậu dịch), Bộ Lao động (dân công), Bộ Giao thông Công chính (đường sắt, vận tải), Bộ Y tế, Thứ trưởng Bộ Công an, Nha Tuyên truyền văn nghệ và Tổng cục cung cấp. Hội đồng cung cấp có nhiệm vụ chỉ đạo việc tiếp tế cho tiền tuyến của các cơ quan kho thóc, y tế, mậu dịch; lo công tác vận tải và dân công, huy động tối đa sức người, sức của cho các trận đánh lớn trên chiến trường Đông Xuân 1953-195438.

Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo cả về lực lượng và công tác hậu cần, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tổng tham mưu đã chỉ đạo việc triển khai thế trận trên chiến trường chính Bắc Bộ và trên chiến trường Lào và đông bắc Campuchia. Từ tháng 12-1953 đến tháng 1-1954, các lực lượng vũ trang ta đã giáng cho quân viễn chinh Pháp năm đòn chiến lược, vừa tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, vừa buộc địch phải phân tán lực lượng cơ động thành nhiều cứ điểm phòng ngự. Năm đòn chiến lược đó là các chiến dịch đánh địch ở Lai Châu (12-1953), ở Trung Lào (12-1953), ở Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia (12-1953-l-1954), ở Tây Nguyên (1-1954), ở Thượng Lào (l-1954). Cùng tháng 12-1953, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định mở chiến dịch tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ và cử đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng uỷ mặt trận.

Khẳng định tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của chiến dịch Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Cho Minh đã chỉ thị: "Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được"39.

Ngày 13-3-1954, tiếng súng mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu nổ. Trải qua ba đợt chiến đấu gian khổ và ác liệt, liên tục trong 55 ngày đêm, ngày 7-5- 1954, quân ta giành toàn thắng toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ đã bị tiêu diệt và bắt sống.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc oanh liệt cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954 của quân đội và nhân dân Việt Nam anh hùng; kế hoạch Nava của giới cầm quyền Pháp Mỹ hoàn toàn phá sản, cục diện chiến tranh đã xoay chuyển, tạo cơ sở cho cuộc đấu tranh của ta trên mặt trận ngoại giao.

4. Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng, Chính phủ và nhân dân ta rất chú trọng những hoạt động trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, đặc biệt là những hoạt động nhằm tăng cường đoàn kết chiến đấu giữa các lực lượng kháng chiến của hai nước anh em trên bán đảo Đông Dương.

Cách mạng Trung Quốc thành công, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đạt những thành tựu rực rỡ, cuộc chiến tranh ở Tiều Tiên chấm dứt, hoà bình lập lại trên bán đảo Triều Trên, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bước phát triển mới, cuộc đấu tranh của Đảng Cộng sản và dư luận trên bộ Pháp đòi chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương là những nhân tố tác động mạnh mẽ tới cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Cuộc Chiến tranh ở Việt Nam đã làm cho Pháp bị hao tổn ngày càng nhiều, từ năm 1946 đến năm 1953, nước Pháp đã tiêu tốn hơn 3.000 tỷ phrăng. Trên chiến trường Việt Nam lực lượng quân viễn chinh Pháp bị tiêu diệt ngày càng nhiều. Tính đến tháng 11-1952, gần 32 vạn tên địch bị tiêu diệt, thế bị động của quân viễn chinh Pháp ngày càng lộ rõ; phong trào đòi chấm dứt cuộc chiến tranh bẩn thỉu ngày càng rộ lên trong các nghị sĩ chủ hoà, đòi thương lượng trực tiếp với Chính phủ Hồ Chí Minh để chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương. Tuy vậy, giới chủ chiến như Thủ tướng Lanien, Bộ trưởng Quốc phòng Plêven, Bộ trưởng Ngoại giao Biđôn vẫn hy vọng vào việc Mỹ tăng cường viện trợ có thể giúp Pháp giành chiến thắng để đàm phán với Việt Minh trên thế mạnh. Ngày 23-11-1953, trong chuyến thị sát tình hình Việt Nam, Phó Tổng thống Mỹ R.Níchxơn tuyên bố với các sĩ quan Pháp: Trong bất cứ trường hợp nào cũng không thể đàm phán với Việt Minh. Trong khi đó, các nước lớn cũng có tính toán về lợi ích của riêng mình trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương. Trung Quốc chủ trương sớm giải quyết hoà bình cuộc xung đột ở Đông Dương để một mặt có thể ngăn chặn Mỹ mở rộng chiến tranh, bao đảm hoà bình và an ninh cho Trung Quốc và Viễn Đông, mặt khác nhân đó thể hiện vị thế của mình trong các vấn đề quốc tế, dựa vào Liên Xô để tạo thế đối trọng với Mỹ.

Tháng 3 1953, Xtalin qua đời, ban lãnh đạo mới của Liên Xô, do Khơrútxốp đứng đầu đề ra quan điểm chúng sống hoà bình giữa các chế độ chính trị khác nhau, coi việc hoà hoãn với Mỹ là trọng tâm của các chính sách đối ngoại Liên Xô mong muốn củng cố quan hệ đồng minh và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tạo thế cân bằng với Mỹ và phương Tây. Vì vậy, Liên Xô muốn giải pháp hoà bình cho vấn đề Đông Dương ngăn chặn Mỹ mở rộng chiến tranh nóng và củng cố thế hoà hoãn ở Viễn Đông.

Ngày 4-8-1953, Liên Xô gửi công hàm cho các nước lớn đề nghị triệu tập Hội nghị ngũ cường gồm Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc để nghiên cứu các biện pháp làm giam tình hình căng thẳng ở Viễn Đông. Đề nghị này chưa được Anh, Mỹ chấp nhận với lý do phản đối sự tham gia của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Liên Xô liền đề nghị triệu tập Hội nghị tứ cường (chưa có sự tham gia của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa).

Ngày 25-1-1954, Hội nghị tứ cường khai mạc tại Béclin với sự tham gia của các bộ trưởng ngoại giao Liên Xô Môlôtốp, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đalét, Bộ trưởng Ngoại giao Anh Êđen và Bộ trưởng Ngoại giao Pháp G.Biđôn. Tại phiên họp đầu tiên của Hội nghị, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đalét đưa ra ý kiến chỉ bàn vấn đề Đức và Áo, gạt bỏ việc triệu tập Hội nghị năm nước lớn có sự tham gia của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Do đoàn Liên Xô kiên trì đấu tranh, các đoàn Anh, Pháp có thái độ thực tế, đại diện Mỹ buộc phải chấp nhận việc họp Hội nghị quốc tế Giơnevơ có đại diện Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tham dự để bàn giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên và giải quyết vấn đề chiến tranh Đông Dương. Thoả thuận này được ghi trong thông báo cuối cùng ngày 18-2-1954 của Hội nghị tứ cường.

Trong bối cảnh quốc tế sau Hội nghị Bàn Môn Điếm và việc chấm dứt chiến tranh Triều Tiên, Đảng ta nhận định: "Trong lịch sử có nhiều cuộc chiến tranh do thương lượng hoà bình mà đi đến đình chiến. Chiến tranh Tiều Tiên là một thí dụ. Hơn nữa, hiện nay đường lối chung của phe ta trên thế giới là: dùng mọi cách để gây lại và tăng cường hoà hoãn quốc tế, gìn giữ và củng cố hoà bình thế giới và tình hữu nghị giữa các dân tộc"40.

Song song với chủ trương đẩy mạnh các hoạt động quân sự, đẩy mạnh cuộc kháng chiến, Đảng và Chính phủ ta đã dự định mở mặt trận đấu tranh ngoại giao với địch. Ngày 26-11-1953, trả lời phỏng vấn của báo Thuỵ Điển Expressen, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố. “Nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hoà bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà sẵn sàng tiếp ý muốn đó...

Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam...

Nếu có những nước trung lập nào muốn cố gắng để xúc tiến việc chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam bằng cách thương lượng, thì sẽ được hoan nghênh, nhưng việc thương lượng đình chiến chủ yếu là một việc giữa Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà với Chính phủ Pháp"41.

Ngày 19-12-1953, trong lời kêu gọi nhân kỷ niệm 7 năm ngày toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại lập trường trên đây. Người nói rõ: "Bởi vì thực dân Pháp cứ tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược, cho nên nhân dân Việt Nam quyết đánh mạnh hơn nữa, tiêu diệt sinh lực địch nhiều hơn nữa, quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và muốn giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hoà bình thì nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng sẵn sàng nói chuyện"42. Tuy nhiên, Người và Đảng ta đã quán triệt: "Chúng ta tuyệt đối không nên có ảo tưởng rằng hoà bình sẽ đến một cách mau chóng và dễ dàng. Hoà bình cũng như độc lập phải đấu tranh gian khổ mới giành được", kẻ địch "chỉ chịu thương lượng hoà bình khi nào chúng bị ta tiêu diệt thật nhiều sinh lực và tự nhận thấy không thương lượng hoà bình không được. Căn cứ vào lực lượng so sánh giữa ta và địch lúc này, điều kiện thương lượng hoà bình chưa chín muồi. Ta phải đẩy mạnh kháng chiến, tiêu diệt cho thật nhiều sinh lực địch hơn nữa thì địch mới chịu nhận thương lượng để giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam, tôn trọng quyền tự do, độc lập của dân tộc ta”43.

Tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo Expressen đã gây tiếng vang lớn tại Pháp và lên thế giới. Các đoàn thể nhân dân và nhiều nhà chính trị Pháp đòi Chính phủ Lanien tiến hành đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh. Dưới sức ép của dư luận, ngày 3-12-1953, Chính phủ Pháp phải tuyên bố muốn biết lập trường của phía bên kia (tức Việt Minh) bằng con đường chính thức" và tỏ ý sẵn sàng xem xét việc lập lại hoà bình, bảo đảm độc lập cho các quốc gia liên kết".

Ngày 5-3-1954, Quốc hội Pháp mở phiên họp đặc biệt bàn về vấn đề Đông Dương. Dù có sự cản trở của phái “diều hâu”, ngày 10-3-1954, Quốc hội Pháp vẫn thông qua Nghị quyết hoan nghênh việc triệu tập Hội nghị quốc tế Giơnevơ để bảo đảm hoà bình và an ninh của các quốc gia liên kết trong khối Liên hiệp Pháp.

Pháp đồng ý triệu tập Hội nghị quốc tế tại Giơnevơ khi quân ta chưa mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, tướng Nava còn đang tự hào về tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tin tưởng ở viện trợ của Mỹ và Pháp có khả năng đàm phán trên thế mạnh.

Nắm vững diễn biến tình hình thế giới và trong nước, nhận lời mời của Trung Quốc và Liên Xô, Trung ương Đảng và Chính phủ đã quyết định cử đồng chí Phạm Văn Đồng Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà tham dự Hội nghị Giơnevơ. Đây là một sự tín nhiệm rất lớn, bởi "đồng chí là một nhà cách mạng lâu năm được toàn dân ta yêu mến và tín nhiệm"44.

Để chuẩn bị tham dự Hội nghị Giơnevơ, cuối tháng 3-1954, đồng chí Phạm Văn Đồng và các thành viên trong đoàn sang Trung Quốc, sau đó sang Liên Xô để tham khảo kinh nghiệm tham dự các hội nghị quốc tế và chuẩn bị thêm tài liệu. Ngày 1-5-1954, đồng chí Phạm Văn Đồng cùng đoàn đại biểu Chính phủ ta dự lễ kỷ niệm ngày Quốc tế lao động l-5 tại Quảng trường Đỏ, ít ngày sau đoàn lên đường đi Giơnevơ.

10 giờ 20 phút ngày 4-5-1954, đồng chí Phạm Văn Đồng và đoàn đại biểu ta đến Giơnevơ. Ra đón đoàn tại sân bay có Grômưcô, Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô, Chu Ân Lai, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Nam Nhật, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và đại diện Chính phủ Thuỵ Sĩ. Phát biểu tại sân bay đồng chí Phạm Văn Đồng cảm ơn đại biểu các nước anh em và gửi lời chào Chính phủ và nhân dân Thuỵ Sĩ. Đồng chí tuyên bố. "Một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của Hội nghị Giơnevơ là vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương trên cơ sở công nhận quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam, Miên và Lào. Đó là nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông Dương, nhân dân Đông Nam Á và nhân dân toàn thế giới. Đoàn đại biểu nước Việt Nam dân chủ cộng hoà sẵn sàng đem hết sức mình để góp phần vào việc giải quyết hoà bình vấn đề Đông Dương. Đoàn đại biểu Việt Nam tin chắc rằng những cố gắng thành khẩn và có tính cách xây dựng của các nước tham gia Hội nghị Giơnevơ sẽ đem lại một giải pháp thoả đáng cho vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương và do đó đảm bảo việc duy trì hoà bình và an ninh các nước châu Á, việc làm giảm tình hình quốc tế căng thẳng và củng cố hoà bình thế giới"45.

Tham gia Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương có 9 đoàn đại biểu: Liên Xô, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Mỹ, Anh, Pháp, Việt Nam dân chủ cộng hòa, "Quốc gia Việt Nam", Vương quốc Campuchia và Vương quốc Lào.

Đại biểu các chính phủ kháng chiến Pathét Lào và Khơme Ítxarắc cũng đã có mặt ở Giơnevơ, nhưng chưa được chính thức tham gia.

Hội nghị do các trưởng đoàn Liên Xô và Anh đồng chủ tịch.

Ngày 7-5-1954, quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ đã tạo thêm tư thế và sức mạnh cho đồng chí Phạm Văn Đồng và đoàn đại biểu Chính phủ ta trong cuộc đấu tranh trên bàn Hội nghị Giơnevơ.

Chiều 8-5-1954, tại lâu đài các dân tộc, Hội nghị Giơnevơ bàn về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương khai mạc. Đồng chí Phạm Văn Đồng và đoàn đại biểu Chính phủ ta dự phiên khai mạc trong tư thế của người vừa chiến thắng, trong khi Biđôn và các thành viên của phái đoàn Chính phủ Pháp với trang phục màu đen và Thủ đô Pari của họ đang treo cờ rủ.

Ngay trong phiên họp đầu tiên, G.Biđôn Trưởng đoàn đại biểu Pháp đã trình bày lập trường của Pháp: Rút tất cả lực lượng Việt Minh về những khu vực được quy định, giải giáp lực lượng dân quân du kích, trao trả tù quân sự và dân sự, thực hiện kiểm soát quốc tế. Biđôn còn tuyên bố: "Nếu sự có mặt trong cuộc Hội nghị này của một bên đã tổ chức các lực lượng vũ trang để chống lại Quốc gia Việt Nam (tức chính quyền Bảo Đại) đã được chấp nhận như là sự cần thiết để đi tới một thoả thuận ngừng chiến sự thì sự có mặt đó không thể được giải thích là việc đó bao hàm một sự công nhận với tính chất nào đó"46. Sự thật, đây chỉ là một cách lẩn trốn vấn đề chính trị để nêu một giải pháp thuần tuý quân sự.

Đồng chí Phạm Văn Đồng, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam đã phát biểu ý kiến. Đồng chí nói: “Hội nghị này có nhiệm vụ xét đến việc đình chiến và lập lại hoà bình ở Đông Dương. Đó là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Vận mệnh của các dân tộc ở Đông Dương, hoà bình và an ninh ở Đông Nam Á và toàn châu Á, và hoà bình toàn thế giới là do việc đó quyết định”47. Đồng chí Phạm Văn Đồng đề nghị Hội nghị mời đại biểu của Chính phủ kháng chiến Khơ me Ítxarắc và Chính phủ kháng chiến Pathét Lào tham gia Hội nghị. Đồng chí nói rõ: Hai chính phủ đó được nhân dân ủng hộ, có uy tín và ảnh hưởng lớn trong toàn thể nhân dân hai nước. Sự có mặt của đại diện hai chính phủ kháng chiến Khơme và Lào là cần thiết, đây sẽ là một đảm bảo cho Hội nghị thành công48.

Lời đề nghị của đồng chí Phạm Văn Đồng chưa được Ngoại trưởng Liên Xô và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thực sự tán thành, trong khi đại biểu Mỹ và Pháp kiên quyết bác bỏ. Chủ tịch phiên họp là Ngoại trưởng Anh đề nghị gác vấn đề lại và tuyên bố nghỉ họp.

Việc đại biểu “ba quốc gia liên kết” là “Quốc gia Việt Nam", Vương quốc Campuchia và Vương quốc Lào có được tư cách thành viên chính thức, trong khi đại biểu Pathét Lào và Khơme Ítxarắc không được tham dự Hội nghị là một khó khăn cho đoàn Chính phủ ta. Với thành phần 9 bên, hai phía: Phía đối phương 6 bên, phía ta 3 bên; trong khi Liên Xô, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là hai đồng minh lớn tuy ủng hộ cuộc kháng chiến và lập trường đàm phán của Việt Nam, nhưng cũng có những tính toán riêng, quan điểm đánh giá cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước Lào, Campuchia và liên minh chiến đấu Việt-Miên-Lào có những điểm khác Việt Nam đã tạo nên một số vấn đề không trùng hợp. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, đồng chí Phạm Văn Đồng và các đại biểu ta phải đấu trí với 6 bên.

Trong phiên họp thứ hai (l0-5-1954), Trưởng đoàn đại biểu "Quốc gia Việt Nam" Nguyễn Quốc Định đề nghị ưu tiên giải quyết việc thả tù binh bị thương ở Điện Biên Phủ. Đồng chí Phạm Văn Đồng tuyên bố: Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà sẵn sàng để phía Pháp nhận các tù binh bị thương và giao cho đại diện hai bộ tổng tư lệnh thảo luận các biện pháp giải quyết tại chỗ. Trưởng đoàn Pháp Biđôn rất tán đồng ý kiến này.

Trong bài phát biểu tại phiên họp, đồng chí Phạm Văn Đồng tuyên bố: Lập trường trước sau như một của nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là: “Hoà bình, độc lập, thống nhất và dân chủ. Đó là nguyện vọng căn bản và quyền lợi thiêng liêng của nhân dân Việt Nam”49. Đồng chí khẳng định rõ việc thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là thành quả của quá trình đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống phát xít Nhật – Pháp. Những chính sách nội trị và ngoại giao của Chính phủ là nhằm củng cố nền độc lập dân tộc, thực hiện hoà bình, chính giới thực dân Pháp phải chịu trách nhiệm về chiến tranh Đông Dương. Đồng chí nói: "Bọn can thiệp Mỹ và bọn người Pháp chủ trương đánh đến cùng hiện nay là những trở lực chính của việc chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Đông Dương"50. Con đường lập lại hoà bình ở Đông Dương là: "Nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng như nhân dân và Chính phủ kháng chiến Khơme và Pathét Lào sẵn sàng giải quyết bằng cách thương lượng vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương trên cơ sở công nhận những quyền dân tộc của các dân tộc Đông Dương độc lập và thống nhất quốc gia, tự do dân chủ và do đó tạo điều kiện thiết lập những quan hệ thân thiện giữa các dân tộc ở Đông Dương và nước Pháp trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng quyền lợi của nhau. Con đường đó là con đường bảo đảm việc lập lại một nền hoà bình bền vững và lâu dài ở Đông Dương trên tinh thần công bình và danh dự, con đường duy nhất đảm bảo thật sự hoà bình và an ninh của các nước ở Đông Nam Á và châu Á góp phần một cách có hiệu quả vào việc làm cho tình hình thế giới bớt căng thẳng, giữ vững và củng cố hoà bình thế giới"51.

Để Hội nghị thảo luận một cách thiết thực, đồng chí Phạm Văn Đồng đã đưa ra đề nghị 8 điểm:

"l. Pháp công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia.

2. Ký một Hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi Việt Nam, Campuchia và Lào trong thời hạn do các bên tham chiến ấn định. Trước khi rút quân, đạt thoả thuận về nơi đóng quân của lực lượng Pháp hay Việt Nam trong một số khu vực hạn chế.

3. Tổ chức tổng tuyển cử tự do trong ba nước nhằm thành lập chính phủ duy nhất cho mỗi nước.

4. Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố sẽ xem xét việc gia nhập Liên hiệp Pháp và những điều kiện của việc gia nhập đó. Các Chính phủ Campuchia và Lào cũng sẽ ra những bản tuyên bố tương tự.

5. Việt Nam dân chủ cộng hoà, Campuchia và Lào thừa nhận các quyền lợi kinh tế văn hoá của nước Pháp trong ba nước. Sau khi các Chính phủ duy nhất được thành lập, các quan hệ kinh tế và văn hoá được giải quyết theo đúng các nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi.

6. Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh.

7. Trao đổi tù binh.

8. Các biện pháp nói trên sẽ được thực hiện sau khi đình chỉ chiến sự; Pháp và ba nước Đông Dương ký những Hiệp định về từng nước trên cơ sở:

a. Ngừng bắn trên toàn Đông Dương và đồng thời với việc điều chỉnh các lãnh thổ và khu vực mà các bên chiếm giữ.

b. Ngừng việc đưa bộ đội mới, vũ khí và đạn dược vào Đông Dương.

c. Thiết lập một hệ thống kiểm soát gồm các uỷ ban liên hợp có đại diện của các bên tham chiến"52.

Trong 8 điểm đề nghị trên, thì điểm 1 và 2 thuộc về những vấn đề có tính nguyên tắc: Nước Pháp phải công nhận chủ quyền và độc lập của nước Việt Nam trên khắp lãnh thổ Việt Nam, công nhận chủ quyền và độc lập của hai nước Khơme và Lào; quân đội ngoại quốc phải rút hết khỏi Đông Dương trong một thời hạn do hai bên thoả thuận. Việc thống nhất quốc gia Việt Nam, Campuchia và Lào sẽ thông qua tổng tuyển cử tự do ở mỗi nước, các nước ngoài không được can thiệp.

Về vấn đề Liên hiệp Pháp, đồng chí Phạm Văn Đồng nói rõ: Chính phủ Việt Nam cũng như hai Chính phủ kháng chiến Khơme và Pathét Lào sẵn sàng xét vấn đề gia nhập Liên hiệp Pháp theo nguyên tắc tự nguyện và xét những điều kiện gia nhập. Về quan hệ giữa ba nước Đông Dương và nước Pháp, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng như Khơme và Pathét Lào sẽ tôn trọng những quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp hiện nay ở những nước đó. Những quan hệ đó sau này phải được thành lập theo nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi.

Bản đề nghị 8 điểm do đồng chí Phạm Văn Đồng đưa ra về việc chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương thể hiện rõ tính công bằng, hợp lý, cụ thể và thiết thực. Bản đề nghị đó xuất phát từ tình hình thực tế ở Đông Dương và thế giới, góp phần làm cho tình hình thế giới bớt căng thẳng. Đề nghị đó càng có giá trị sau khi quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ; thể hiện rõ nguyện vọng, ý chí hoà bình của nhân dân và Chính phủ Việt Nam cũng như của nhân dân và Chính phủ kháng chiến Khơme và Pathét Lào, phù hợp với hoà bình và an ninh của nhân dân các nước châu Á và thế giới.

Đối với những đề nghị ngày 8-5 của Biđôn, đồng chí Phạm Văn Đồng vạch rõ đó là quan điểm thực dân đã lỗi thời, không phù hợp với tình hình ở Đông Dương và thế giới, chứng tỏ Chính phủ Pháp không muốn lập lại hoà bình ở Đông Dương và muốn quốc tế hoá chiến tranh Đông Dương" theo kế hoạch của Mỹ. Vì thế không thể lấy đó làm nền tảng để thảo luận.

Bài phát biểu của đồng chí Phạm Văn Đồng được đoàn đại biểu Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, dư luận báo chí ở Giơnevơ rất hoan nghênh. Trước những dẫn chứng cụ thể, những đề nghị hoàn toàn hợp lý của ta, đại biểu Mỹ và Pháp cố tìm cách bác bỏ, nhưng không dám tuyên bố công khai.

Trong ba ngày là 18 và 19-5-1954, Hội nghị Giơnevơ tiến hành ba phiên họp kín. Cùng thời gian, hai đoàn đại biểu Việt Nam và Pháp đã cử đại biểu gặp nhau bàn về vấn đề chuyển tù binh Pháp bị thương ở Điện Biên Phủ.

Ngày 21-5-1954, Hội nghị Giơnevơ họp kín. Theo đề nghị của đồng chí Môlôtốp, Hội nghị quyết định nghiên cứu những vấn đề chính trong các đề nghị của Đoàn đại biểu Việt Nam và Đoàn đại biểu Pháp. Đó là: vấn đề ngừng bắn cùng một lúc trên toàn cõi Đông Dương; vấn đề ngừng chuyên chở thêm quân đội và vũ khí vào Đông Dương; vấn đề kiểm soát cùng một lúc việc thi hành Hiệp định đình chiến do một uỷ ban gồm đại biểu các nước trung lập và một uỷ ban gồm đại biểu của hai bên tham chiến; vấn đề các nước tham gia Hội nghị Giơnevơ bảo đảm các việc trên. Sau khi bàn những vấn đề quân sự sẽ nghiên cứu những đề nghị liên quan đến việc giải quyết vấn đề chính trị ở Đông Dương.

Đề nghị của đồng chí Môlôtốp về trật tự thảo luận vấn đề Đông Dương đã được các đoàn chấp thuận. Các báo chí cũng như các nhà quan sát ở Giơnevơ cho rằng đó là một bước tiến của Hội nghị.

Trong phiên họp thứ sáu (ngày 25-5-1954), đồng chí Phạm Văn Đồng đưa ra hai nguyên tắc cho vấn đề đình chiến: Một là ngừng bắn hoàn toàn, đồng thời, càng sớm càng tốt trên toàn cõi Đông Dương; Hai là, điều chỉnh vùng trong mỗi nước, trong từng chiến trường trên cơ sở đổi đất để bảo đảm mỗi bên có những vùng hoàn chỉnh và tương đối rộng, đủ điều kiện cho hoạt động kinh tế và quản lý hành chính trong mỗi vùng. Đồng chí nói rõ: Phía Việt Nam đồng ý lập một Uỷ ban kiểm soát gồm đại biểu của hai bên có liên quan và một Uỷ ban kiểm soát gồm đại biểu các nước trung lập để kiểm soát cùng một lúc sự thi hành những điều khoản của Hiệp định đình chiến. Việt Nam cũng đồng ý về việc các nước tham gia Hội nghị cùng cam kết đảm bảo những điều ước của Hội nghị.

Trong phiên họp ngày 2-5-1954, Trưởng đoàn Pháp Biđôn đồng ý lấy đề nghị của Việt Nam dân chủ cộng hoà làm cơ sở thảo luận, đồng thời đề nghị đại diện bộ chỉ huy hai bên gặp nhau để bàn việc điều chỉnh các khu vực đóng quân, nhưng phía Pháp vẫn chưa đưa ra một đề nghị cụ thể nào và vẫn để lộ ý đồ tách việc ngừng bắn ở Việt Nam với việc ngừng bắn ở Campuchia và Lào.

Trong phiên họp ngày 27-5-1954, Hội nghị đã nhất trí thông qua một bản đề nghị dung hoà do đoàn đại biểu Anh đưa ra. Đề nghị này căn cứ vào những đề nghị của Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam trong các phiên họp trước. Nội dung bản đề nghị gồm các điểm sau:

a. Đại biểu của hai bộ chỉ huy quân sự hai bên cần gặp nhau tại Giơnevơ và đồng thời ở Đông Dương.

b. Các đại biểu này sẽ nghiên cứu việc sắp đặt khu vực đóng quân cho hai bên sau khi đình chiến, bắt đầu là vấn đề quy định khu vực đóng quân ở Việt Nam.

c. Các đại biểu phải báo cáo kết quả công việc và những đề nghị của mình cho Hội nghị biết càng sớm càng tốt.

Ngày đại biểu hai bộ chỉ huy quân sự hai bên gặp nhau được ấn định là trước ngày 1-6-195453.

Trong phiên họp ngày 31-5-1954, đoàn đại biểu Liên Xô đề nghị thành phần Uỷ ban các nước trung lập gồm Ấn Độ, Pakítxtan, Ba Lan, Tiệp Khắc. Đề nghị đó được các đoàn đại biểu Trung Quốc và Việt Nam ủng hộ. Đại biểu Mỹ và Pháp từ chối việc mời Ba Lan và Tiệp Khắc vì cho rằng hai nước này không phải trung lập.

Phê phán lại các quan niệm trên trong phiên họp ngày 2-6-1954, đồng chí Chu Ân Lai cho rằng, không thể lấy chế độ chính trị làm tiêu chuẩn xét vấn đề trung lập vì như thế sẽ không có nước nào là nước trung lập. Một nước không thuộc về chế độ chính trị này thì thuộc về chế độ chính trị khác. Đồng chí cho rằng đề nghị của Liên Xô là rất thích đáng.

Phát biểu tại phiên họp, Đồng chí Phạm Văn Đồng chỉ rõ nhiệm vụ của mỗi Uỷ ban và mối quan hệ giữa hai Uỷ ban đó. Đồng chí nói: nhiệm vụ của Uỷ ban hỗn hợp là thi hành Hiệp định đình chiến và trông coi việc điều chỉnh các khu vực đóng quân. Trách nhiệm đó chủ yếu phải do nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và nước Pháp gánh vác. Nhiệm vụ chính của Uỷ ban các nước trung lập là kiểm soát việc đình chỉ chuyên chở quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược từ ngoài vào. Việc kiểm soát đó phải thi hành ở cả ba nước Đông Dương. Quan hệ giữa Uỷ ban hỗn hợp và Uỷ ban trung lập là quan hệ hợp tác, không bên nào lệ thuộc bên nào”54. Quan điểm này được các đại biểu Liên Xô, Trung Quốc đồng tình, trong khi các đại biểu Mỹ, Anh, Pháp đều chủ trương Uỷ ban hỗn hợp phải phụ thuộc vào Uỷ ban trung lập.

Đồng thời với các phiên họp của Hội nghị, bắt đầu từ 2-6-1954, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu và Đại tá Hà Văn Lâu, đại biểu của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã họp với đại biểu Bộ Chỉ huy Quân viễn chinh Pháp để nghiên cứu việc điều chỉnh khu vực đóng quân của hai bên sau khi ngừng bắn và vấn đề chọn giới tuyến quân sự tạm thời; các đại biểu Việt Nam đề nghị lấy vĩ tuyến 13, còn phía Pháp khăng khăng đòi lấy vĩ tuyến 20.

Sau 4 phiên họp toàn thể và 12 phiên họp kín, ngày 8-6-1954, Hội nghị Giơnevơ bàn về vấn đề Đông Dương họp phiên toàn thể thứ năm, các đại biểu Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam đều phát biểu ý kiến.

Trong bài phát biểu của mình, Đồng chí Phạm Văn Đồng đã điểm lại tình hình một tháng thảo luận và đưa ra đề nghị mới: “Đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hoà yêu cầu bắt đầu thảo luận ngay, không chậm trễ các vấn đề chính trị như: Việc quân đội ngoại quốc rút khỏi Đông Dương; việc nước Pháp thừa nhận chủ quyền và độc lập thật sự của Việt Nam và các nước khác ở Đông Dương; các mối quan hệ giữa Việt Nam và nước Pháp (gồm các vấn đề về quyền lợi kinh tế và văn hoá cũng như những vấn đề có liên quan đến việc nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gia nhập Liên hiệp Pháp và những điều kiện của việc liên quan đó)55. Trong khi các trưởng đoàn Liên Xô, Trung Quốc biểu thị sự đồng tình thì các trưởng đoàn Mỹ, Pháp vẫn chỉ tuyên bố tán thành suông việc đình chiến ở Đông Dương, không tích cực tiếp nhận đề nghị của Việt Nam để mau chóng thực hiện đình chiến. Còn trưởng đoàn Anh Êđen lại nêu ý kiến chủ trương lấy đại diện 5 nước Ấn Độ, Pakixtan, Inđônêxia, Mianma, Xrilanca vào Ủy ban kiểm soát trung lập, đồng thời có những lời phát biểu không đúng đắn về quân tình nguyện Việt Nam ở Lào và Campuchia, phụ hoạ với quan điểm sai trái của các đại biểu quốc gia Việt Nam, Vương quốc Lào và Vương quốc Campuchia.

Song song với những bất đồng ý kiến về thành viên Uỷ ban kiểm soát trung lập là những bất đồng về vấn đề xác định giới tuyến quân sự tạm thời và vùng tập kết của các lực lượng kháng chiến Campuchia và Lào. Căn cứ vào thế và lực của ta trên chiến trường, đồng chí Phạm Văn Đồng và các đại biểu kiên trì đấu tranh đòi lấy vĩ tuyến 13 làm giới tuyến, đòi các lực lượng kháng chiến Campuchia và Lào phải có vùng tập kết lực lượng. Trong khi đó, với sự hậu thuẫn của các đại biểu Mỹ, Anh, phía Pháp khăng khăng đòi lấy vĩ tuyến 20, đòi các lực lượng kháng chiến Campuchia và Lào giải giáp tại chỗ, không có vùng tập kết.

Đồng chí Phạm Văn Đồng đã phát biểu phê phán các quan điểm trên và khẳng định: Những đề nghị của đoàn đại biểu Việt Nam là xuất phát từ thực tế, dựa trên sự tôn trọng những quyền lợi chính đáng của tất cả những bên liên quan và rất nhất trí với đề nghị của đồng chí Môlôtốp về việc tiếp xúc thẳng giữa Việt Nam và Pháp để thảo luận vấn đề chính trị. Đồng chí cho rằng, song song với những cuộc họp của đại biểu quân sự hai bên cần có những cuộc họp chính trị cùng một kiểu như thế. Mặt khác, hội nghị cần luân phiên thảo luận cả vấn đề quân sự và chính trị. Như thế mới có thể thực hiện nhiệm vụ của Hội nghị Giơnevơ là giải quyết tất cả những vấn đề cần thiết cho việc lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Trong lúc cuộc đàm phán ở Giơnevơ chưa đạt được bước tiến thiết thực nào thì sự chuyển biến tình hình và những hoạt động xung quanh Hội nghị đã tác động mạnh đến cuộc đàm phán.

Ngày 12-6-1954, Chính phủ Pháp do Lanien đứng đầu đổ, Chính phủ mới do Măngđét Phrăngxơ đứng đầu lên thay. Ngày 19-6-1954, Măngđét Phrăngxơ tuyên bố trước Quốc hội Pháp, trong vòng một tháng nghĩa là đến ngày 20-7 nếu không giải quyết được vấn đề chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương, Chính phủ của ông sẽ từ chức. Lời tuyên bố này như một tối hậu thư đe dọa làm tan vỡ Hội nghị Giơnevơ.

Ngày 20-6-1954, Hội nghị tạm dừng để các trưởng đoàn về nước báo cáo. Đồng chí Phạm Văn Đồng ở lại Giơnevơ và tiến hành một số cuộc họp với các Phó Trưởng đoàn và chỉ đạo các thành viên tham dự cuộc họp các tiểu ban.

Cùng thời gian này đã diễn ra các cuộc gặp giữa Chu Ân Lai với đoàn Chính phủ Vương quốc Campuchia (20-6), với đoàn Chính phủ Vương quốc Lào (21-6), với Thủ tướng Pháp Măngđét Phrăngxơ tại Bécnơ (23-6); cuộc gặp cấp cao Anh - Mỹ tại Oasinhtơn (29-6) âm mưu hất cẳng Pháp để nhảy vào Đông Dương. Những diễn biến phức tạp trong quan hệ quốc tế đã tác động không nhỏ tới Hội nghị Giơnevơ.

Từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, tại Liễu Châu (Trung Quốc) đã diễn ra cuộc gặp giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai. Hai bên đã “trao đổi quan điểm toàn diện về Hội nghị Giơnevơ, về vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương và các vấn đề có liên quan", trong đó có các vấn đề về tập kết quân ở hai miền, quan điểm của Trung Quốc về giới tuyến quân sự tạm thời, về thời hạn tổng tuyển cử thống nhất đất nước, về khu vực tập kết của các lực lượng kháng chiến Lào, Campuchia...

Trước khi hội nghị toàn thể họp lại, đồng chí Phạm Văn Đồng đã có nhiều cuộc tiếp xúc riêng với các đoàn. Ngày 8-7-1954 diễn ra cuộc hội đàm giữa đồng chí Phạm Văn Đồng và Môlôtốp, giữa đồng chí Phạm Văn Đồng với hai thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trương Văn Thiên và Lý Khắc Nông, ngày 14-7-1954 đồng chí Phạm Văn Đồng hội đàm với Môlôtốp và Chu Ân Lai. Từ ngày 11 đến ngày 13-7-1954, đồng chí Phạm Văn Đồng và Măngđét Phơrăngxơ có 3 cuộc gặp gỡ. Ngày 16-7-1954, Măngđét Phrăngxơ và đồng chí Phạm Văn Đồng gặp nhau lần thứ tư. Qua những cuộc gặp gỡ, hội đàm những diễn biến phức tạp trong quan hệ quốc tế ngày càng bộc lộ.

Phải đến cuộc gặp ngày 20-7-1954 giữa Môlôtốp, Êđen, Chu Ân Lai, Măngđét Phrăngxơ và Phạm Văn Đồng mới cơ bản thoả thuận được những vấn đề bất đồng. Để Hội nghị có thể kết thúc, đồng chí Phạm Văn Đồng và đoàn ta đã có nhân nhượng: Chấp nhận việc lấy vĩ tuyến là làm giới tuyến quân sự tạm thời, thời hạn tổng tuyển cử là 2 năm; lấy 2 tỉnh Phong Sa Lỳ và Sầm Nưa làm vùng tập kết của quân đội Pathét Lào và bộ đội tình nguyện Việt Nam ..

Sau 75 ngày thương lượng căng thẳng, với 8 phiên họp toàn thể và nhiều phiên họp hẹp giữa các trưởng đoàn, đêm ngày 20 rạng sáng ngày 21-7-1954, tại trụ sở Hội quốc liên cũ ở Giơnevơ, phiên họp toàn thể cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ đã kết thúc; các bản Hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Lào, Campuchia được ký kết.

Các nước tham gia Hội nghị đã ký bản Tuyên bố chung.

Phát biểu trong phiên họp bế mạc, đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định: "Việc ký kết các Hiệp định đình chiến ở Đông Dương là một thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam, nhân dân các nước Đông Dương, nhân dân Pháp, nhân dân châu Á và nhân dân các nước yêu chuộng hoà bình. Kết quả tốt đẹp của Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương một lần nữa chứng tỏ rằng mọi việc tranh chấp quốc tế và những cuộc xung đột nghiêm trọng nhất đều có thể giải quyết được bằng thương lượng"56. Thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đồng chí cảm ơn tất cả các nước tham dự Hội nghị, nhân dân và chính phủ các nước yêu chuộng hoà bình đã góp phần mang lại kết quả của Hội nghị. Đồng chí Phạm Văn Đồng bày tỏ: "Đối với nước Pháp là một nước nổi tiếng và những truyền thống tự do, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà hết lòng mong muốn đặt những quan hệ tin cậy lẫn nhau và thân thiện với nhau, đó là điều cần thiết giải quyết các vấn đề căn bản trong việc lập lại hoà bình ở Đông Dương. Chúng tôi muốn đặt quan hệ kinh tế và văn hoá với nước Pháp trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên đều có lợi57. "Chúng tôi sẽ thi hành thẳng thắn và triệt để tất cả các điều ước và hiệp định mà chúng tôi đã ký. Chúng tôi hy vọng rằng các bên tương quan cũng sẽ làm như thế. Tất cả chúng ta đều cần phải duy trì và củng cố hoà bình trên đất nước chúng ta... Chúng tôi sẽ giành được thống nhất cũng như chúng tôi đã giành được thắng lợi trong chiến tranh. Không một sức mạnh nào trên thế giới, trong nước hay ngoài nước, có thể làm chúng tôi đi chệch ra ngoài con đường tiến tới thống nhất bằng hoà bình và dân chủ. Đó sẽ là bước hoàn thành nền độc lập của chúng tôi"58 .

Phát biểu với các nhà báo sau khi ký các văn kiện Hội nghị Giơnevơ, đồng chí Phạm Văn Đồng tâm sự: "Tôi chưa biết chúng tôi sẽ giải thích như thế nào cho các đồng chí chúng tôi ở miền Nam... Người Mỹ đến Giơnevơ với kế hoạch của họ. Chúng tôi đến Giơnevơ với kế hoạch của chúng tôi. Họ không muốn có Hội nghị Giơnevơ thay cho một cuộc ngừng bắn, họ muốn có một cuộc chiến tranh mở rộng với sự can thiệp của Mỹ. Nhưng các bạn thấy đó, chúng tôi đã đạt được một cuộc ngừng bắn và các bạn sẽ thấy chúng tôi sẽ thống nhất đất nước chúng tôi. Không có một chính phủ nào có thể được duy trì ở miền Nam, dù nó có viện trợ ào ạt của Mỹ, nếu chính phủ đó công khai chống lại công cuộc thống nhất đất nước"59.

Ngày 24-7-1954, trước khi rời Giơnevơ lên đường về nước, đồng chí Phạm Văn Đồng đã phát biểu với giới báo chí: những hiệp định đình chiến đã được ký kết, đó là điều rất tốt, nhưng như thế chưa phải là mọi việc đã xong. Còn cần phải thi hành những hiệp định đó và phải thi hành đúng. Tình hình chính trị và quân sự rất phức tạp, vì vậy chúng tôi phải gấp rút về nước vì còn phải làm nhiều việc nữa"60. Trả lời phỏng vấn của phóng viên hãng Thông tấn Pháp, đồng chí Phạm Văn Đồng nói: “Tôi mong rằng ông sẽ nói lại với nước Pháp, với dư luận nhân dân Pháp rằng điều chính trong sự ký kết cũng như trong sự thi hành những hiệp định là lòng tin cậy giữa hai dân tộc chúng ta giữa các ông, những người Pháp và chúng tôi, nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Nếu chúng ta thi hành đúng hiệp định, nếu chúng ta thi hành một cách chân thành thì mọi việc đều tốt đẹp. Chúng ta đã đặt những mối quan hệ tốt giữa hai nước chúng ta và đó là cơ sở của chính sách chúng tôi"61.

Ngày 26-7-1954, đồng chí Phạm Văn Đồng cùng đoàn đại biểu Chính phủ ta dừng chân ở Mátxcơva và đến đặt hoa trước lăng Lênin và lăng Stalin.

Ngày 2-8-1954, đoàn đến Bắc Kinh (Trung Quốc). Trước sự tiếp đón long trọng, nhiệt tình của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc, đồng chí Phạm Văn Đồng đã phát biểu: "Nhân dân Việt Nam tin rằng trong cuộc đấu tranh để củng cố hoà bình lâu dài ở Đông Dương, để bảo vệ hoà bình ở châu Á và thế giới cũng như trong cuộc đấu tranh chống mọi mưu mô gây chiến, nhân dân Việt Nam sẽ được sự đồng tình và sự ủng hộ của nhân dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, nhân dân các nước trong phe hoà bình dân chủ do Liên Xô đứng đầu cũng như của nhân dân yêu chuộng công lý và hoà bình trên toàn thế giới"62.

Trong những ngày dừng chân ở Bắc Kinh, đồng chí Phạm Văn Đồng đã cùng đoàn đại biểu Việt Nam đến thăm Viện Bảo tàng Bắc Kinh, đến chào các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc. Ngày 3-8-1954, đồng chí Phạm Văn Đồng đã hội đàm với các đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tối 3-8-1954, tại Hoà Bình Tân quán, Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc mở tiệc chiêu đãi đồng chí Phạm Văn Đồng và đoàn đại biểu Việt Nam. Một số đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, các đại sứ đại diện ngoại giao các nước Liên Xô, Ấn Độ, Mianma, Inđônêxia, Đan Mạch, Phần Lan, Hà Lan đã đến dự. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã đọc diễn văn ca ngợi tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam Trung Quốc, cám ơn sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Giơnevơ đã thể hiện rõ đồng chí Phạm Văn Đồng và các thành viên trong đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao phó; những nguyên tắc cơ bản là độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, hoà bình, dân chủ luôn được Đoàn ta giữ vững.

Với tư duy thực tế, căn cứ tình hình khách quan và tương quan lực lượng ta và địch, trong thương lượng, chúng ta đã có một số nhân nhượng cần thiết về giới tuyến quân sự tạm thời, về thời hạn tổng tuyển cử, về giải quyết vấn đề đình chiến ở Campuchia và Lào. Sự nhân nhượng ấy không khỏi làm một số cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhất là cán bộ chiến sĩ và đồng bào miền Nam suy tư, nhưng hoàn cảnh và điều kiện khách quan không thể quyết định khác được. Tại Hội nghị Trung ương lần sáu (khoá II), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quán triệt: “Dùng lối nói chuyện thì phải nhân nhượng nhau đúng mức". Người nói rõ: "Những tư tưởng sai lầm có thể xảy ra như sau: “tả”khuynh có người thấy thắng luôn muốn đánh bừa, đánh đến cùng, họ chỉ thấy cây không thấy rừng; chỉ thấy Pháp rút mà không thấy âm mưu của chúng; chỉ thấy Pháp không thấy Mỹ”.

Khi cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã có mức độ quốc tế hoá khá cao và đang nằm trong bối cảnh của cuộc chiến tranh lạnh giữa phe xã hội chủ nghĩa và phe đế quốc, việc ký kết Hiệp định Giơnevơ đã đẩy lùi một bước sự can thiệp trực tiếp của đế quốc Mỹ vào Đông Dương. Nói chính xác hơn, là làm chậm lại quá trình can thiệp của Mỹ, tạo điều kiện để quân dân ta có thời gian củng cố lực lượng, tạo thế sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới chống lại kẻ thù mạnh hơn, nguy hiểm hơn. Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định lại: Việc ta tham dự và ký kết Hiệp định Giơnevơ là một cuộc "hưu chiến” nhằm tránh việc "đụng đầu trực tiếp ngay với Mỹ”. Bài học tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, linh hoạt, mềm dẻo trong việc xác định đường lối, chủ trương, sách lược cách mạng ở thời điểm này không bao giờ cũ.

Ngày 4-8-1954, đồng chí Phạm Văn Đồng và đoàn đại biểu Chính phủ ta về tới Việt Bắc trong sự chào đón nồng nhiệt của Trung ương Đảng, Chính phủ và đồng bào, chiến sĩ.

___________

1. Báo La Republique có trụ sở tại số nhà 48, phố Quang Trung, Hà Nội, do đồng chí Lưu Văn Lợi làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Tham gia làm báo còn có các đồng chí và các vị Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu, Trần Đình Thọ ... Báo ra hai tuần một kỳ, số 1 ra ngày 15-10-1945.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 26-27.

3. Sđd, t. 8, tr. 27.

4. Tại kỳ họp này Ban Thường trực Quốc hội khóa I được bầu gồm các đồng chí và các vị: Nguyễn Văn Tố, Phạm Văn Đồng, Lê Thị Xuyến, Hoàng Minh Giám, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Chi, Hoàng Văn Đức, Dương Đức Hiền, Nguyễn Trọng Nhâm, Đàm Quang Thiện, Dương Văn Dư, Cung Đình Quỳ, Trịnh Quốc Quang, Nguyễn Tấn Gi Trọng, ba Ủy viên dự khuyết là Nguyễn Văn Luyện, Phạm Bá Trực, Yngông Niếcđam. Trưởng ban Thường trực Quốc hội là cụ Nguyễn Văn Tố.

5. Đoàn gồm: Phạm Văn Đồng (Trưởng đoàn), Tôn Đức Thắng (Phó Trưởng đoàn); các thành viên là Trần Ngọc Danh, Đỗ Đức Dục, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Luận, Trịnh Quốc Quang, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Hoàng Tích Trí.

6. Theo Sắc lệnh số 81/SL ngày 29-5-1946, Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến hành cuộc đàm phán với Chính phủ Pháp do Nguyễn Tường Tam – Bộ trưởng Ngoại giao làm Trưởng đoàn, nhưng lấy lý do sức khỏe, Nguyễn Tường Tam đã từ chối nhiệm vụ. Đồng chí Phạm Văn Đồng được Chính phủ cử làm Trưởng đoàn, với các thành viên: Phan Anh, Trịnh Văn Bỉnh, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Huyên, Bửu Hội, Huỳnh Thiện Lộc, Dương Bạch Mai, Chu Bá Phượng, Đặng Phúc Thông, Phạm Khắc Hòe, Hoàng Minh Giám.

7. Báo Cứu quốc, số 225, ngày 1-6-1946.

8. Báo Cứu quốc, ngày 7-7-1946đưa tin phiên khai mạc và cho biết, tham dự lễ khai mạc còn có Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Pháp quốc ở hải ngoại M. Mutê, Cao ủy Pháp ở Đông Dương Đácgiăngliơ, Phó quận trưởng quận Seine và một số nhân viên Tòa thị chính quận. Nhiều Việt kiều mặc đồng phục, cầm cờ đỏ sao vàng chứng kiến lễ khai mạc.

9. Dẫn theo Lưu Văn Lợi: Ngoại giao Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, 2004, tr. 75.

10. Báo Cứu quốc, số 356, ngày 25-9-1946.

11. 14 điều trong bản ghi nhớ gồm ba vấn đề chính là: Bảo đảm lợi ích kinh tế, văn hóa Pháp ở Việt Nam; bảo đảm Việt Nam là quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp; tổ chức trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất Nam Bộ trong lãnh thổ Việt Nam.

12, 13. Báo Cứu quốc, số 346, ngày 15-9-1946.

14. Báo Cứu quốc, số 347, ngày 16-9-1946.

15, 16. Báo Cứu quốc, số 348, ngày 5-10-1946.

17. Báo Cứu quốc, số 349, ngày 6-10-1946.

18. Hồi ký của Phạm Văn Đồng, viết cho gia đình. In trong Phòng tiếp khách phía Tây, Sđd, tr. 107 và Hồi ký của đồng chí Nguyễn Kim Cương, người cùng hoạt động trong những năm 1926-1929 và cùng bị tù ở Côn Đảo.

19. Do tình hình khẩn trương, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định cử đồng chí Phạm Văn Đồng phải vào Nam Trung Bộ gấp. Ngày 17-10-1947, Người ký sắc lệnh số 263/SL-M chính thức cử đồng chí Phạm Văn Đồng làm Đặc phái viên của Chính phủ tại Nam Trung Bộ.

20. Tài liệu của Bộ Tư lệnh Quân khu V. Xem Khu V – 30 năm chiến tranh giải phóng, t.1: Kháng chiến chống thực dân Pháp, Bộ Tư lệnh Quân khu V xuất bản, 1986, tr. 79.

21. Tư liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Ngãi.

22. Tháng 1 – 1949, Liên khu V thực hiện chế độ chính ủy, đồng chí Nguyễn Chánh được cử làm Chính ủy Liên khu.

23. Ban Chỉ huy Khu đặc biệt Hạ Lào gồm các đồng chí: Trần Công Khanh – Khu trưởng, Thu Sơn – Khu phó, Nguyễn Chính Cầu – Chính trị ủy viên.

24. Tại cuộc hội đàm này, ta và bạn thỏa thuận Khu Hạ Lào đặt dưới quyền lãnh đạo của đại diện Chính phủ Lào về mọi mặt. Ta chỉ giữ vai trò cố vấn. Đại diện Chính phủ Lào là đồng chí Khămtày Siphănđon; Khu trưởng là đồng chí Sithon Commađam, đồng chí Đoàn Huyên được cử làm cố vấn quân sự, đồng chí Nguyễn Chính Cầu làm cố vấn chính trị.

25. Biên bản Hội nghị chính trị viên Liên khu V lần thứ nhất. Xem Khu V – 30 năm chiến tranh giải phóng, Sđd, tr. 151.

26. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 197-219.

27. Sđd, t. 11, tr. 181.

28. Sđd, t. 11, tr. 183.

29. Sđd, t. 11, tr. 190.

30. Sđd, t. 11, tr. 191.

31. Sđd, t. 11, tr. 193-194.

32. Sđd, t. 12, tr. 232-233.

33. Xem Sđd, t. 12, tr. 521-522, 525-527.

34. Báo Nhân dân, số 23, ngày 2-9-1951.

35. Báo Nhân dân, từ số 7 đến số 12, từ ngày 7-4 đến 14-6-1951.

36. Tlđd.

37. Tlđd.

38. Báo Nhân dân, số 98, từ ngày 6 đến ngày 10-3-1953.

39. Biên bản họp Hội đồng Chính phủ năm 1953. Tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tr. 78-79.

40. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, tr. 429.

41. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 555.

42. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr. 168-169.

43. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr. 192.

44. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 556.

45, 46. Báo Nhân dân, số 183, từ ngày 9 đến ngày 11-5-1954.

47. Philippe Devillers et Jean Lacouture, Vietnam: De la guerre francaise à la guerre américaine, Editions du Seunil, Paris, 1969, tr. 166.

48, 49. Lời tuyên bố của đồng chí Phạm Văn Đồng trong phiên họp đầu tiên tại Hội nghị Giơnevơ, ngày 8-5-1954, Báo Nhân dân, số 184, ra ngày 12 đến ngày 15-5-1954.

50, 51, 52, 53. Báo Nhân dân, số 185, từ ngày 16 đến ngày 18-5-1954.

54. Báo Nhân dân, số 191, từ ngày 4-6 đến ngày 6-6-1954.

55. Báo Nhân dân, số 192, từ ngày 7-6 đến ngày 9-6-1954.

56. Báo Nhân dân, số 194, từ ngày 13-6 đến ngày 15-6-1954.

57. Báo Nhân dân, số 208, từ ngày 25-7 đến ngày 27-7-1954.

58. Tlđd.

59. Tlđd.

60. U. Bớcset: Hồi ký, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986, tr. 269.

61. Báo Nhân dân, số 211, từ ngày 4-8 đến ngày 6-8-1954.

62. Báo Nhân dân, số 212, từ ngày 6-8 đến ngày 10-8-1954.