Chương IV: Khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế - văn hóa (5-1954 – 1960)

Cập nhật lúc 14h46  -  Ngày 08/06/2017

share facebookgửi emailin bài này

Chương IV 

KHÔI PHỤC KINH TẾ, CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA,

BƯỚC ĐẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - VĂN HÓA  (5-1954 – 1960 )

 I – ĐẢNG BỘ TỈNH LÃNH ĐẠO ỔN ĐỊNH TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ, KHÔI PHỤC KINH TẾ (5-1954 – 1957)

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954) của quân dân ta đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (20-7-1954), hòa bình được lập lại ở Đông Dương, Cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới, có đặc điểm nổi bật là đất nước bị tạm thời chia cắt 2 miền: Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà.

Tháng 7-1954, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) họp Hội nghị lần thứ 6 đã đề ra 3 nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta là: tranh thủ và củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong cả nước; tăng cường lực lượng quân đội nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân mạnh mẽ và thích hợp với yêu cầu của tình hình mới; tiếp tục thực hiện người cày có ruộng, ra sức phục hồi sản xuất, chuẩn bị điều kiện kiến thiết nước nhà 1).

Cụ thể hóa nghị quyết trên, Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 9-1954) chỉ rõ nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt của miền Bắc là hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế quốc dân.

Sau ngày hòa bình lập lại, nhân dân các dân tộc Tuyên Quang từng bừng trong niềm vui chiến thắng, đóng góp hàng vạn ngày công làm cầu, đường, giúp đỡ các cơ quan trung ương về tiếp quản những vùng mới giải phóng, tiếp quản thủ đô Hà Nội. Từ tháng 3 đến tháng 8-1954, tỉnh tiếp tục hoàn thành đợt 4 và đợt 5 phát động quần chúng giảm tô ở 46 xã. Phục vụ tốt việc thực hiện Hiệp đinh Giơnevơ, trong những tháng cuối năm 1954 nhân dân góp 17.791 ngày công xây dựng 106 ngôi nhà, cung cấp hơn 5 tấn thịt, 27 tấn rau, đỗ các loại, chuẩn bị cho việc trao trả 3.000 tù, hàng binh.

Đảng bộ và nhân dân Tuyên Quang bắt tay thực hiện công cuộc khôi phục kinh tế, chuẩn bị điều kiện phát triển kinh tế có kế hoạch trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn.

Về kinh tế, do tác động của chiến tranh, hơn 2.000 mẫu ruộng bị bỏ hoang, sản xuất lương thực thấp kém. Vụ mùa năm 1954 thiên tai, sâu bệnh làm mất trắng 2.313 ha lúa, sản lượng lúa trong năm hụt 6.000 tấn so với các năm trước. Nạn đói, rách chưa được khắc phục triệt để nay lại càng trầm trọng hơn 2). Trình độ sản xuất, dân trí thấp kém.

Về chính trị, tư tưởng trong thời kỳ chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa kịp thời với nhiệm vụ mới; chưa thấy rõ tình hình gay go, phức tạp của cuộc chiến tranh cách mạng trong điều kiện có hòa bình nên có tư tưởng chủ quan, thỏa mãn, đề cao thuận lợi, muốn được nghỉ ngơi sau chiến tranh. Tình hình cán bộ, đảng viên của tỉnh có biến động. Cấp ủy, ủy ban hành chính các cấp đều thiếu cán bộ 3).

Trên lĩnh vực an ninh, trật tự, địch có nhiều hoạt động phá hoại việc thực hiện Hiệp định Giơnevơ, gây mất ổn định tình hình trật tự, trị an.

Trước tình hình đó, Đảng bộ tỉnh đã tiến hành một đợt sinh hoạt chính trị. Các cơ sở tổ chức tuyên truyền thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, học tập Lời kêu gọi ngày 22 -7-1954 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lời kêu gọi của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 25-7-1954, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) và Nghị quyết của Bộ Chính trị về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng. Sau đợt sinh hoạt chính trị, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức rõ hơn về tình hình, nhiệm vụ, những khó khăn, thuận lợi của gai đoạn cách mạng mới.

Đầu năm 1955, Hội nghị kiểm điểm công tác lãnh đạo sản xuất năm 1954 đã tiến hành học tập Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chỉ thị ngày 3-11-1954 của Ban Bí thư Trung ương về việc chống đói, phòng đói và phục hồi sản xuất, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc phát động phong trào thi đua sản xuất, tiết kiệm. Hội nghị chỉ rõ một số nhận thức sai lầm trong nhân dân: Không muốn sản xuất nhiều vì phải đóng thuế nhiều; nản lòng trước những khó khăn về giống, thủy lợi, nông cụ. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho sản xuất kém phát triển.

Hội nghị vạch rõ: Cách mạng đã giành được thắng lợi cơ bản, hòa bình được lập lại, không thể để cho nhân dân bị đói, rách. Phải kiên quyết đẩy mạnh sản xuất để chống đói, phòng đói, cải thiện dân sinh, góp phần bảo đảm cung cấp và phát triển kinh tế để củng cố vững chắc miền Bắc, ủng hộ miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ, những phần tử thực dân Pháp phản động, và bọn tay sai Ngô Đình Diệm phá hoại hiệp định đình chiến, kiên trì thực hiện thống nhất đất nước, hoàn thành độc lập và dân chủ cho dân tộc. Tỉnh phát động phong trào thi đua sản xuất, tiết kiệm mùa xuân năm 1955 nhằm mục tiêu phòng đói, chống đói, cải thiện dân sinh, thực hiện một phần nội dung của công cuộc chống Mỹ xâm lược, vận động nhân dân đẩy mạnh tăng năng suất lúa, hoa mầu, tổ chức tốt việc cứu đói, “coi cứu đói như cứu hỏa”, kết hợp vận động sản xuất với vận động chống địch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam.

Trung tuần tháng 7-1955, Tỉnh ủy họp Hội nghị (mở rộng) học tập nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa II), kiểm điểm công tác lãnh đạo và xây dựng kế hoạch công tác năm 1955. Hội nghị xác định những nhiệm vụ trọng yếu trước mắt sau:

Một là, đẩy mạnh mọi mặt công tác để góp phần vào việc củng cố miền Bắc. “Trọng tâm là khôi phục kinh tế, chủ yếu là khôi phục sản xuất nông nghiệp, trong sản xuất nông nghiệp chủ chốt là sản xuất lương thực”.

Hai là, tiếp tục đấu tranh để thi hành đúng đắn hiệp định đình chiến. Công việc trước mắt là chống địch dụ dỗ, cưỡng ép di cư, đấu tranh để lập lại quan hệ bình thường Bắc – Nam và mở hội nghị hiệp thương để bàn về tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà.

Ba là, tiếp tục củng cố Đảng và bồi dưỡng, giáo dục đảng viên sau giảm tô; tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng đồng thời tích cực củng cố chính quyền và các tổ chức quần chúng.

Hội nghị chỉ rõ: Phải ra sức phục hồi sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, nâng cao mức sản xuất để áp đứng nhu cầu ngày càng cao của mọi mặt công tác, nâng cao mức sống của nhân dân, lấy phục hồi sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất lương thực làm trọng tâm. Cần tăng cường công tác lãnh đạo kinh tế, tài chính về chính sách, nghiệp vụ, làm cho nhân dân, cán bộ, đảng viên thấy rõ tính chất quan trọng và điều kiện, khả năng phát triển kinh tế, tài chính kinh tế của địa phương, từ đó có quyết tâm cao trong thực hiện. Về sản xuất nông nghiệp cần nhận rõ và khai thác hợp lý sức mạnh, thuận lợi của tỉnh về đất đai, vốn rừng, sức lao động, dựa vào lực lượng nhân dân để giải quyết những khó khăn trong phong trào sản xuất. Khắc phục tư tưởng ỷ lại, sợ khó, sợ khổ của cán bộ, đảng viên. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển sản xuất với các công tác khác. Củng cố các cơ quan lãnh đạo sản xuất, chú ý phát triển nghề phụ, chăn nuôi, phát triển phong trào làm thủy lợi, trồng hoa mầu, cây công nghiệp ngắn ngày, vận động đồng bào vùng cao “hạ sơn” làm ruộng. Công tác lãnh đạo cần chú ý nghiên cứu tập quán sản xuất của từng vùng mà có sự chỉ đạo thích hợp; chú ý giúp dân về vốn, giống, kỹ thuật sản xuất, điều hòa nhân công...

Chú ý điều chỉnh công, thương nghiệp tư doanh, khuyến khích và giúp đỡ công, thương nghiệp phát triển đúng hướng. Giúp đỡ các cơ sở làm đường, mật, nông cụ tăng chất lượng, giảm giá thành sản phẩm. Nghiên cứu, hướng dẫn sản xuất vôi, gạch để phục vụ kiến thiết cơ bản... Tổ chức cho nhân dân học tập chính sách phát triển công, thương nghiệp và chính sách thuế công, thương nghiệp. Chuẩn bị đủ lực lượng hàng hóa để đảm bảo bình ổn giá cả. Khuyến khích và giúp đỡ phát triển khai thác lâm sản. Sửa chữa, khôi phục các tuyến đường giao thông. Thực hiện tăng thu, tiết kiệm chi, chống tham ô, lãng phí, thu đúng, thu đủ thuế nông nghiệp và thuế công, thương nghiệp.

Tập trung xây dựng Đảng về tư tưởng, tổ chức. Chú ý việc bồi dưỡng ý chí chiến đấu, nâng cao trình độ lý luận, chính trị, tư tưởng và đạo đức, phẩm chất cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Kiện toàn các cấp ủy đảng và ban chuyên môn, củng cố chi bộ sau phát động quần chúng giảm tô.

Hội nghị cũng chỉ rõ: Chúng ta cần hỗ trợ tích cực công tác khôi phục, củng cố miền Bắc. Trong đó, phục vụ công tác giảm tô và cải cách ruộng đất ở các tỉnh là một việc lớn. Phải đẩy mạnh tuyên truyền thắng lợi của công tác này, động viên tinh thần quần chúng, ổn định tư tưởng nhân dân, tranh thủ  sự đồng tình và ủng hộ của quần chúng để đẩy mạnh sản xuất.

Hội nghị còn nhấn mạnh: Cần động viên toàn Đảng, toàn dân tăng cường củng cố lực lượng vũ trang, tham gia xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh để sẵn sàng đối phó với mọi tình thế; làm tốt công tác đấu tranh chống các hoạt động gây phỉ, hoạt động gián điệp, tổ chức đặc vụ của địch để đảm bảo an toàn hậu phương.

Quán triệt các nghị quyết của Trung ương, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ do Tỉnh ủy đề ra, các cấp, các ngành tổ chức, hướng dẫn nhân dân đấu tranh chống âm mưu, hoạt động phá hoại của địch giữ vững và củng cố sự ổn định chính trị, an ninh trật tự xã hội.

Nhằm phá hoại việc thi hành Hiệp định Giơnevơ chia cắt lâu dài đất nước ta, ngay sau khi chiến tranh vừa chấm dứt, kẻ địch đã dấy lên chiến dịch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào, nhất là những người theo đạo Thiên chúa di cư vào Nam. Ở Tuyên Quang, bon phản động và tay sai của đế quốc từ các tỉnh miền xuôi lên đã lợi dụng lòng sùng đạo, tình cảm quê hương, khó khăn về kinh tế của một số gia đình giáo dân, chúng tung ra các luận điệu lừa bịp, đe dọa như “Chúa đã vào Nam”, “đời sống dưới xuôi sướng hơn” “Chính phủ Việt Nam cấm đạo”, “Mỹ sẽ ném bom nguyên tử xuống miền Bắc” để lôi kéo, dụ dỗ giáo dân về xuôi; từ đó thực hiện tiếp bước thứ hai là dụ dỗ, cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam. Vì vậy, việc vạch trần âm mưu thủ đoạn đó, là một cuộc đấu tranh chính trị gay gắt và cấp bách. Ở thời kỳ đầu, do đánh giá, nắm bắt chưa trúng âm mưu, hoạt động của địch, biện pháp đấu tranh chưa thích hợp, nên đã có 175 gia đình với 544 nhân khẩu về xuôi. Luận điệu phản tuyên truyền của địch đã gây tâm lý căng thẳng trong đồng bào công giáo.

Trước tình hình đó, tháng 12 -1954, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị “về việc chống âm mưu dụ dỗ, bắt ép đồng bào công giáo vào Nam”, chỉ rõ cho các địa phương, các ngành coi công tác này là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết, Chỉ thị vạch rõ phương châm đấu tranh của ta là: kiên quyết, chủ động, nhẫn lại, lâu dài. Cuộc đấu tranh chống địch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào công giáo hồi cư về quê cũ, di cư chuyển sang giai đoạn hai, kiên quyết và mang tính quần chúng rộng rãi. Nhiều đoàn cán bộ được cử xuống các vùng trọng điểm, thực hiện “ba cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) với nhân dân, kịp thời nắm bắt tình hình, xây dựng, cốt cán cho cơ sở. Các địa phương trong toàn tỉnh đều kiên quyết vạch trần âm mưu của địch trước nhân dân, tích cực tuyên truyền, thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Chính phủ, vận động nhân dân tăng gia sản xuất, giảm bớt khó khăn về kinh tế, đồng thời vận động, tranh thủ các chức sắc của tôn giáo làm công tác tuyên truyền, ổn định tư tưởng đồng bào, kiên quyết trấn áp những phần tử xấu.

Tích cực và khẩn trương, mềm dẻo nhưng kiên quyết, chúng ta đã phá tan âm mưu của địch hòng dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào công giáo hồi cư về quê cũ, hoặc di cư. Hơn 300 gia đình có ý định về xuôi đã yên tâm ở lại xây dựng quê hương mới. Tình hình các xứ đạo được ổn định. Đồng bào yên tâm sản xuất, tin tưởng vào Đảng, Chính phủ.

Trong năm 1955, tỉnh đã tăng cường lực lượng, tiến hành củng cố an ninh, trật tự ở vùng giáp ranh với Cao Bằng, Hà Giang. Từ năm 1953, trong quần chúng có dư luận về một số tàn quân phỉ từ Cao Bằng, Hà Giang dạt về cấu kết với các phần tử bất mãn tại các xã Đà Vỵ, Côn Lôn (Na Hang) chống đối chính quyền nhân dân. Tỉnh và Liên khu Việt Bắc đã kịp thời đưa bộ đọi, công an, cán bộ lên tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ; trấn áp những phần tử chống đối. Do nặng tư tưởng trấn áp cộng với những thiếu sót trong tổ chức thực hiện, đoàn tiễu phỉ đã đề nghị bắt tràn lan. Năm 1954 có tới 373 người bị khai báo nằm trong tổ chức phỉ, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo xã, huyện và cán bộ của đoàn tiễu phỉ. Từ Đà Vỵ, việc truy tìm tổ chức phỉ lan sang Côn Lôn, Thúy Loa, Đức Xuân, Thượng Hà, (Thượng Lâm và Khuôn Hà hiện nay), Thượng Nông, Lăng Can... gây tâm lý hoang mang trong cán bộ, nhân dân, ảnh hưởng lớn tới tư tưởng quần chúng, khối đoàn kết dân tộc và công tác của các xã. Khắc phục tình hình này, tháng 7-1955 tỉnh đề nghị Liên khu Việt Bắc cho tạp dừng công tác tiễu phỉ ở Na Hang. Tháng 8-1955, tỉnh thành lập Ban công tác tiễu phỉ ở Na Hang. Cán bộ, bộ đội, công an vừa coi trọng tuyên truyền, vận động đồng bào tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống, vừa tổ chức cho đồng bào học tập đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ, thận trọng thu thập tin tức, xác minh các đối tượng nghi vấn.

Qua các bước công tác, chúng ta có đủ cơ sở kết luận không có tổ chức phỉ ở Na Hang. Thực chất “tổ chức phỉ” là do các phần tử bất mãn, bon buôn bán thuốc phiện, bon chống đối chính quyền ở địa phương đã phao tin, đồn nhảm nhằm dễ bề thực hiện âm mưu đen tối của chúng. Đoàn tiễu phỉ đã củng cố chứng cứ, đề nghị cho bắt 5 đối tượng buôn bán thuốc phiện, có án giết người, có hoạt động chống đối chính quyền, gây chia rẽ dân tộc. Cán bộ, nhân dân bị tố cáo sai được minh oan. Tình hình các xã đi vào ổn định. Chính quyền cơ sở được củng cố, quần chúng tin tưởng vào Đảng, Chính phủ và chính quyền sở tại, đã tích cực tăng gia, sản xuất, cải thiện đời sống.

Song song với công tác chống âm mưu phá hoại của địch, tỉnh còn tổ chức những đợt vận động chính trị lớn. Tháng 3-1955, Hội nghị đại biểu các dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp xã hội được triệu tập để học tập chính sách mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng ta lãnh đạo. Hội nghị đã bầu ra 22 người vào Ban vận động tổ chức Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc và Đại hội Mặt trận của tỉnh. Từ tháng 3 đến tháng 11-1955, Ban này đã tiến hành công tác ở 46 xã, tổ chức 200 buổi nói chuyện và gần 600 cuộc tiếp xúc với quần chúng, vừa tuyên truyền Cương lĩnh mới của Mặt trận, vừa giải quyết các thắc mắc của nhân dân, vận động đồng bào đấu tranh chống mọi âm mưu phá hoại hòa bình của địch; tăng gia sản xuất để cứu đói, chống đói.

Tháng 9-1955, Đại hội Mặt trận Liên Việt toàn quốc họp tại Hà Nội, quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Sau 8 tháng chuẩn bị, Đại hội Mặt trận của tỉnh tổ chức từ ngày 25 đến ngày 30-11-1955, với sự tham ra của 150 đại biểu. Đại hội đã bầu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Tuyên Quang gồm 24 người, đại diện cho các thành phần dân tộc, các tầng lớp nhân dân, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân. Trong tháng 12-1955, các huyện, thị cũng tiến hành xong việc tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp. Thành công của Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp đã tăng cường khối đoàn kết dân tộc, góp phần ổn định tư tưởng nhân dân.

Theo quy định của Hiệp định Giơnevơ, tháng 7-1955, hai miền Bắc và Nam Việt Nam (theo giới tuyến quân sự tạm thời) sẽ tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử. Nhưng đế quốc Mỹ âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, nên chúng ngày càng can thiệp sâu vào Việt Nam; chúng cùng bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ, phá hoại công cuộc hòa bình thống nhất đất nước.

Thực hiện chủ trương của Đảng, từ cuối năm 1954 nhân dân Tuyên Quang sôi nổi tham gia các hoạt động đòi đối phương phải thi hành Hiệp định  Giơnevơ. Tháng 2-1955, tỉnh phát động phong trào đấu tranh chống đối phương và tay tay sai vi phạm Hiệp định Giơnevơ, phá hoại hòa bình Đông Dương. Ngày 7-3-1955, Tỉnh ủy Tuyên Quang ra Chỉ thị số 7/CT – TQ chỉ đạo các cấp, các ngành tổ chức cuộc vận động đòi lập lại quan hệ bình thường hai miền Bắc – Nam. Tiếp đó, tỉnh phát động phong trào phản đối Mỹ âm mưu mở hội nghị khối Đông nam Á tại Băng Cốc (Thái Lan). từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1955, toàn tỉnh đã thu thập hơn 10.000 bản kiến nghị về chống vũ khí nguyên tử, 80.435 người (72% dân số) đã ký kiến nghị đòi cấm bom nguyên tử. Phong trào đấu tranh đòi mở hội nghị hiệp thương, lập lại quan hệ Nam – Bắc diễn ra mạnh mẽ. Cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc rằng: Cách mạng nước ta đã chuyển sang thời kỳ mới, kẻ thù chính của chúng ta  lúc đó là đế quốc Mỹ xâm lược, nhiệm vụ của ta là phải tiếp tục kiên trì đấu tranh thống nhất đất nước. Từ nhận thức đó để khắc phục một số biểu hiện sai lầm trong nhận thức tư tưởng như sợ Mỹ, sợ chiến tranh hạt nhân sẽ nổ ra, nóng vội, tả khuynh, đòi dùng ngay hình thức đấu tranh quân sự để thống nhất đất nước, không nhận thức đầy đủ yêu cầu của giai đoạn đấu tranh thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình, bằng vận động chính trị...

Song song với việc ổn định tình hình chính trị, tư tưởng, củng cố an ninh trật tự, an toàn xã hội, tỉnh đẩy mạnh công tác cứu đói, chống đói, phục hồi sản xuất, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân.

Đầu năm 1955, 170 cán bộ và bộ đội đã xuống các xã, thôn thực hiện chương trình vận động cứu đói. Tỉnh đã trưng vay 32 tấn lương thực, 32 vạn đồng, cung cấp 32 nghìn thước vải để cứu trợ cho các gia đình bị đói rách. Nhân dân tự nguyện đóng góp, giúp đỡ nhau 10 tấn thóc, 3 tấn mầu và 16 vạn đồng. Trong vụ đói giáp hạt tháng 8 năm 1955, bên cạnh việc trưng vay, cứu trợ, tỉnh mở các điểm bán gạo ở những xã có nạn đói, bán cho nhân dân trên 53 tấn gạo, thu mua lâm thổ sản để dân có tiền mua lương thực.

Biện pháp cơ bản mang tính chiến lược để chống đói là vận động nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Tỉnh ủy xác định, nhiệm vụ quan trọng, lâu dài của chúng ta là: “Ra sức phục hồi kinh tế, tài chính, trọng tâm là phục hồi nông nghiệp, chủ chốt là sản xuất lương thực, hàn gắn vết thương chiến tranh, đảm bảo cung cấp nhu cầu quốc gia, dần dần nâng cao mức sống nhân dân” 4).

Bên cạnh việc nhân dân tích cực khai hoang, phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp, Nhà nước đã cố gắng hỗ trợ vốn để nhân dân mua sắm giống, nông cụ. Trong năm 1955, các quỹ tín dụng đã cho nhân dân vay trên 52 triệu đồng. Vụ đông xuân 1954 – 1955, vượt lên khó khăn, thiên tai, toàn tỉnh đã cấy được 15.621 mẫu lúa, trồng được 14.919 mẫu hoa mầu; kết quả sản lượng quy ra thóc đạt 13.608 tấn.

Vụ mùa năm 1955, sản xuất nông nghiệp bị hạn hán, sâu bệnh nặng. Trong 106 xã đã có 8.763 mẫu (chiếm 13% tổng diện tích gieo cấy) bị hạn, lụt, sâu bệnh, thiệt hại về sản lượng ước khoảng 4.000 tấn. Các huyện Sơn Dương, Na Hang bị thiệt hại nặng nhất, mất trên 23% sản lượng.

Quyết tâm cứu từng ruộng lúa, giành thắng lợi trong vụ mùa, nhân dân khắp nơi tích cực phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai. Kết quả là toàn tỉnh đã làm mới và sửa chữa được 1.249 mương, phai, cọn tưới nước cho 9.439 mẫu lúa. Đê Sầm Dương được hoàn thành tu sửa với độ dài 2.109 m, ngăn lụt cho 109 mẫu ruộng. Hơn 2 vạn mẫu ruộng (1/3 tổng diện tích gieo cấy) được tưới, tiêu nhờ các công trình thủy lợi; hàng vạn người tham gia diệt sâu, chuột, bảo vệ lúa và hao mầu. Bên cạnh việc chống thiên tai, nhân dân toàn tỉnh đã khai hoang, phục hóa 671 mẫu ruộng, gieo cáy 64.700 mẫu lúa; đồng thời với phát triển gieo trồng thì chăn nuôi cũng được chú ý phục hồi và phát triển. Ở các xã Trung Môn (Yên Sơn), Bằng Cốc (Hàm Yên), Hào Phú (Sơn Dương)... tính bình quân mỗi gia đình có 2-3 con trâu.

Cùng với sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh tế khác cũng được khục hồi nhanh chóng. Thị xã Tuyên Quang, các thị trấn, nhiều tuyến đường được phục hồi, sửa chữa. Công, thương nghiệp phát triển. Tổng thu thuế công thương nghiệp và bán lâm sản vượt mức chỉ tiêu. Giá trị sản lượng khai thác lâm sản đạt tương đương 14.567 tấn thóc.

Với những cố gắng to lớn, tới cuối năm 1955 về cơ bản, tỉnh đã khắc phục được nạn đói, đời sống nhân dân và tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đi vào ổn định.

Góp phần khôi phục kinh tế và tiếp bước vào xây dựng miền Bắc, năm 1955, Đảng bộ tỉnh đã điều động 650 cán bộ, đảng viên đi làm công tác giảm tô và cải cách ruộng đất ở các tỉnh bạn. Hơn 10 ngàn công nhân tham gia hai đợt khai thác gỗ làm tà vẹt đã sản xuất được 60.000 thanh tà vẹt, trên 2.000 m3 gỗ cầu (nhóm tứ thuyết) đảm bảo quy cách kỹ thuật phục vụ việc phục hồi tuyến đường sắt Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai.

Từ năm 1956, công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế được đẩy mạnh. Đảng bộ tỉnh xác định: Phải gia sức giáo dục, động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân các dân tộc đoàn kết, phấn đấu thực hiện tốt kế hoạch nhà nước; đẩy mạnh việc cải thiện, nâng cao dần đời sống của nhân dân, góp phần củng cố miền Bắc vững mạnh, tiến lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Nhiệm vụ cụ thể của công tác khôi phục kinh tế hiện nay là: Tiếp tục khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp (bao gồm sản xuất lương thực, chăn nuôi, lâm nghiệp). Đẩy mạnh hoạt động thương nghiệp và giao thông vận tải để thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa. Khôi phục tiểu thủ công nghiệp, nghề phụ gia đình để sản xuất hàng hóa tiêu dùng. Chú trọng vận động đồng bào rẻo cao tăng gia sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và cung cấp hàng hóa thiết yếu cho đồng bào. Tiến hành kiến thiết cơ bản, chủ yếu là các cơ sở phục vụ sản xuất nông – lâm nghiệp.

Để thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu trên, cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề: Củng cố phát triển tổ đổi công, từng bước thành lập hợp tác xã mua bán, tăng cường tuyền truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí của nhiệm vụ kinh tế, tài chính; uốn nắn tư tưởng cục bộ, ngại khó; kiện toàn các ngành kinh tế tài chính, chuyên môn hoá đội ngũ cán bộ làm công tác kinh tế-tài chính. 

Khi công cuộc khôi phục kinh tế của Tuyên Quang ngày càng thu được nhiều kết quả tốt đẹp thì tình hình chính trị trong nước và thế giới có những biến động, tác động tới tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Lợi dụng Đảng ta có những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, các thế lực thù địch đã ra mặt chống lại sự lãnh đạo của Đảng cả về chính trị, kinh tế và văn hoá nghệ thuật. Trước tình hình đó, để tiếp tục tiến hành có hiệu quả công tác khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá xã hội, Đảng bộ tỉnh tập trung lãnh đạo củng cố khối đoàn kết dân tộc, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và xây dựng Đảng.

Trong khi Tuyên Quang tập trung đẩy mạnh khôi phục kinh tế thì các tỉnh khác ở miền Bắc tiếp tục hoàn thành công tác giảm tô và cải cách ruộng đất. Cải cách ruộng đất đã căn bản đánh đổ giai cấp địa chủ, xoá bỏ chế độ chiêm hữu ruộng đất phong kiến, hơn 10 triệu nông dân đã làm chủ. Đó là một cuộc chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị và xã hội.

Tuy nhiên, do không nắm vững những biến đổi nông thôn miền Bắc từ sau Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, dập khuôn một cách máy móc kinh nghiệm của nước ngoài, nên khi tiến hành cải cách ruộng đất chúng ta đã phạm những sai lầm hết sức nghiêm trọng, phổ biến và kéo dài trên một số vân đề có tính chất nguyên tắc 5). Tháng 4-1956, Trung ương có chị thị sửa chữa những sai lầm ấy. Tháng 9- 1956, hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) đã đề ra chủ trương kiên quyết sữa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức.

Ở Tuyên Quang, công tác phát động toàn chúng giảm tô bắt đầu từ năm 1953, kết thúc vào tháng 8-1954. Qua năm đợt giảm tô, tỉnh đã hoàn thành phát động quần chúng giảm tô và chỉnh đốn tổ chức ở 5 huyện (Yên Bình, Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hoá và Hàm Yên). Trong quá trình thực hiện giam tô, chúng ta đã mắc một số sai lầm.

Từ ngày 9 đến ngày 19-11-1956, Tỉnh uỷ Tuyên Quang tổ chức hội nghị (mở rộng) học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II). Từ 19 đến 24-11-1965, 345 cán bộ cơ sở tham gia Hội nghị nghiên cứu, học tập chủ trương sửa sai của Đảng.

Đánh giá về sai lầm trong phát động quần chúng giảm tô, Tỉnh uỷ Tuyên Quang nêu rõ: Đó là những sai lầm nghiêm trọng, kéo dài, xâm phạm đến tín ngưỡng, phong tục, tình cảm của các dân tộc thiểu số, gây ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ công tác của tỉnh ta trong một thời gian khá dài 6). Tỉnh chủ trương: kiên quyết sữa chữa sai lầm trong giảm tô và chỉnh đốn tổ chức, phát huy những kết quả đã đạt được để tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh sản xuất ở nông thôn.

Việc sửa sai ở Tuyên Quang được tiến hành từ tháng 12-1956, cơ bản hoàn thành vào tháng 4-1957, với các công tác cơ bản: tuyên truyền,giáo dục tư tưởng, chỉnh đốn tổ chức và sửa chữa thành phần, đền bù tài sản... 2.258 đảng viên của 112 chi bộ, 3.149 cán bộ của 116 xã, 17.011 quần chúng của 115 xã đã tham gia học tập chính sách sửa sai. Chúng ta đã sữa thành phần cho những nông dân bị quy sai, phục hồi chức vụ, đảng tịch, và công tác cho những cán bộ, đảng viên đã bị sử lý oan; tiến hành củng cố, kiện toàn tổ chức của xã 7), khẳng định quyền sử dụng đất của nông dân đối với ruộng đất, tài sản đã được chia.

Đánh giá kết quả công tác sửa sai, Đảng bộ Tuyên Quang khẳng định: “Nhờ kết quả công tác sửa sai, đến nay tình hình nông thôn nói chung đã ổn định, đã và đang có chuyển biến tốt. Các bộ máy lãnh đạo... được củng cố lại..., tư tưởng, lập trường của cán bộ, đảng viên đã được nâng cao thêm một bước, đoàn kết cũ, mới được cải thiện hơn trước. Sự hoạt động của các chi bộ đảng đã tiến lên, uy tín của chi bộ đảng đã dần được khôi phục, nhiều nơi đã có tác dụng lãnh đạo tốt mọi mặt ở nông thôn, vai trò của uỷ ban, nông hội dần dần được đề cao, tư tưởng các tầng lớp nhân dân tương đối ổn định” 8).

Bước phát triển của phong trào cách mạng ở địa phương trong những năm đầu sau  hoà bình lập lại cộng với tình hình, nhiệm vụ cách mạng mới đặt ra những yêu cầu lớn đối vơi công tác xây dựng Đảng. Nhưng, do những yếu tố khách quan, phải tập trung giải quyết nhiều nhiệm vụ đột xuất sau chiến tranh nên từ cuối năm 1954, dù đã có nhiều cố gắng song kết quả công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh còn hạn chế.   

Hội nghị Tỉnh uỷ (mở rộng) tháng 7- 1955 đã nêu rõ rằng, trong công tác xây dựng Đảng, chúng ta còn chủ quan, chưa lường trước được diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên sau hoà bình, có nhiều thiếu sót trong công tác tổ chức, chưa chú ý đào tạo cán bộ người dân tộc. Phương hướng công tác mới là: kiên quyết bổ sung, cùng cố các cấp uỷ, các cơ quan kinh tế, tài chính và dân vận; tăng cường hơn nữa công tác tư tưởng, đào tạo cán bộ; sửa đổi lối làm việc của cấp uỷ, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Thực hiện chủ trương đó, từ cuối năm 1955, công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị, tư tưởng được đẩy lên một bước mới. Tháng 9 - 1955, Tỉnh uỷ mở rộng Hội nghị cán bộ tổ chức, học tập Nghị quyết của Trung ương về công tác tổ chức. Tiếp đó, tỉnh rà soát lại số lượng đảng viên, chi bộ, chất lượng các cơ sở đảng, nắm bắt tình hình tư tưởng, những băn khoăn thắc mắc của cán bộ, đảng viên, công tác lãnh đạo của các chi bộ và các cơ quan để xác định phương pháp uốn nắn thiếu sót, sai lầm, khắc phục khuyết điểm, đặt kế hoạch xây dựng đảng về mọi mặt.

Trong hai năm (1956 – 1957), qua học tập kế hoạch nhà nước, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8,9,10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II), các đợt “Huấn luyện đảng viên nông thôn” 9), Đảng bộ Tuyên Quang từng bước uốn nắn những lệch lạc về mặt tư tưởng của đảng viên trước diễn biến của tình hình thế giới và cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, nâng  cao tinh thần phấn đấu, phục vụ nhân dân, nâng cao nhận thức về nền kinh tế dân chủ, trang bị những kiến thức ban đầu về con đường đi lên của chủ nghĩa xã hội của miền Bắc... cho cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Từ tháng 9 đến ngày 16-11-1956, Tỉnh uỷ tổ chức Hội nghị mở rộng, kiểm điểm công tác lãnh đạo từ sau Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I (1951), chú trọng một số công tác chính như: Phát động quần chúng giảm tô, chỉnh đốn tổ chức, thuế nông nghiệp, chống địch cưỡng ép đồng bào công giáo di cư...

Tỉnh uỷ thẳng thắn chỉ rõ những sai lầm đã mắc phải, xác định trách nhiệm của mình trong những sai lầm đó và nêu rõ những nguyên nhân dẫn tới sai lầm và phương hướng khắc phục.

Qua thực hiện các công tác lớn, Đảng bộ tỉnh tăng cường kiện toàn tổ chức, đào tạo cán bộ. Năm 1956, cán bộ là người dân tộc thiểu số đã chiếm 17% trong tổng số 1.363 cán bộ thuộc biên chế nhà nước. Hầu hết các chi bộ, chi uỷ được kiện toàn, củng cố trong thời kỳ thực hiện công tác sửa sai.

Cuối năm 1956, đầu năm 1957, Tỉnh ủy tiến hành một đợt kiện toàn cấp ủy, chính quyền các cấp. Hội nghị Tỉnh ủy họp từ ngày 3 đến ngày 7 -12 -1956 đã lập phương án đề nghị cấp trên bổ sung, kiện toàn Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (cho tới thời điểm này Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh chỉ còn 4/16 đồng chí trực tiếp làm việc tại địa phương). Cấp trên đã quyết định bổ sung cho Tuyên Quang 6 tỉnh ủy viên. Ngày 17-12-1956 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã họp, bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy và phân công công tác cho các đồng chí tỉnh ủy viên 10). Đồng chí Nguyễn Xuân Việt được giao trách nhiệm quyền Bí thư Tỉnh ủy thay cho đồng chí Nguyễn Công Bình (Phạm Ngọc Bổng) đã chuyển công tác. Năm 1957, Ủy ban hành chính tỉnh cũng được bổ sung, kiện toàn lại, có đủ số ủy viên.

Trong tình hình mới, lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và công an nhân dân từng bước được củng cố về tổ chức, chính trị, tư tưởng làm nòng cốt trong đấu tranh trong đấu tranh chống các âm mưu phá hoại của địch, tích cực tham gia khôi phục, phát triển kinh tế, xã hội.

Kết quả công tác sửa sai, công tác xây dựng đảng, v.v. đã tác động, thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc khôi phục sản xuất, bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa.

Thực hiện chủ trương “Củng cố và phát triển dần dần các tổ đổi công là  việc làm rất quan trọng để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân, đưa nông dân đi dàn vào con đường hợp tác, tương trợ” 11), tỉnh tích cực phát triển phong trào tổ đổi công, đi từ đổi công từng vụ, từng việc tới đổi công thường xuyên. Nông dân hăng hái tham gia các tổ đổi công, chuyển mạnh vào con đường làm ăn “hợp tác, tương trợ”. Tới vụ chiêm 1956-1957 toàn tỉnh có 21.457 hộ nông dân thì đã có 17.627 hộ tham gia 3.048 tổ đổi công, trong đó có 574 tổ đổi công thường xuyên. Nhân dân các địa phương tích cực làm thủy lợi với tinh thần “vắt đất ra nước thay trời làm mưa”. Cùng với củng cố, mở rộng các công trình thủy lợi cũ, nhân dân bắt đầu tập trung xây dựng các công trình trị thủy có quy mô như đê An Khánh (Đông Lợi, Sơn Dương), mương phai Bình An (An Tường, Yên Sơn), mương phai Km7 (Trung Môn, Yên Sơn), dặt chương trình xây dựng công trình trung thủy nông Trung Môn - Ỷ La có sức tưới 1.000 mẫu ruộng... các cơ sở tín dụng, ngân hàng  rộng hoạt động, cho nhân dân vay vốn phát triển sản xuất. Năm 1956, ngân hàng cho nông dân vay 412.000.000 đồng để mua trâu, bò và hơn 2.000 nông cụ...

Tháng 12-1955, Ban Thường vụ Tỉnh ủy phát động tuần lễ thi đua chống hạn cứu mạ, cứu màu. Cuộc “Đại vận động thi đua sản xuất vụ Đông Xuân 1955 -1956” được tổ chức từ tháng 1 đến tháng 4-1956. Hàng ngàn cán bộ tham gia vận động, giúp đỡ nhân dân chống hạn, chống rét, cứu được hơn 3.000 ha lúa chiêm. Với nỗ lực của cán bộ và nhân dân, sản xuất nông nghiệp của tỉnh phục hồi nhanh chóng trong đó có mặt bắt đầu phát triển. Năm 1956, sản xuất đạt mức cao trong ba năm khôi phục kinh tế. Toàn tỉnh đã cấy được 21.938 ha lúa, thu 47.995 tấn thóc 12), trồng 5.713 ha cây hoa màu (chủ yếu là cây sắn) 790 ha cây công nghiệp, chăn nuôi được 39.200 con trâu, gần 50 ngành con lợn và đã cung cấp cho đồng bằng 3.097 con trâu, bò.

Các ngành kinh tế khác cũng từng bước phát triển. Sản xuất lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, hoạt động lưu thông, phân phối đi dần vào thế ổn định, tích cực phục vụ sản xuất nông nghiệp, khôi phục kinh tế. Trong các lĩnh vực này, vai trò của kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể ngày càng cao. Chỉ riêng năm 1956, tỉnh đã thành lập 312 tổ khai thác lâm sản với 3.440 người, toàn tỉnh khai thác 60.374m3 gỗ, điều tra thám sát 79.154 ha và khoanh nuôi 30.110 ha rừng 13); giá trị sản lượng khai thác lâm sản đạt mức tương đương 10.405 tấn thóc. Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp đẩy mạnh cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm. Năm 1957, các cơ sở sản xuất nông cụ hoàn thành vượt mức kế hoạch 5% cung cấp cho nông dân trên 35 ngàn công cụ với giá thành hạ và chất lượng cao hơn so với các năm trước. Trong năm 1957, tỉnh đã xây dựng thêm 45 cơ sở tiểu thủ công nghiệp với các ngành, nghề chính là cơ khí, vật liệu xây dựng, sản xuất hàng tiêu dùng...

Tỉnh tiếp tục đẩy mạnh việc sửa chữa, mở mang các tuyến đường giao thông, tăng cường lực lượng vận tải, phát triển mạng lưới thương nghiệp với phương châm ưu tiên mở rộng những cơ sở thương nghiệp xã hội chủ nghĩa 14), điều hành tốt hoạt động tài chính, tiền tệ. Tới năm 1956, hầu hết các tuyến đường quan trọng đã thông suốt. Tổng lượng hàng hóa vận chuyển trong năm đạt 95.576 tấn. Thương nghiệp quốc doanh đã có 16 cửa hàng, trạm, tổ mua bán và 186 đại lý, năm 57% lượng hàng hóa bán ra trên thị trường. Năm 1956, sức tiêu thụ hàng hóa của nhân dân tăng 200% so với năm 1955.

Trong ba năm khôi phục kinh tế, sự nghiệp giáo dục, văn hóa, y tế bắt đầu phát triển, đi vào chiều sâu. Tỉnh chăm lo củng cố phong trào bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, từng bước mở rộng, phát triển các trường học phổ thông 15). Nhân dân các dân tộc tích cực học tập, nang cao trình độ văn hóa. Cuối năm 1955, có 139 xã có phong trào bình dân học vụ (tăng 79 xã sơ với đầu năm). Giáo dục phổ thông được cải tiến và có nề nếp hơn. Tới cuối năm 1957, toàn tỉnh có 120 trường cấp I với 5.828 học sinh, 11 trường cấp II với 731 học sinh, 60% số người trong độ tuổi được công nhận thoát nạn mù chữ. Năm 1956, trung bình 10 người dân được mua 6 quyển sách, có 171.941 lượt người đi xem phim; tỉnh khánh thành nhà văn hóa thị xã, phòng triển lãm thu hút 27.000 lượt người tới xem, cùng cố 45 đội văn nghệ  cơ sở, mở cuộc thi sáng tác văn nghệ với 1.500 tác phẩm dự thi có tác dụng tuyên truyền, phục vụ các công tác trọng tâm.

Thực hiện chủ trương “tích cực xây dựng cơ sở y tế ở nông thôn, lấy phòng bệnh là chính”, tỉnh làm tốt công tác chăm lo sức khỏe cho nhân dân, tích cực phòng, chóng bệnh sốt rét ác tính và sưng phổi 16). Chỉ trong 6 tháng cuối năm 1955, cán bộ y tế về 92 xã, phát hơn 10 vạn viên thuốc, chữa bệnh cho 4.853 người, cứu sống 149 bệnh nhân bị sốt rét ác tính, tiêm phòng bệnh tả, đậu mùa cho 50% dân số (hơn 8 vạn người). Các trạm xá, bệnh viên khám, chữa bệnh cho 19.330 lượt người. Tỉnh đào tạo, huấn luyện 471 y tá, hộ sinh, cứu thương và vệ sinh viên. Năm 1956, các xã xây dựng 116 ban phòng bệnh xã, 520 túi thuốc xóm, đào tạo 130 y tác xã, 105 hộ sinh và 1.362 vệ sinh xóm.

Trong quá trình lãnh đạo nhân dân khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, Tỉnh ủy Tuyên Quang cũng bắt đầu tìm tòi, xác định phương hướng đi lên của đồng bào các dân tộc vùng cao 17). Việc ổn định, cải thiện đời sống, giúp dỡ đồng bào dân tộc ít người phát triển được coi là một trong những nhiệm vụ lớn. Tỉnh ủy xác định: Yêu cầu của công tác vùng cao là hướng dẫn, giúp đỡ đồng bào sản xuất, chủ yếu là lúa và ngô, tiến tới xóa được nạn đói chu kỳ, gây dần cơ sở sản xuất lâu dài với tinh thần tự lực, cánh sinh. Các biện pháp chủ yếu để đưa vùng cao đi lên là điều tra, tìm các nguồn tài nguyên của vùng cao để hướng dẫn khai thác và tổ chức tiêu thụ và để tăng thu nhập cho nhân dân, các ngành kinh tế - tài chính, văn hóa - xã hội phải có kế hoạch cụ thể phục vụ và giúp đỡ vùng cao, tiến hành vận động đồng bào xuống núi, định canh, định cư.

Việc vận động đồng bào xuống núi, định canh, định cư 18) là một công tác lớn, nằm trong kế hoạch cải thiện dần đời sống của đồng bào, đòi hỏi phải “kiên trì, thận trọng, làm từng bước tỉ mỉ, phải giải quyết từng ly, từng tý cả về tư tưởng lẫn vật chất”. Năm 1955, có 51 hộ với 229 nhân khẩu thuộc các dân tộc; Thanh Y, Đại Bản, Dao Tiền, Cao Lan xuống núi làm ruộng ở Vinh Phú (Yên Sơn), Ao Cam, Gốc Ổi (Hàm Yên), Đồng Vàng (Chiêm Hóa). Bước đầu, tỉnh cấp cho các hộ này gần 46 mẫu ruộng (loại tốt), ngân hàng cho vay tiền mua 10 con trâu, 5 chiếc cày và các loại nông cụ, nhân dân địa phương giúp bốn tạ thóc giống và đã cấy 45 mẫu 8 sào ruộng, 24 mẫu lúa nương, 22 mẫu khoai, 5.980 gốc sắn.

Năm 1957, trong 6 tháng đầu năm tỉnh đã thành lập Ban lãnh đạo công tác vùng cao, tiến hành điều tra một số xã, mở 3 hội nghị công tác vùng cao nhằm nắm chắc tình hình để định hướng kế hoạch hướng dẫn sản xuất cho phù hợp với từng vùng, đẩy tới một việc thực hiện toàn diện chính sách dân tộc của Đảng, trong đó công tác đào tạo, sử dụng cán bộ người dân tộc được chú ý. Tới cuối năm 1957, đầu năm 1958, toàn tỉnh đã có 362 cán bộ thoát ly, công nhân viên chức là người dân tộc (chiếm 28% tổng số), 66% cán bộ xã là người dân tộc (1.377/2.086 người)...Đồng bào dân tộc ngày càng khẳng định vai trò của mình trong cong cuộc xây dựng quê hương, đất nước.

Kết quả khôi phục kinh tế khẳng định khả năng phát triển của Tuyên Quang trong giai đoạn mới. Đầu năm 1957, đánh giá về kết quả khôi phục kinh tế trong hai năm (1955-1956) Tỉnh ủy Tuyên Quang đã nhận định: Tỉnh ta đã thu được nhiều kết quả, những nhiệm vụ chính đều đạt được hoặc vượt mức kế hoạch. Thành tích chủ yếu của chúng ta đã đẩy mạnh được sản xuất lương thực, chăn nuôi, khai thác lâm sản, phát triển tiểu thủ công nghiệp, giao thông, vận tải, tăng cường lực lượng mậu dịch quốc doanh... ổn định và bước đầu cải thiện đời sống nhân dân 19).

Trong hoàn cảnh là tỉnh miền núi có nhiều dân tộc, trình độ khác nhau, tình hình trong nước, trên thế giới có những  biến chuyển  phức tạp, nảy sinh nhiều khó khăn ảnh hưởng tới tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân... mà đạt được những thành tích đã nêu là do: “Trong công tác, Tỉnh ủy đã chú trọng tăng cường giáo dục tư tưởng, chsnh sách, lãnh đạo phối hợp các ngành các tổ chức và động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện nhiệm vụ”...”Trong chỉ đạo thực hiện, Tỉnh ủy đã lấy việc hiện kế hoạch làm cơ sở và nội dung cho các công tác khác và lấy công tác vận động chính trị...làm động cơ thúc đẩy, phục vụ công tác trọng tâm thực hiện kế hoạch” 20).

II- ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ II: TIỀN HÀNH CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, BƯỚC ĐẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - VĂN HÓA (1958 – 1960)

Sau khi hoàn thành công cuộc khôi phục kinh tế, miền Bắc bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa. Kỳ họp thứ 8 Quốc hội (khóa I) (từ 16 đến 29-4-1958) thông qua Nghị quyết quan trọng: Xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam. Nghị quyết nêu rõ: Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích căn bản, lâu dài của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước 21). Giữa tháng 11-1958, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) họp Hội nghị lần thứ 14, chủ trương phát triển kinh tế và phát triển văn hóa trong kế hoạch ba năm (1958-1960), cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và kinh tế tư bản tư doanh. Thực hiện chủ trương đó, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (tháng 1-1958) xác định nhiệm vụ năm đầu tiên thực hiện kế hoạch ba năm (1958 – 1960) là:... “ra sức củng cố và phát huy những thành tích đạt được trong 3 năm, đồng thời tuỳ từng mặt, từng vùng, có kế hoạch phát triển lên một bước; nhằm không ngừng cải thiện, nâng cao dần đời sống kinh tế, chính trị và văn hoá của các dân tộc lên thêm một bước, chuẩn bị về tư tưởng, về tổ chức và vật chất để tạo điều kiện thuận lợi góp phần xây dựng (quê hương) tiến dần lên xã hội chủ nghĩa và góp phần vào công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước...” 22). Nghị quyết của Hội nghị còn nêu rõ: Kinh tế, tài chính là nhiệm vụ trung tâm của cả năm, tất cả các nhiệm vụ khác đều phải hướng vào phục vụ công tác trung tâm này. Trong kinh tế - tài chính, lấy sản xuất nông - lâm nghiệp làm nhiệm vụ trọng tâm, trong đó, sản xuất nông nghiệp là cơ bản. Nhiệm vụ của sản xuất nông nghiệp là đảm bảo đủ ăn, có dự trữ ở vùng làm ruộng, giảm bớt, tiến tới xoá đói giáp hạt ở vùng cao.

Để hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất nông nghiệp, phải coi trọng hia vấn đề quyết định: Một là, phải tích cực mở mang thuỷ lợi, tăng thêm diện tích có nước cày cấy. Hai là, bước đầu cải tạo  nền kinh tế tiểu nông rộng lớn, hướng dẫn nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể, ra sức củng cố, nâng cao và phát triển phong trào tổ đổi công theo phương châm “tích cực lãnh đạo, tiến bước vững chắc” 23). Phải làm cho cán bộ, đảng viên thấy được ý nghĩa chính trị của vấn đề đổi công, hợp tác là cơ sở đưa nông dân lao động tiến lên xã hội chủ nghĩa.

Năm 1958, Tuyên Quang bước đầu cải tạo nền kinh tế nông nghiệp theo con đường xã hội chủ nghĩa. Việc củng cố, phát triển phong trào tổ đổi công, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp được coi là “đòn bẩy thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp”. Nông dân hưởng ứng mạnh mẽ phong trào tổ đổi công. Cuối năm 1958, vùng nông thôn Tuyên Quang có 160 xã với 20.034 hộ nông dân (chiếm 79% tổng số hộ nông dân toàn tỉnh), trong đó có 524 tổ đổi công thường xuyên (tập trung sản xuất theo phương thức bình công chấm điểm) gồm 3.238 hộ nông dân. Kết quả này là bước chuẩn bị tích cực cho công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp theo phương châm “thận trọng, tiến bước vững chắc”.

Đầu vụ mùa năm 1958, hợp tác Dàm - hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đầu tiên của tỉnh được thành lập 24). Hội nghị rút kinh nghiệm việc thí điểm thành lập Hợp tác xã nông nghiệp đã họp từ ngày 7 đến 11-11-1958 với sự tham gia của đại biểu các huyện, thị uỷ, cán bộ nông hội các huyện, cán bộ hợp tác xã nông nghiệp của tỉnh... Các đại biểu tham dự Hội nghị đã đi thực tế một tháng rưỡi ở các địa bàn, vận đồng thành lập được 8 hợp tác xã. Cuối năm 1958 toàn tỉnh có 9 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Nhiều kinh nghiệm được đúc rút qua đợt thí điểm để áp dụng cho thời kỳ mở rộng phong trào hợp tác hoá nông nghiệp.

Cùng với phong trào đổi công, hợp tác xã, các cơ sở quốc doanh trong sản xuất nông nghiệp (Nông trường Sông Lô, Nông trường Tháng Mười, Nông trường Tân Trào) được thành lập đã góp phần đẩy mạnh phong trào hợp tác hoá nông nghiệp.

Năm 1958, sản xuất nông nghiệp bị thiên tai đe doạ. Tuy hạn hán kéo dài suốt trong vụ đông xuân, gối sang vụ mùa, nhưng nhân dân đã cố gắng cao nên đã hạn chế được sự thiệt hại do thiên tai gây ra. Ngày 8-1-1958, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra Chỉ thị số 01/CT-TQ, chỉ đạo các địa phương phải tập trung lực lượng đẩy mạnh công tác chống hạn, đảm bảo tốt kế hoạch sản xuất vụ lúa chiêm và hoa màu đông xuân. Phong trào thi đua lao động, phòng chống hạn kéo dài diễn ra sôi nổi. Tuy vụ đông xuân chỉ đạt 99,26% kế hoạch về diện tích, 93% kế hoạch về sản lượng, nhưng trong khó khăn gay gắt, kết quả này là nguồn động viên rất lớn phong trào sản xuất của quần chúng.

Hội nghị sơ kết vụ chiêm (5-1958) đã bàn khá kỹ công tác chuẩn bị cho sản xuất vụ mùa. Tỉnh tổ chức học tập kế hoạch nhà nước ba năm cho trên 300 cán bộ lãnh đạo chủ chốt các xã, các ngành ở tỉnh, huyện và 72% đảng viên toàn tỉnh, từ đó triển khai rộng rãi trong nhân dân.

Ngày 24-5-1958, Tỉnh uỷ ra Chỉ thị số 09/CT-TQ vạch rõ: Phải phát động một phong trào thi đua sản xuất, tiết kiệm thật rộng lớn, mạnh mẽ, động viên toàn Đảng, toàn dân phấn đấu hoàn thành vượt mức nhiệm vụ sản xuất lương thực của vụ mùa và cả năm. Để đảm bảo nhiệm vụ đó, phải giải quyết tốt các vấn đề mấu chốt: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, củng cố phong trào đổi công hợp tác; củng cố tổ chức, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền và phối hợp công tác giữa các ngành.

Vụ mùa năm 1958, sản xuất gặp nhiều khó khăn. Tới 20-7-1958, ở 23 xã thuộc 2 huyện Sơn Dương và Yên Sơn, đã có 6.614 mẫu (chiếm 30% tổng diện tích ruộng của các xã này) không có nước cấy. Chủ trương và quyết tâm của tỉnh là phải tự túc về lương thực với mục tiêu đủ ăn và có lương thực dự trữ. Sản xuất lương thực là vấn đề cấp bách, song trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, không ít người lại có tư tưởng thoả mãn với kết quả đã đạt được. Thậm chí, một số cấp uỷ buông lỏng công tác lãnh đạo sản xuất, có người chưa tin vào khả nắng phát triển kinh tế của tỉnh miền núi còn lác hậu về kỹ thuật canh tác.

Trước tình hình đó, trong phiên họp ngày 25-7-1958, Tỉnh uỷ đã phân công công tác cho các đồng chí Tỉnh uỷ viên phụ trách từng huyện, chịu trách nhiệm Đảng bộ tỉnh về công tác sản xuất vụ mùa; chỉ đạo các đồng chí Bí thư huyện uỷ trực tiếp phục trách công tác sản xuất lâu dài của huyện, các huyện phải thành lập, củng cố tiểu ban sản xuất.

Tỉnh uỷ xác định: “Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp, phải dựa thật chắc vào lực lượng nông dân đông đảo, nhưng muốn thế, chủ yếu phải dựa vào chi bộ Đảng ở nông thôn, phải làm cho chi bộ nông  thôn thiết thực lãnh đạo sản xuất” 25). Do đó, Đảng bộ đã tập trung củng cố, tăng cường sức mạnh của các chi bộ nông thôn. Tháng 1-1959, có 3.488 đảng viên được học tập về tình hình cách mạng, bước đầu tìm hiểu về chủ nghĩa xã hội, 123/142 ban chi uỷ được kiện toàn. Kết quả này đã làm chuyển biến căn bản công tác lãnh đạo sản xuất của tỉnh. Đảng viên thấy rõ con đường phát triển của nông thôn là con đường tương trợ, hợp tác xã hội chủ nghĩa.

Các cơ sở Đảng, các ngành tập trung lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân lao động sản xuất, quyết tâm giành vụ mùa thắng lợi.

Trung tuần tháng 6-1958, ngoài lực lượng tăng cường từ trước, tỉnh đã trưng tập 126 cán bộ xuống giúp các xã phòng, chống hạn. Quyết tâm thắng thiên tai của quần chúng lên cao. Ở Vĩnh Lợi (Sơn Dương) nhân dân đã gánh 29.444 gánh nước, huy động hàng ngàn ngày công tát nước tưới cho 60% diện tích mạ. Các chi đoàn huy động đoàn viên, thanh niên gánh hàng vạn gánh nước tưới mạ. Trong thời gian cấy lúa, toàn tỉnh đã sửa chữa, làm mới 2.091 công trình thuỷ lợi nhỏ, đảm bảo tưới nước cho 9.559 mẫu. Phong trào cải tiến, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất bắt đầu được mở rộng. Hơn 70% diện tích lúa được bón phân với mức bình quân 3,5 tấn/ha.

Thực hiện kế hoạch nhà nước năm 1958, kinh tế địa phương có nhiều chuyển biến tích cực. Sản xuất nông nghiệp hoàn toàn và hoàn thành vượt mức hầu hết  các chỉ tiêu kế hoạch 26), so với năm 1957. Các ngành kinh tế khác cũng đạt tới bước phát triển mới, Đảng bộ đã thực sự tích cực chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức và vật chất để bắt tay mạnh mẽ hơn vào công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh đó, từ ngày 30-1 đến ngày 5-2-1959 Đảng bộ Tuyên Quang đã triệu tập Hội nghị đại biểu toàn Đảng bộ 27), có 81 đại biểu tham gia Hội nghị.

Báo cáo kiểm điểm công tác năm 1958 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tập trung điểm điểm những công tác chính, trọng tâm là tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp, vấn đề đổi công, hợp tác, vấn đề xây dựng lực lượng, củng cố quốc phòng, tình hình trị an và công tác xây dựng đảng.

Về sản xuất nông nghiệp và phong trào đổi công, hợp tác xã, Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh khẳng định: Đảng bộ tiến thêm một bước trong giải quyết vấn đề lương thực, đời sống của nhân dân các dân tộc được cải thiện thêm một phần; phong trào đổi công, hợp tác xã có tiến bộ và đang ở đà tiến lên, đi dần vào nề nếp. Nhưng trên 2 lĩnh vực này, tỉnh còn bộc lộ một số thiếu sót: Thiếu những chủ trương về những vấn đề lớn, những biện pháp thiết thực để phát triển nông nghiệp. Phong trào hợp tác xã, tổ đổi công phát triển không đều giữa các vùng. Cán bộ, đảng viên còn quan niệm rất giản đơn về vấn đề đổi công, hợp tác xã, chưa thấy rõ đây là con đường duy nhất để thoát đói nghèo; các cấp uỷ, cán bộ, đảng viên cần phải giáo dục quần chúng tự nguyện đi theo để đẩy mạnh sản xuất, cải tiến ký thuật, xoá bỏ bóc lột, giải phóng hoàn toàn sức xuất ở nông thôn để đưa nông thôn lên chủ nghĩa xã hội.

Báo cáo kiểm điểm công tác năm 1958 cũng vạch rõ: Từ hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta bước sang thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Để hoàn thành nhiệm vụ cải tạo và xâu dựng chủ nghĩa xã hội, tiếp tục cuộc đáu tranh thống nhất đất nước. Đảng bộ đã phải củng cố cả về tư tưởng và tổ chức. Trong lĩnh vực này, cần khắc phục sớm một số biểu hiện không tốt như: tư tưởng mệt mỏi, muốn nghỉ ngơi, chỉ chăm lo việc nhà...”. Thực chất, vấn đề đó biểu hiện tính tự phát tư bản chủ nghĩa của nền kinh tế tiểu nông”.

Phân tích sâu những diễn biến, kết quả trên một số lĩnh vực công tác trọng tâm của năm 1958. Hội nghị khẳng định: Năm 1958, Đảng bộ đã lãnh đạo, động viên nhân dân các dân tộc đoàn kết, thi đua, thu được nhiều thành tựu đáng kế. Đảng bộ đoàn kết, vững mạnh. Hiện nay, trong cán bộ, đảng viên, trong nhân dân các dân tộc đang có đà phấn khởi mới, lãnh đạo có thêm kinh nghiệm, phong trào sản xuất và các phong trào khác có thêm nhiều triển vọng. Trên cơ sở tinh thần, vật chất ấy, chắc chắn ta có nhiều điều kiện thi đua tiến lên xã hội chủ nghĩa với một nhịp độ mạnh hơn, nhanh hơn mấy năm qua.

Hội nghị xác định nhiệm vụ chung của năm 1959 là:

- Thật khẩn trương thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa. Khâu chính là ra sức mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào tổ đổi công, đẩy mạnh công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp, đồng thời chú trọng cải tạo thủ công nghiệp và thương nghiệp tư nhân tư doanh.

- Triệt để sử dụng kết quả của công cuộc cải tạo, ra sức phát triển sản xuất (trọng tâm là sản xuất nông nghiệp) và phát triển văn hoá, nâng cao mức sinh hoạt vật chất, văn hoá của nhân dân các dân tộc.

- Trong khi thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, phải tiến hành việc xây dựng lực lượng, củng cố quốc phòng, củng cố và kiện toàn chính quyền dân chủ nhân dân, giữ gìn an ninh trật tự...Đồng thời, ra sức phát triển, củng cố các tổ chức quần chúng, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ cải tạo dân chủ, cải tạo và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá 28).

Về nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa, Hội nghị không chỉ dừng lại mục tiêu của năm 1959 mà xác định mục tiêu cơ bản của cả một giai đoạn: “Thực hiện nhiệm vụ cải tạo và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phải theo phương châm vừa làm vừa rút kinh nghiệm và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phải làm với tinh thần mạnh dạn, khẩn trương nhưng vững chắc, không dè dặt, nhưng cũng không hấp tập, nóng vội, vừa làm, vừa chuẩn bị điều kiện, tạo cơ sở để năm 1960 tiến lên hoàn thành về căn bản nhiệm vị cải tạo xã hội chủ nghĩa ở trong tỉnh” 29).

Hội nghị Đảng bộ xác định: Công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp cần được mở rộng dần một cách vững chắc trên cơ sở phát triển, củng cố phong trào tổ đổi công. Trong quá trình thực hiện, các địa phương phải chú trọng công tác thí điểm, rút kinh nghiệm, đặc biệt là trong việc đưa hợp tác xã bậc thấp lên hợp tác xã bậc cao. Các cấp uỷ đảng phải tăng cường lãnh đạo thường xuyên phong trào đổi công, hợp tác xã. Tỉnh phải khẩn trương đào tạo cán bộ để đảm bảo lãnh đạo phng trào đi lên vững chắc, đồng thời chỉ đạo các ngành, các cấp hướng hoạt động của mình vào phục vụ hợp tác hoá nông nghiệp. Hội nghị toàn Đảng bộ cũng khẳng định vai trò quyết định của công tác chính trị tư tưởng là làm cho “nhân dân các dân tộc nhận rõ hai con đường phát triển của nông thôn: con đường hợp tác hoá đi lên chủ nghĩa xã hội và con đường sản xuất riêng, tự phát đi lên chủ nghĩa tư bản; và quyết tâm theo Đảng đi lên con đường hợp tác hoá xã hội chủ nghĩa” 30).

Ngày 5-2-1659, Hội nghị đã thông qua Điện văn gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điện văn bày tỏ sự tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; Đảng bộ hứa sẽ tăng cường đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa cho cán bộ, đảng viên, nhân dân ra sức thi đua khắc phục khuyết điểm, phát huy thành tích, thuận lợi, hoàn thành tốt các nhiệm vụ để góp phần củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Trong 7 ngày làm việc, Hội nghị Đảng bộ đã thảo luận và hoàn toàn nhất trí với báo cáo kiểm thảo công tác năm 1958 và các báo cáo khác của ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Hội nghị đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ mới gồm 21 uỷ viên chính thức và 4 uỷ viên dự khuyết 31). Ban Thường vụ Tỉnh uỷ có 7 đồng chí 32). Đồng chí Nguyễn Xuân Việt được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. Các đồng chí: Lê Tùng, Trần Hoài Quang được bầu là Phó Bí thư Tỉnh uỷ.

Hội nghị toàn Đảng bộ đã đặt ra những vấn đề cơ bản nhất trong công tác hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo thương nghiệp tư bản tư doanh để sau này Đảng bộ tỉnh, trên cơ sở quán triệt, vận dụng các Nghị quyết, chính sách của Đàng mà hoàn chỉnh chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa trên địa bàn tỉnh một cách phù hợp. Tám năm sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I (4-1951), Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh được bầu lại, đảm bảo số lượng, cơ cấu, đủ năng lực cụ thể hoá chủ trương, đường lối của Trung ương, lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Tháng 4-1959, Hội nghị lần thứ 16 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khoá II) thông qua hai Nghị quyết quan trọng: Nghị quyết  về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp và Nghị quyết về vấn đề cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Hội nghị Trung ương Đảng xác định nhưng vấn đề đường lối, chính sách hợp tác hoá nông nghiệp phải kết hợp với hoàn thành cải cách dân chủ. Hội nghị cũng đề ra chính sách cải tạo hoà bình đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh.

Tiếp theo Hội nghị Trung ương lần thứ 16, ngày 15 tháng 8 năm 1959, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển sản xuất kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở vùng núi miền Bắc.

Bước đầu thực hiện Nghị quyết của Trung ương, trong năm 1959, công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa của tỉnh diễn ra mạnh mẽ. Tháng 1 năm 1959, tỉnh đã thành lập Ban công tác nông thôn và hợp tác hoá nông nghiệp do đồng chí Trần Hoài Quang, Phó Bí thư Tỉnh uỷ làm trưởng ban. Tới cuối năm 1959, toàn tỉnh có 2.699 tổ đổi công gồm 14.366 hộ nông dân (chiếm 62, 24% số hộ), phong trào hợp tác xã phát triển ở 113/160 hợp tác xã gồm 6.530 hộ (chiếm 27,8% số hộ nông dân), đã thí điểm đưa 13 hợp tác xã bậc thấp lên hợp tác xã bậc cao. Vùng nông thôn có 62 hợp tác xã tín dụng, 103 xã đã có cơ sở hợp tác xã mua bán.

Trong cải tạo công, thương nghiệp, chúng ta đã đưa 44% số hộ tiểu thủ công, 29,3% số hộ tiểu thương và thương nghiệp thuần tuý vào hợp tác xã, hoàn thành cải tạo công tư hợp doanh toàn ngành vận tải.

Xu thế đi lên chủ nghĩa xã hội đã thể hiện rõ trong các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, nhiều vấn đề cụ thể trong cải tạo nông nghiệp và công, thương nghiệp tư  doanh chưa được làm rõ, nhất là vấn đề kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ. Việc giáo dục, tuyên truyền và vận dụng đường lối, chính sách, cải tạo xã hội chủ nghĩa của Đảng còn có những hạn chế. 

Khi bắt tay vào thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, tỉnh ta đã có nhiều thuận lợi: Hệ thống chính trị đã được củng cố. Nhân dân có tinh thần cách mạng, được giác ngộ và rèn luyện qua đấu tranh cách mạng, thực hiện nhiệm vụ hậu phương kháng chiến. Vốn là vùng tự do, qua giảm tô, sửa sai và vận động sản xuất, cải cách dân chủ nên uy thế chính trị, kinh tế của tư bản và phong kiến đã suy yếu rất nhiều. Phong trào tổ đổi công phát triển sớm, được củng cố, mở rộng trong thời kỳ khôi phục kinh tế đã làm cho nông dân quen dần với xu hướng làm ăn hợp tác, tương trợ. Yếu tố có ý nghĩa quyết định là tình hình kinh tế đã được cải thiện, quyền làm chủ ruộng đất của nông dân đã được xác lập, lực lượng quần chúng lớn mạnh, tích cực ủng hộ các nhân tố xã hội chủ nghĩa đã hình thành trong các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế - xã hội.

Tuy vậy, khó khăn cũng rất nhiều: Trình độ mọi mặt của nhân dân còn thấp, không đồng đều, dân cư và ruộng đất phân tán, phong trào tổ đổi công có mặt chưa ổn định, một số cán bộ đảng viên nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa của vấn đề đổi công, hợp tác. Một số xã chưa qua phát động quần chúng giảm tô, do đặc thù của vùng núi nhiều dân tộc nên vấn đề cải cách dân chủ chưa được giải quyết triệt để. Ngay từ năm 1957, khi tiến hành điều tra nông thôn để cung cấp cứ liệu, góp ý kiến các chính sách của Đảng đối với miền núi, Đảng bộ tỉnh đã chỉ rõ, ở tỉnh ta vẫn còn các tàn tích của chế độ phong kiến (chiếm hữu ruộng đất, hình thức bóc lột, các hủ tục...) và khẳng định chúng ta cần tiếp tục  hoàn thành việc cải cách dân chủ.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 16 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) và Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp, về việc kết hợp hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển kinh tế với hoàn thành cảu cách dân chủ ở vùng núi miền Bắc giúp Đảng bộ tỉnh nhìn nhận rõ hơn nhiệm vụ cụ thể của mình trong giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Từ ngày 18 đến 23-10-1959, tỉnh uỷ Tuyên Quang họp Hội nghị mở rộng, quyết định thực hiện thí điểm cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển sản xuất két hợp hoàn thành cải cách dân chủ tại 3 xã có đặc điểm và yều cầu khác nhau về mức độ cần cải cách dân chủ: xã Đà Vị- Na Hang (là xã chưa phát động quần chúng giảm tô), xã Mỹ Lâm- Yên Sơn (là xã có nhiều dân tộc sống xen kẽ và còn cần cải cách dân chủ), xã Tam Đa – Sơn Dương (là xã có nhiều vấn đề tồn tại của cải cách dân chủ).

Từ ngày 4 đến ngày 7-1-1960, Tỉnh uỷ họp Hội nghị bàn về kế hoạch hợp tác hoá nông nghiệp kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ.

Phân tích tình hình nông thôn tỉnh ta, Hội nghị nhận định: nông thôn đã có nhiều tiến bộ, những hình thức bóc lột,  đặc quyền, đặc lợi phong kiến đã bị xoá bỏ về cơ bản. Phản ứng của các phần tử địa chủ, phong nông đối với phong trào hợp tác hoá rất yếu ớt. Trong tổng số 162 xã toàn tỉnh, chỉ còn 39 xã có nội dung cần cải cách dân chủ. Nhìn chung, những vấn đề tồn tại cuả cải cách dân chủ còn rất ít. Do vậy, trọng tâm chính của cuộc vận động này là hợp tác hoá nông nghiệp, căn bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các hộ nông dân cá thể. Vấn đề hoàn thành cải cách dân chủ chỉ tập trung vào một số việc chính là, xác định lại thành phần giai cấp, giải quyết vấn đề sở hữu tài sản của nông dân, và vấn đề đất đai các hộ địa chủ, phú nông còn bao chiếm.

Hội nghị khẳng định: Tổ chức thực hiện thành công cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển sản xuất kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu cơ bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa. Cuộc vận động này cần phải đạt được 4 yêu cầu cơ bản sau:

Một là, làm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của cuộc vận động, nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa, hăng hái tham gia phong trào đổi công, hợp tác xã, tăng cường đoàn kết nông thôn, đoàn kết dân tộc.

Hai là, nâng cao giác ngộ giai cấp cho nông dân, xác định rõ danh giới thành phần giai cấp ở nông thôn, xoá bỏ tàn tích chế độ phong kiến, giữ vững an ninh, trật tự.

Ba là, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cốt cán các dân tộc, củng cố hệ thống chính trị ở nông thôn.  

Bốn là, kết hợp hoàn thành tốt công tác trung tâm là sản xuất nông nghiệp và các công tác khác.

Cụ thể hoá hơn nữa mục tiêu của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trên địa bàn tỉnh, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (mở rộng) tháng 2 năm 1960 xác định: Trong năm 1960 phải đưa 80% số hộ nông dân vào hợp tác xã, (trong đó có 25% số hộ vào hợp tác xã bậc cao). Song song với hợp tác hoá nông nghiệp, phải mở rộng và củng cố phong trào hợp tác hoá thủ công nghiệp, tiểu thương và đẩy mạnh cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Căn bản hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp là nhiệm vụ hết sức nặng nề, song sẽ tạo ra một chuyển biến cách mạng ở nông thôn. Do vậy, phải tăng cường lãnh đạo công tác hợp tác hoá nông nghiệp, tất cả các ngành có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn phải coi phục vụ công tác hợp tác hoá nông nghiệp là nhiệm vụ cấp bách.

Qua bước làm thí điểm, sau nhiều hội nghị, Đảng bộ tỉnh đã làm rõ mục tiêu căn bản của công cuộc cải tạo  xã hội chủ nghĩa là nhằm xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Hợp tác hoá nông nghiệp là khâu chính trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa của tỉnh. Nội dung của nó bao gồm 3 mặt: Cải tạo quan hệ sản xuất, cải tiến kỹ thuật và giáo dục tư tưởng.

Đảng bộ tỉnh cũng chỉ ra rằng: Thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, phải thay thế các hình thức sở hữu cá thể bằng các hình thức sở hữu tập thể, nhằm mục địch phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân lao động. Nó phải đi dần từng bước, từ tổ đổi công với các hình thức từ thấp đến cao (đổi công từng vụ, đổi công thường xuyên đến đổi công chấm điểm), rồi tứ đó chuyển sang xây dựng hợp tác xã bậc thấp theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và  quản lý dân chủ. Trong quá trình thực hiện hợp tác hoá nông nghiệp, phải thực hiện tốt đường lối giai cấp của Đảng là: Dựa hẳn vào bần nông và trung nông lớp dưới, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, hạn chế, đi đến xoá bỏ sự bóc lột kinh tế của phú nông cải tạo phú nông; ngăn ngừa sự ngóc đầu dậy của địa chủ, tiếp tục mở đường cho địa chủ lao động cải tạo trở thành con người mới; kiên quyết đưa nông dân đi vào con đường hợp tác hoá nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp sẽ diễn ra mạnh mẽ. Từ tháng 10- 1959 đến tháng 10-1960 tỉnh đã tiến hành 3 đợt vận động hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển sản xuất kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ 33). Trên tất cả các địa bàn, nhiều nơi xin lập ngay hợp tác xã bậc cao. Tỉnh đã xây dựng thêm 381 hợp tác xã nông nghiệp, trong đó có 48 hợp tác xã bậc cao. Phong trào hợp tác xã phát triển mạnh cả vùng đồng bào dân tộc ít người và đồng bào công giáo 34). Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho hợp tác xã và thực hiện đường lối giai cấp ở nông thôn được chú ý 35).

Cuối năm 1960, Tuyên Quang cơ bản hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp. Toàn tỉnh đã thành lập 770 hợp tác xã 36) với 19.378 hộ xã viên (chiếm 84,31% tổng số hộ nông dân), trong đó có 173 hợp tác xã bậc cao (có 4.709 hộ xã viên) và 167 hợp tác xã nông – lâm nghiệp. Phong trào hợp tác hoá nông nghiệp phát triển mạnh, vững chắc, có 159 hợp tác xã thuộc  loại khá đạt giá trị ngày công từ 7 đến 13 kg thóc. Điển hình nhất là hợp tác xã Thanh La (nay là Minh Thanh, Sơn Dương). Các hợp tác xã dã quản lý 12.465 ha ruộng, đa số trâu bò và các công cụ lao động chủ yếu.

Thắng lợi của hợp tác hoá nông nghiệp còn thể hiện rõ ở việc hợp tác hoá kết hợp thuỷ lợi hoá. Hàng ngàn công trình thuỷ lợi nhỏ và vừa, một số công trình có sức tưới tiêu lớn tiếp tục được xây dựng. Từ ngày 17-10-1958 đến 25-1-1959 đã đầu tư 85.372 ngày công, 86.922.687 đồng để đào đắp 48 481m3 đá hoàn thành công trình trung thuỷ nông Trung – La có sức tưới 1.000 mẫu ruộng. Tháng 8-1960 công trình hồ Lưỡng Vượng được khánh thành. Tháng 12-1960 tỉnh khởi công xây dựng công trình thuỷ nông Phục Hưng (Sơn Dương). Phong trào cải tiến kỹ thuật trên một số mặt chủ yếu của sản xuất nông nghiệp như cấy dầy, chọn giống mới, làm phân xanh, cải tiến công cụ lao động... bắt đầu phát triển.

Tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ cải cách dân chủ, các cơ sở đã tập trung giáo dục 566 người chuyên làm nghề mo, then, bụt, tạo... Nhân dân đấu tranh, quy thêm 6 địa chủ, 41 phú nông đã quy trong giai đoạn trước có quá trình cải tạo tốt. Ta cũng tuyên bố chính thức quyền sở hữu của nông dân đối với ruộng đất, trâu, bò và tài sản đã được chia 37).

Phong trào hợp tác xã tín dụng, hợp tác xã mua bán phát triển, góp phần cải tạo toàn diện kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Từ 3 hợp tác xã thí điểm ở Ỷ la, Tứ Quận, Lang Quán (Yên Sơn), tới 1960 đã có 149 xã có hợp tác xã tín dụng, toàn tỉnh có 151 cơ sở tín dụng với 24.191 hộ xã viên (chiếm 70% tổng số hộ nông dân). Giữa năm 1960 trên 50% số hộ nông dân tham gia hợp tác xã mua bán. Tháng 5-1960, Tỉnh uỷ quyết định tổ chức thực hiện việc đưa của hàng hợp tác mua bán về xã. Tới cuối năm 1960, các hợp tác xã mua bán đã có 18.000 hộ xã viên và cổ đông. Hợp tác xã tín dụng và hợp tác xã mua bán đã góp phần mở rộng hoạt động lưu thông, phân phối xã hội chủ nghĩa ở nông thôn.

Qúa trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tiểu thương, thủ công nghiệp và công, thương nghiệp tư bản tư doanh diễn ra nhanh, thuận lợi. Tới tháng 11-1960 có 98% số hộ tiểu thủ công nghiệp và 66,4% số hộ tiểu thương đã tham gia các loại hình hợp tác xã 38).

Hoạt động của tư bản tư doanh ở tỉnh ta chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực thương nghiệp, tư sản công nghiệp ít, hầu hết tư sản đều thuộc loại nhỏ và vừa, hoạt động không chuyên doanh, đa số xuất thân từ dân lao động, mới giàu lên trong thời gian kháng chiến và từ sau hoà bình lập lại. Do vậy, thế lực kinh tế không lơn, nhiều hộ vẫn tiếp tục tham gia lao động, bản thân họ và gia đình đã từng tham gia kháng chiến và có thái độ ủng hộ chế độ. Tỉnh xác định chủ trương chung cải tạo công, thương nghiệp tư bản tư doanh là: sử dụng, hạn chế và cải tạo. Phương châm cải tạo: thực hiện bằng phương pháp hoà bình, lấy giáo dục chính sách và áp lực chính trị của công nhân, nhân dân lao động làm chính. Đây là chủ trương đúng đắn, phù hợp với thực tế phân hoá giai cấp ở thành thị tỉnh ta.

Sau đợt làm thí điểm (từ tháng 10-1959 đến 6-1-1960) tỉnh tiến hành đợt làm tập trung từ tháng 4 đến tháng 6 -1960 đối với tất cả các hộ thuộc diện phải cải tạo. 29 cán bộ các ngành cấp tỉnh, năm đồng chí Tỉnh uỷ viên và một đồng chí Thường vụ Tỉnh uỷ được tập trung để chỉ đạo trực tiếp công tác này. Công nhân, cán bộ, các hộ tiểu thủ công nghiệp, tiểu thương... hăng hái tham gia học tập chính sách, đấu tranh cải tạo tư sản. ở thị xã, qua 34 cuộc họp có 4.253 người tham gia học tập. Cuộc đấu tranh giai cấp đã làm chuyển biến căn bản tư tưởng của quần chúng lao động, nâng cao ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa trong nhân dân, đánh đổ hoàn toàn uy thế kinh tế, chính trị của tư sản.

Xây dựng công nghiệp quốc doanh địa phương, phát triển sản xuất thủ công nghiệp là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần tích cực vào cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xác lập quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa. Trong năm 1959, xí nghiệp sửa chữa cơ khí nhỏ, mỏ phốt phát thịnh Cường (Hàm Yên), nhiều cơ sở làm mật, đường, gạch, ngói... được xây dựng; nhà máy điện, xưởng in được trang bị thêm máy móc, mở rộng sản xuất.

Cuối năm 1960, Tuyên Quang cơ bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các hộ nông dân cá thể, thợ thủ công, tiểu thương và công, thương nghiệp tư bản tư doanh, xây dựng chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) xoá bỏ chế độ bóc lột, xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa làm cơ sở cho thắng lợi về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội...

Tuy vậy, trong khi tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, chúng ta cũng còn thiếu sót, khuyết điểm. Nhằm mục tiêu cơ bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa trong năm 1960, ở các địa phương đều có tình trạng gò ép, chạy theo số lượng, bỏ qua các bước tuần tự của hợp tác hoá nông nghiệp. Nhiều lúc cán bộ chỉ đạo chạy theo phong trào quần chúng. Việc làm ồ ạt, tập trung, dẫn tới việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ không theo kịp tốc độ phát triển của phong trào hợp tác xã. Hầu hết các nguyên tắc hợp tác hoá nông nghiệp (thận trọng, coi trọng chất lượng, tự nguyện cùng có lợi, quản lý dân chủ...) tuy đã được quán triệt song đều bị vi phạm. Ở giai đoạn đầu,các hợp tác xã còn lúng túng trong quản lý, cơ sở vật chất, kỹ thuật yếu kém, lạc hậu, năng suất lao động chưa cao, không ổn định...

Trong thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa, công tác xây dựng đảng gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ củng cố hệ thống chính trị, lãnh đạo quần chúng thi đua thực hiện kế hoạch nhà nước, đấu tranh chống Mỹ - Diệm.

Khi bắt đầu công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ tỉnh đã sớm vạch rõ: Nhiệm vụ lãnh đạo nông dân phát triển sản xuất theo con đường đổi công, hợp tác xã ngày càng trở thành nhiệm vụ trung tâm của Đảng ở nông thôn. Do vậy, yêu cầu xây dựng cơ sở đảng cả về tư tưởng, tổ chức cần phải được tiến hành nhanh, mạnh. Công tác giáo dục lý luận chính trị được tăng cường để trang bị cho cán bộ, đảng viên những kiến thức phổ thông về chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ của miền Bắc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ tháng 10 - 1958 đến tháng 3-1959, tỉnh tiến hành 3 đợt giáo dục đảng viên nông thôn. Trong các đợt chỉnh huấn mùa xuân và mùa thu 1960, 73,6% số đảng viên toàn tỉnh tham gia học tập. đặc biệt, đợt chỉnh huấn giữa năm 1959, qua học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14, lần thứ 15 và lần thứ 16 của Ban Chấp hành Trung ương, cán bộ, đảng viên nhận rõ hai nhiệm vụ cách mạng hiện nay, nhận thức sâu sắc hơn về con đường lên chủ nghĩa xã hội, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng.

Công cuộc tải tạo xã hội chủ nghĩa cùng với phng trào thi đua nở rộ trên khắp các lĩnh vực đã sản sinh ra những quần chúng ưu tú, hăng hái lao động, sản xuất, phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện cho công tác phát triển đảng phát triển mạnh. Năm 1959, Đảng bộ kết nạp 457 đảng viên mới. Đầu năm 1960, trong đợt "phát triển đảng lớp 6-1" và nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, 512 quần chúng ưu tú đã được kết nạp vào Đảng. Cuối năm 1960, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang gồm 5.060 đảng viên.

Các cơ sở đảng phát triển nhanh, mạnh, thường xuyên được củng cố. đầu năm 1959, tỉnh có 193 chi bộ, còn 6 xã chưa có đảng viên, tới cuối 1960, Đảng bộ tỉnh có 243 chi bộ (163 chi bộ nông thôn), tất cả các xã đều có đảng viên, chỉ còn 2 xã chưa có chi bộ. Cuối năm 1958 đầu năm 1959 và trong 3 tháng đầu năm 1960 các cấp bộ đảng tiến hành Hội nghị đại biểu và Đại hội. Trên cơ sở này, các cấp uỷ kiện toàn. Cuối 1960, toàn Đảng bộ có 1.147 chi uỷ viên, 87 huyện uỷ viên và tương đương. Các cơ sở đảng đều chuyển biến mạnh mẽ trong công tác lãnh đạo, tập hợp, tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Từ sau ngày hoà bình lập lại, chính quyền nhân dân ngày càng được củng cố, phát triển và hoàn thiện. Quá trình đó được đẩy mạnh khi bắt tay cải tạo xã hội chủ nghĩa. Bộ máy chính quyền các cấp chuyển mình cả về cơ cấu tổ chức lẫn phương thức hoạt động. Trong hoàn cảnh mới, nhân dân ngày càng có thêm điều kiện để thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, tham gia xây dựng chính quyền. Ngày 15-5-1959, có 93,64% cử tri đi bỏ phiếu bầu 2.640 đại biểu Hội đồng nhân dân xã và 52 đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Thành phần dan tộc, đại biểu nữ trong Hội đồng nhân dân các cấp được tăng cường 39). Ngày 11-7-1959, Hội đồng nhân dân tỉnh khoá IV đã họp phiên đầu tiên bầu ra Uỷ ban hành chính gồm 14 uỷ viên. Đồng chí Nguyễn Thu Sơn được bầu làm Chủ tịch, các đồng chí Lê Tùng, Triệu Kim Dung (Triệu Chi Năng) và Bàn Chí Hàm (Bàn Chí Thanh) được bầu làm Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh.

Ngày 8-5-1960 có 95,54% cử tri toàn tỉnh đã tham gia bầu cử quốc hội khoá II. Đoàn đại biểu Quốc hội khoá II của tỉnh có 4 người. Đó là các vị: Hồ Đắc Di, Ninh Văn Bình, Quan Ngọc Thuyết, (Quan Văn Quý) và Bàn Chí Hàm.

Đảm bảo thành công của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghiã, Đảng bộ tỉnh tăng cường củng cố, xây dựng quốc phòng, an ninh. Quân, dân ở khắp nơi nâng cao cảnh giác cách mạng, kịp thời phát hiện, kiên quyết đập tan mọi âm mưu, hành động phá hoại của bọn phản cách mạng.

Trong 6 tháng đầu năm 1959, Luật nghĩa vụ quân sự được tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong nhân dân kết hợp củng cố dân quân, tự vệ. Ngay đợt đầu thực hiện, tỉnh đã tuyển 356 tân binh, hoàn thành việc củng cố và xây dựng lực lượng dự bị, đưa lực lượng dân quân, du kích từ 3.854 người lên 9.028 người. Tới 1960, 1/3 số đảng viên tham gia dân quân, tự vệ, 60% số dân quân, tự vệ là đoàn viên thanh niên.

Từ năm 1959, với nòng cốt là lực lượng công an nhân dân, phong trào quần chúng bảo vệ trật tự trị an phát triển mạnh. Tháng 5-1960, tỉnh thành lập ban lãnh đạo công tác vận động trị an. Tháng 6-1960, ta thực hiện việc cải tạo tề nguỵ, các thành phần thuộc các tổ chức phản động cũ. Quân dân trên các địa bàn nâng cao cảnh giác, kịp thời phát hiện, đập tan âm mưu và hành động phá hoại của bạn phản cách mạng, những phần tử bất mãn.

Trong đấu tranh cải tạo xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng được rèn luyện, thử thách, khẳng định vị trí và vai trò của mình.

Từ 31 cơ sở với 2.143 đoàn viên trong năm 1958, tới năm 1960, toàn tỉnh đã có 96 công đoàn cơ sở với 5.266 đoàn viên. Giai cấp công nhân tham gia tích cực vào quá trình hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, ủng hộ công nhân, nhân dân lao động ở Angiêri và phụ nữ Á - Phi...

Đoàn Thanh niên Lao động trưởng thành rõ rệt (năm 1959 có 96 chi đoàn với 2.552 đoàn viên, tới 1960 đã có 269 chi đoàn, 9.873 đoàn viên), 98% số đoàn viên thanh niên tham gia phong trào hợp tác xã và trở thành nòng cốt trong cải tiến kỹ thuật, phát triển sản xuất. Trong ba năm, hơn một vạn đoàn viên thanh niên được công nhận là kiện tướng làm phân bón, 514 đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng.

Tới 1960, toàn tỉnh có 147 chi hội phụ nữ, 142/159 xã đã có tổ chức phụ nữ. Phụ nữ các dân tộc tích cực tham gia xây dựng hợp tác xã. Ở 519 hợp tác xã nông nghiệp đã có 15.714 nữ xã viên, 493 chị tham gia ban quản trị.

Trước những hành động xâm lược ngày càng trắng trợn của đế quốc Mỹ và tội ác đàn áp phong trào cách mạng miền Nam của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng trong tỉnh đã có nhiều hoạt động ủng hộ đồng bào miền Nam, gắn chặt với phng trào thi đua sản xuất. Tháng 7 năm 1959, tỉnh tiến hành một cuộc vận động tuyên truyền lớn nhân "ngày Việt Nam" (20-7). Phong trào ủng hộ đồng bào miền Nam đấu tranh chống Mỹ - Diệm ngày càng sâu sắc, rộng rãi. Nhân dân tỉnh nhà đã tổ chức hàng chục cuộc mít tinh lên án việc Mỹ - Diệm gây ra thảm sát ở Phú Lợi (1-12-1958 và ban hành đạo luật 10-59 (6-5-1959), thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào cách mạng miền Nam. 

Trong 3 tháng đầu năm 1959, hơn 10.000 người tham gia các cuộc mít tinh, 34.299 người ký tên vào 140 bản kiến nghị phản đối hành động tàn ác của Mỹ - Diệm ở miền Nam. Nhiều cơ sở tổ chức ngày lao động xã hội chủ nghĩa lấy tiền ủng hộ đồng bào Phú Lợi. Nhân dân khu vực Km31 (Tràng Dương, Hàm Yên) xây dựng mương tưới nước cho 30 mẫu ruộng, lấy tên "con mương Phú Lợi". Đoàn thanh niên tổ chức xây dựng các "thửa ruộng Phú Lợi" canh tác theo kỹ thuật tiên tiến. Ngày 3-4-1960, lễ kết nghĩa Tuyên Quang - Bình Thuận được tổ chức. Từ đây, hướng về miền Nam, hướng về đồng bào Bình Thuận được tổ chức. Từ đây, hướng về miền nam, hướng về đồng bào Bình Thuận anh em, nhân dân các dân tộc Tuyên Quang ngày càng có nhiều hành động thiết thực hơn. Tháng 5-1960, trên công trường mở đường Đèo Lai (Chiêm Hoá), đoàn thanh niên đã tổ chức "ngày làm đường nối liền Tuyên Quang - Bình Thuận".

Trong quá trình tiến hành cải tạo xã  hội chủ nghĩa, từ những kinh nghiệm của giai đoạn trước, được sự chỉ đạo và giúp đỡ, ủng hộ của khu Việt Bắc, nhiều mặt công tác lớn trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng được triển khai có hiệu quả. Đội ngũ cán bộ người dân tộc địa phương ngày càng lớn mạnh, phù hợp với cơ cấu thành phần dân tộc trong dân cư. Các hợp tác xã nông - lâm nghiệp ra đời cùng lúc khai thác được thế mạnh  về nông nghiệp và lâm sản. Các hợp tác xã xen ghép nhiều dan tộc giữ vững đoàn kết nội bộ, sản xuất tốt.

Nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên trong công tác này là tìm hướng đi, xây dựng vùng cao, vùng dân tộc vững mạnh về mọi mặt. Tháng 2-1958, Tỉnh uỷ ra Nghị quyết 16/NQ-TQ "Về công tác vùng rẻo cao" nêu rõ: phải tích cực củng cố và xây dựng các xã vùng  rẻo cao về tư tưởng, tổ chức. Cải tạo dần về sản xuất, nâng cao dần đời sống vật chất và văn hoá của đồng bào các dân tộc vùng rẻo cao định cư là chủ yếu.

Thực hiện chủ trương đó, năm 1958, xã Kim Sơn (Chiêm Hoá) được chọn làm thí điểm chỉ đạo rút kinh nghiệm về công tác vận động định canh, định cư. Thận trọng, lấy vận động, thuyết phục là chính, thường xuyên bám sát cơ sở để hỗ trợ kịp thời về mọi mặt, lựa chọn những người tích cực, có uy tín bồi dưỡng, đào tạo thành cán bộ cốt cán trực tiếp chỉ đạo phong trào ở cơ sở..., cuộc vận động định canh, định cư ở Kim Sơn thành công. Đồng bào chấm rứt cảnh du cư, du canh, xuống núi làm ruộng kết hợp làm thêm nương rẫy và thu hái lâm thổ sản. Đời sống mọi mặt được nâng lên. Thu nhập lương thực bình quân đầu người năm 1958 đạt 244kg, tới 1959 đạt 364kg.

Hướng đi mới trong giải quyết nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá vùng cao đã được thực tế kiểm nghiệm giúp tỉnh kiên quyết và chủ động hơn trong xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện công tác định canh, định cư.

Đầu năm 1959, Hội nghị bàn về công tác vùng cao với sự tham gia của tất cả các huyện và 48 xã có tình trạng du canh, du cư trầm trọng nhất đã xác định: Muốn đảm bảo chắc chắn nhất việc nâng cao không ngừng đời sống mọi mặt của đồng bào vùng cao, vấn đề cơ bản nhất là vận động đồng bào định canh, định cư đi đôi với hợp tác hoá, đẩy mạnh sản xuất, đưa các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế vào vùng này. Sau Hội nghị, hàng loạt cán bộ xuống cơ sở (nơi đồng bào chuyên sống bằng nương rẫy) vừa hướng dẫn đồng bào sản xuất vừa vận động đồng bào định canh, định cư. Đầu năm 1960 qua khảo sát 6 xã tại Na Hang, tỉnh kết luận: Sau khi định canh, định cư, xuống núi làm ruộng, đời sống của đồng bào được cải thiện.

Trong ba năm 1958-1960, tỉnh đã vận động 1/3 số đồng bào nêu cao định canh, định cư. Cuối năm 1960, ở 4 huyện Na Hang, Hàm Yên, Chiêm Hoá và Sơn Dương chỉ còn 1.100 hộ du canh, du cư. Đời sống của đồng bào đã chuyển biến tích cực. Nếu 3 năm (1957-1959) tỉnh phải trợ cấp cho vùng cao gần 100 tấn lương thực, 5.000 mét vải, hơn 200 con trâu và hàng trăm công cụ...thì tới 1960, đồng bào đã tự túc lương ăn, áo mặc, công cụ lao động. Tại các xã vùng cao đã có 27 y tá, 11 hộ sinh, 111 vệ sinh viên, 111 túi thuốc...Kết quả này là sự đột phá thể hiện chuyển biến mang tính cách mạng trong đời sống của đồng bào các dân tộc vùng cao.

Kết quả thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tác động sâu sắc, toàn diện đối với mọi mặt hoạt động của tỉnh. Chủ trương của Đảng, gắn cải tạo xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế, văn hoá làm đòn bẩy tạo bước chuyển mạnh mẽ về kinh tế xã hội theo chủ nghĩa xã hội được quán triệt và triển khai có  kết quả.

Năm 1960, năm cuối của kế hoạch 3 năm. Là năm đất nước có nhiều ngày lễ lớn: Kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, 15 năm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh (2-9), 70 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; là năm Đảng ta họp Đại hội toàn quốc lần thứ III.

Đầu năm 1960, các cấp bộ đảng tiến hành đại hội. Một trong những nhiệm vụ chính của đại hội các cấp kỳ này là nghiên cứu, thảo luận, tham gia ý kiến vào các dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III. Đây là cuộc vận động, sinh hoạt chính trị lớn. Đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa của Đảng, những mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới được toàn Đảng quán triệt sâu rộng.

Từ ngày 6 đến ngày 15 tháng 6-1960, Đảng bọ tỉnh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ III (vòng I) để thảo luận, thống nhất các ý kiến đóng góp vào Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III. 116 đại biểu thay mặt 5.060 đảng viên của tỉnh về dự Đại hội Đảng bộ. Thay mặt Trung ương Đảng, đồng chí Lê Văn Lương về trực tiếp chỉ đạo Đại hội Đảng bộ tỉnh.

Đại hội nhất trí cao đối với các vấn đề mang tính chiến lược của cách mạng nước ta, được trình bày trong các dự thảo Văn kiện, v.v...

Đại hội quyết định một số công việc quan trọng cần thực hiện lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III.

Phong trào thi đua hoàn thành kế hoạch năm 1960 và hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch 3 năm (1958, 1960) được phát động mạnh mẽ.

Hội nghị hợp tác xã bậc cao toàn tỉnh đã tuyên dương 7 hợp tác xã: Thanh la, Thái Bình, Bắc Giòn, Làng Ngòi, Làng Lũng, Làng Khán, Làng Dàm. Các hợp tác xã, các địa phương đã ký kết thi đua.

Trong tháng đầu của cuộc thi đua, nhiều điển hình đã xuất hiện. Phong trào làm thuỷ lợi, đảm bảo diện tích lúa diễn ra mạnh  ở các hợp tác xã: Thượng Lâm (Na Hang), Bóng Thời (Hồng Lạc, Sơn Dương), Ao Cam (Tràng Dương, Hàm Yên),Làng Ngòi (Mỹ Lâm, Yên Sơn), 514 hợp tác xã đã huy động 59.438 ngày công để làm mới 480 công trình thuỷ nông, sửa chữa 2.928 công trình khác. Trong vụ mùa, 70% diện tích lúa được cấy dầy (20 x 20), mỗi héc ta lúa được bón 5,6 tấn phân. Các huyện đều tổ chức hội nghị thi cấy dầy, riêng Sơn Dương đã có 1.188 người tham gia.

Tỉnh đoàn Thanh niên phát động phong trào "than niên dám nghĩ, kiên quyết làm", đưa thanh niên đi đầu phong trào làm phân bón, cải tiến kỹ thuật.

Phong trào thi đua "Phấn đấu trở thành người lao động tiên tiến, tổ tiên tiến, đơn vị tiên tiến", diễn ra sôi nổi trong cán bộ, công nhân, viên chức.

Kết thúc kế hoạch 3 năm (1958 - 1960), Tuyên Quang thu được những thắng lợi quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc 40). Sản lượng nông nghiệp có bước phát triển mạnh mẽ. Năm 1960 so với năm 1957, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng 26,9%. Trong 3 năm đã sản xuất 189.824 tấn lương thực. Sản lượng thóc hàng năm đều tăng; năm 1958 đạt 44.498 tấn, năm 1959 đạt 51.660, năm 1960 đạt 54.032 tấn. Diện tích lúa 2 vụ được mở rộng, năng suất lúa tăng từ 19,16 tạ/ha lên 24,33 tạ/ha. Trong ba năm, đã đầu tư làm mới, sửa chữa nhiều công trình thuỷ lợi. Phong trào cải tiến kỹ thuật đã bắt đầu phát triển. Thu nhập lương bình quân đầu người tăng từ 383 kg (năm 1957) lên 445 kg (năm 1960). Tới năm 1960, tỉnh có 52/864 con trâu, chăn nuôi lợn phát triển mạnh trong nhân dân.

Nghề rừng, một trong ba thế mạnh của tỉnh, có nhiều tiến bộ. Các hình thức kinh doanh, khai thác lâm sản khá đa dạng (quốc doanh, công trường khai thác của quân đội, hợp đồng khai thác giữa nhân dân, các hợp tác xã với nhà nước...). Trước thực trạng việc trồng rừng phát triển chậm, vốn rừng bị suy giảm nhanh...tỉnh bắt đầu đẩy mạnh việc điều tra, phân loại và khoanh rừng, thành lập 2 trạm cải tạo rừng (Phan Lương và Trung Môn) để ươm cây giống phục vụ công tác trồng rừng. So với năm 1957, giá trị tổng sản lượng lâm nghiệp năm 1960 tăng 40%.

Công nghiệp và thủ công nghiệp phát triển nhanh. So với năm 1957, gái trị tổng sản lượng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng 87,5%, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 23,3%. Chúng ta đã xây dựng và phát triển mạnh công nghiệp quốc doanh địa phương. Từ chỗ chỉ có ngành in và điện lực, tới 1960 phát triển thêm 6 ngành mới. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp quốc doanh địa phương đã chiếm 43,85% trong giá trị tổng sản lượng công nghiệp, thủ công nghiệp của tỉnh.

Trong ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, giao thông vận tải, bưu điện và xây dựng cơ bản phát triển, phục vụ tốt yêu cầu xây dựng kinh tế, văn hoá, củng cố quốc phòng,an ninh. Đã khôi phục, mở rộng, làm mới 202 km đường. Một số tuyến đường mới được khánh thành, trong đó có tuyến đường Chiêm Hoá-Minh Đức 41), Chiêm Hoá - Na Hang. Khối lượng vận tải trong 3 năm đạt mức 67.442.000 tấn/cây số. Đường điện thoại thông suốt từ tỉnh đi các huyện và nối thêm mạng đi hạ huyện Sơn Dương. Đã đầu tư 1.890.000 đồng cho xây dựng cơ bản(chiếm 22,9% tổng chi ngân sách của 3 năm), tăng 1,36 lần so với thời kỳ 1955-1957).

Trên cơ sở sản xuất có tiến bộ, công tác lưu thông, phân phối chuyển biến tích cực. Thu ngân sách của địa phương tăng lên 6,6% so với giai đoạn trước, chi ngân sách tăng 11,5% (trong đó trên 50% là chi cho phát triển kinh tế và văn hoá, xã hội). Từ 24 cửa hàng (năm 1957), tới 1960, đã có 77 cửa hàng thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán. Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa  chiếm lĩnh hoàn toàn khu vực bán buôn, và 81,59% khu vực bán le. So với năm 1957, doanh số bán ra của mậu dịch quốc doanh bằng 318,65%, doanh số thu mua bằng 742,65%.

Sự nghiệp văn hoá, y tế phát triển, đi sâu vào nông thôn, tạo khí thế vui tương, lành mạnh,nâng cao hiểu biết khoa học kỹ thuật, bài trừ mê tín dị đoan, bước đầu xây dựng nếp sống mới trong nhân dân. Trong ba năm, có 1.226.000 lượt người xem chiếu bóng, cố lượng sách báo phát hành đạt 1.737.000 bản, các tổ văn nghệ quần chúng tăng 2 lần so với năm 1957, đã xây dựng thêm 2 đài truyền thanh ở huyện Chiêm Hoá và Nà Hang. Việc đọc báo, nghe đài có tác dụng tốt trong nhân dân. So với 1957, các cơ sở điều trị tăng 47,7 lần, phong trào phòng bệnh và rèn luyện sức khoẻ phát triển tốt .

Sự nghiệp giáo dục được chăm lo thường xuyên. Trong ba năm, đã xoá mù chữ cho 15.476 người (tăng 4,5 lần so với năm 1957), trong đó 30 xã đã thoát nạn mù chữ. Tất cả các huyện đều có trường bổ túc văn hoá tập trung. Trong ba năm có 12.164 người nãm khoá học bổ túc văn hoá (tăng 4,25 lần so với 1957). Phục vụ công tác đào tạo cán bộ người dân tộc, năm 1959 tỉnh thành lập trường thiếu nhi vùng cao, năm 1960 lại mở tiếp trường văn hoá dân tộc. Giáo dục phổ thông phát triển nhanh. Tới 1960, đã xây dựng 197 trường phổ thông, tất cả các xã đều có trường cấp 1. Năm 1959, trường phổ thông cấp III của tỉnh được xây dựng. Năm 1960, toàn tỉnh có 13.394 học sinh phổ thông các cấp, tăng 97,5% so với năm 1957 (riêng học sinh người dân tộc tăng 10 lần) và 10.056 em học sinh vỡ lòng (tăng 62% so với 1957).

Trong thực hiện kế hoạch nhà nước ba năm (1958 - 1960) nhiều cá nhân, tập thể điển hình xuất hiện, tạo khí thế thi đua, 4.340 lao động tiên tiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ tặng 7 Huân chương Lao động, 3 bằng khen cho các cá nhân, tập thể xuất sắc. Năm 1959, Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng hai cho tỉnh vì đã có thành tích xuất sắc về phát triển sản xuất trong hai năm (1959 - 1960).

 *      * 

Từ nửa cuối năm 1954 cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; tiếp tục hoàn thành cách mạng ở miền Nam. Khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa để đưa miền Bắc tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội là những bước đi phù hợp để xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa chiến lược của cách mạng cả nước. Với thuận lợi của một tỉnh vốn là căn cứ địa kháng chiến chống Pháp, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Tuyên Quang có nhiều cố gắng thực hiện thành công nhiều nhiệm vụ trọng yếu.

Hơn ba năm tiến hành khôi phục kinh tế, nông nghiệp - ngành kinh tế trọng yếu của tỉnh phát triển mạnh, sự ổn định địch về chính trị được củng cố, nhiều nhân tố mới xuất hiện, Quá trình thực hiện cải tạo xã hôi chủ nghĩa ,bước đầu phát triển kinh tế, văn hoá (1958 - 1960) tạo ra những tiền đề tư tưởng, tổ chức và lực lượng vật chất để tiến mạnh vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là thời kỳ Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà từng bước tiếp cận với lý luận và thực tiễn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Tiềm năng, thế mạnh của tỉnh bước đầu được phát hiện, khai thác. Những khó khăn, thách thức cũng bộc lộ. Cải tạo xã hội chủ nghĩa toàn diện nền kinh tế,xã hội là công việc hoàn toàn mới đã được hoàn thành "một cách cơ bản" nhưng cũng có vấp váp, thiếu sót.

Thời kỳ khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa để lại cho Đảng bộ nhiều kinh nghiệm quý báu.

Một là: trong những bước chuyển tiếp giai đoạn cách mạng, việc năm vững yêu cầu nhiệm vụ mới từ đó làm tốt công tác chính trị, tư tưởng trên cơ sở triển khai nhanh đường lối, chủ trương và các chỉ thị , nghị quyết của Đảng, phát huy truyền thống cách mạng của quần chúng nhân dân là yếu tố quan trọng hàng đầu giữ vững ổn định, phát triển của phong trào cách mạng.

Thời kỳ 1954 - 1960 là thời kỳ Tuyên Quang chuyển từ chiến tranh sang hoà bình; chuyển từ hậu phương kháng chiến chống Pháp sang là một tỉnh nằm trong miền Bắc hoà bình, đi lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; chuyển từ nền kinh tế tiểu nông lạc hậu, tự cấp, tự túc sang thời kỳ xây dựng nền kinh tế có kế hoạch với kế hoạch sản xuất mới dựa trên hai hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu toàn dân. Bước chuyển đó diễn ra trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn chủ quan và khách quan.Nhiệm vụ mới đặt ra,song điều kiện vật chất, tinh thần để thực hiện chưa đủ. Đó chính là lúc tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc cần được phát huy cao độ để tạo sức mạnh đưa ra phong trào cách mạng vượt qua khó khăn.

Từ 1954 đến 1960, thời gian không dài, nhưng Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà đã phải vượt qua nhiều khó khăn, thử thách: nạn đói kéo dài từ năm 1954 tới cuối năm 1955; âm mưu của địch nhằm phá hoại, kích động, lôi kéo một số giáo dân hồi cư về quê cũ hoặc di cư vào Nam; và sự chống đối của các phần tử phản động. Bên cạnh đó là những non kém về công tác chính trị tư tưởng, kinh nghiệm lãnh đạo của cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp khi bước vào giai đoạn cách mạng mới. Thực tế, sau tháng 5-1954, có lúc chúng ta không lường trước được những diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên sau khi kết thúc chiến tranh, do vậy, phong trào chung có những lúc chững lại. Trước tình hình trên, Đảng bộ tỉnh đã kịp thời nắm bắt được tình hình, tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, triển khai sâu rộng công tác chính trị tư tưởng,các đợt sinh hoạt chính trị, các cuộc vận động quần chúng. Do đó đã giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân vượt lên khó khăn và thử thách, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới.

Hai là, luôn nắm vững đặc điểm tình hình của địa phương, tìm tòi, thử nghiệm, xác định bước đi phù hợp cho từng vùng, từng dan tộc theo định hướng chung của Đảng.

Cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tất yếu của thời kỳ quá độ lê chủ nghĩa xã hội, là cả một quá trình đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt. Nó đã sớm trở thành phong trào của quần chúng và thu được kết quả là nhờ Đảng bộ tỉnh đánh giá đúng tương quan lực lượng, sự phân hoá giai cấp ở địa phương, xu thế đi lên chủ nghĩa xã hội của quần chúng. Mặt khác, đã quán triệt và thực hiện đường lối giai cấp của Đảng trong cải tạo xã hội chủ nghĩa; xác định và thực hiện tốt phương châm chủ đạo "vừa làm vừa rút kinh nghiệm và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, mạnh dan, khẩn trương nhưng vững chắc, không dè dặt, cũng không hấp tấp, nóng vội".

Ngay ở thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ tỉnh đã thấy rõ một đặc điểm nổi bật của tỉnh là có nhiều dân tộc, trình độ mọi mặt của các dân tộc có sự khác nhau. Do vậy, việc rút ngắn khoảng cách về trình độ mọi mặt giữa các dân tộc là vấn đề có tính chiến lược, cấp bách. Nhưng thực hiện được là cả một quá trình. Vận động đồng bào định canh, định cư để phát triển sản xuất, ổn định đời sống là khâu đột phá để đồng bào có điều kiện hoà nhập vào bước phát triển chung của tỉnh. Thực tế chứng minh, đây là chủ trương hết sức đúng đắn. Từ những bước làm thí điểm, tỉnh dần dần rút ra được cách làm tốt nhất để thực hiện có kết quả công tác định canh, định cư.

Ba là, kết hợp ngay từ đầu việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng phát triển kinh tế, xã hội với lãnh đạo, tổ chức nhân dân bảo vệ vững chắc địa bàn, hưởng ứng, ủng hộ cuộc đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta cùng lúc phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở miền Bắc theo con đường chủ nghĩa xã hội và tham gia đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ mật thiết. Giải quyết mối quan hệ đó, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo nhân dân xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh, dập tắt mọi âm mưu, hành động chống phá cách mạng của kẻ thù; dấy lên phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, phản đối Mỹ - Diệm đàn áp phong trào cách mạng miền Nam. Đây là kinh nghiệm bước đầu về giải quyết mối quan hệ giữa hậu phương và tiền phương trong hoàn cảnh mới.

Tiếp nối các phong trào thi đua trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, phng trào thi đua lao động sản xuất, phong trào hướng về đồng bào miền Nam ruột thịt sớm được phát động đã tạo nên sức mạnh vật chất, tinh thần đảm bảo cho bước phát triển mới của phong trào cách mạng tỉnh nhà.

Tăng gia, sản xuất, cứu đói và chống đói, cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế - văn hoá là yếu tố trực tiếp, quyết định, tạo cơ sở vật chất để củng cố địa bàn; phong trào ủng hộ đồng bào miền Nam, phong trào chống Mỹ - Diệm vi phạm, phá hoại việc thực hiện Hiệp định Giơnevơ của nhân dân tỉnh nhà dã góp phần đẩy mạnh hơn nữa phong trào lao động sản xuất trong nhân dân các dân tộc.

Phong trào thi đua vì chủ nghĩa xã hội và thi đua vì sự nghiệp thống nhất đất nước đã kết hợp, hoà quyện với nhau, trở thành động lực thúc đẩy cao trào cách mạng của nhân dân trong tỉnh nói riêng, của toàn miền Bắc nói chung.       

_________________________

1. Xem: Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mac – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam (1954 -1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.II, tr, 42.

2. Nghị quyết số 17/NQ-TQ ngày 15-2-1958 của Tỉnh uỷ Tuyên Quang về nhiệm vụ công tác năm 1958 của Đảng bộ Tuyên Quang. (Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy).

3. Theo thống kê chưa đầy đủ, đợt giáp hạt tháng ba năm 1955 xảy ra ở 151 xã (có 3.651 hộ gia đình gồm 14.543 người bị đói rét), làm cho nhiều người chết vì bị sưng phổi: ở Sơn Dương, trong 12 xã có 131 người chết, ở 14 xã của huyện Yên Bình có 122 người chết, ở 18 xã của huyện Yên Sơn có 129 người chết, ...

4. Từ tháng 7 năm 1954 tới 1956 có lúc chỉ có 6 đồng chí Tỉnh ủy viên, 15 đồng chí Huyện ủy viên đang trực tiếp công tác tại tỉnh, tất cả các huyện đều thiếu Chủ tịch, Phó Chủ tịch; Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh chỉ có 1 đồng chí.

5. Báo cáo kiểm điểm công tác năm 1955 của Tỉnh ủy Tuyên Quang. (Tài liệu lưu trữ Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy).

6. Xem: Viện ngiên cứu chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam (1954- 1975 ), Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 1995, t.II, tr.69-70

7. Báo cáo 36 / BC-TQ về kết qủa học tập nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 10, ngày 1-12-1956 của Tỉnh uỷ Tuyên Quang. (Tài liệu lữu trữ tại văn phòng Tỉnh uỷ ).

8.Toàn tỉnh đã hạnh thành phần cho 516 địa chủ, 579 phú nông; phục hồi đảng tịch cho 554 đảng viên; trả lại chức vụ cho709 người ở các tổ chức dân, chính, đảng cấp xã; củng cố chi uỷ, uỷ ban hành chính, xã đội, công an của 127 xã, củng cố 139 Ban Chấp hành Nông hội.

 9. Báo cáo số 30/BC-TQ ngày 13-11-1957 của Tỉnh uỷ Tuyên Quang về tổng kết công tác sửa sai tỉnh Tuyên Quang. (Tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh uỷ).

10. Tháng 9-1957, tỉnh bắt đầu tiến hành các đợt “Huấn luyện đảng viên nông thôn” với nội dung trọng tâm là giáo dục đảng viên về tính chất, mục đích của Đảng, nhiệm vụ của chi bộ, đảng viên và nhiệm vụ công tác trước mắt của Đảng. Chỉ trong tháng 1 tiến hành đợt I (từ 20 – 10-1957), tỉnh đã mở 48 lớp huấn luyện cho 1.151 đảng viên của 103 chi bộ (gần 40% đảng viên toàn tỉnh).

11. Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm các đồng chí: Nguyễn Xuân Việt, Nguyễn Gia Hạc, Lê Quang Hùng, Lê Tùng, Nguyễn Văn Luân; các đồng chí Tỉnh ủy viên mới được bổ sung: Nguyễn Thu Sơn, Dương Phúc, Lương Hồng THái, Bàn Chí Hàm, Hoàng Khải Giáp (Khắc Trung), Nguyễn Thị Nguyên. Giữa năm 1957, đồng chí Triệu Kim Dung (Chi Năng) được bổ sung vào tỉnh ủy thay cho đồng chí Nguyễn Thị Nguyên.

12. Chỉ thị số 02/CT-TQ ngày 20-4-1957 của Tỉnh ủy Tuyên Quang về củng cố và phát triển phong trào đổi công năm 1957.

13. Sản lượng lương thực bình quân trong thời kỳ kháng chiến (tính cả huyện Yên Bình) là 46.200 tấn. Theo báo cáo ngày 15-1-1957 của Ty Nông nghiệp Tuyên Quang thì trong năm 1956 tỉnh cấy được 22.883,5 ha lúa, sản lượng thóc đạt 50.865,3 tấn.

14. Theo Báo cáo về tình hình công tác lâm nghiệp năm 1956 số 2112/KTTC ngày 12-1-1957 của Ủy ban hành chính tỉnh; năm 1956, diện tích rừng toàn tỉnh có khoảng 400.000 ha, trong đó 25% là rừng ót, 40 số rừng gỗ đã hết khả năng khai thác.

15. Theo Nghị quyết về nhiệm vụ công tác năm 1956, số 17/NQ-TQ ngày 15-2-1956 của Tỉnh ủy Tuyên Quang: Doanh số mua vào các ngành bách hóa, lâm sản, lương thực năm 1956 là 2 tỷ, năm 1957 là 3 tỷ, doanh số bán ra của các cơ sở này năm 1956 là 3,9 tỷ, năm 1957 là 4,2 tỷ đồng.

16. Năm 1955 có 9.557 người theo học tại 1.245 lớp bình dân học vụ, bổ túc văn hóa. Năm 1956 tỉnh bồi dưỡng 570 giáo viên bình dân học vụ, tập huấn cho 506 giáo viên phổ thông, xóa mù chữ cho 7.956 người (bằng 390%  năm 1955), các lớp phổ thông cấp I – II có 7.123 học sinh.

17. Báo cáo số 95/BC-TQ về kiểm điểm công tác  năm 1955 ngày 15-12-1955 của Tỉnh ủy: Mùa đông năm 1954-1955, bệnh tật phát sinh nhiều. Trong 58 xã đã có 485 người bị chết vì sưng phổi và sốt rét ác tính.

18. Tới giữa năm 1957, toàn tỉnh có 3.521 hộ với 13.027 nhân khẩu chuyên sống bằng nương, rẫy, tạp trung nhiều nhất ở Chiêm Hóa, Nà Hang. Đời sống của đồng bào rất khó khăn, thiếu đói nặng, 6 tháng đầu năm 1957 tỉnh đã phải cấp 21.449 kg gạo cứu tế cho 390 gia đình gồm 1836 nhân khẩu tại các huyện: Chiêm Hóa, Hàm Yên, Nà Hang, Yên Sơn. (Báo cáo số 15/BC-TQ về công tác 6 tháng đầu năm 1957 của Tỉnh ủy).

19. Xem: Nghị quyết số 48/NQ-TQ về nhiệm vụ công tác kinh tế, tài chính năm 1957 của Tỉnh ủy Tuyên Quang.

20. Báo cáo 03/BC-TQ ngày 6-2-1957 của Tỉnh ủy Tuyên Quang về tổng kết công tác năm 1956.

21. Xem: Những sự kiện Lịch sử Đảng (về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Việt Nam) 1954 – 1975, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1982, t.IV, tr.78.

22. Nghị quyết số 17/NQ-TQ ngày 15-2-1958 của Tỉnh uỷ Tuyên Quang về nhiệm vụ công tác năm 1958 của Đảng bộ Tuyên Quang. (Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy).

23. Báo cáo kiểm điểm công ác trước Hội nghị đại biểu Đảng toàn tỉnh tháng 1-1959 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang. (Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng).

24. Xem: Báo cáo về tình hình nghiên cứu xây dựng hợp tác xã thí điểm tại 2 xã Tứ Quận (Yên Sơn) và Yên Nguyên (Chiêm Hoá). Báo cáo số 05/BC-NH ngày 16-6-1958 của Ban Thường vụ Nông hội Tuyên Quang. Thôn Dàm thuộc xã Tứ Quận – Yên Sơn, có 29 hộ với 82 nhân khẩu, 60 lao động (100% đồng bào Kinh), có 47 mẫu ruộng, 45 con trâu; thôn có 6 đảng viên, phong trào tổ đổi công được xây dựng từ năm 1951, toàn bộ - 29 hộ nông dân của thôn đã tham gia sản xuất trong năm tổ đổi công thường xuyên.

25. Báo cáo kiểm điểm công tác trước Hội nghị đại biểu Đảng toàn tỉnh tháng 1-1959 cuả Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang. (Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng).

26. Năm 1958, tỉnh sản xuất được 44.999 tấn thóc, 12.359 tấn hoa màu chính, 9.610 tấn sản phẩm cây công nghiệp, chăn nuôi trên 5 vạn con trâu, 9 vạn con lợn.

27. Các văn kiện của Hội nghị này đều ghi là “Hội nghị đại biểu toàn Đảng bộ”. Nhưng căn cứ vào nội dung, diễn biến của Hội nghị; căn cứ vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III (tháng 3-1961) ghi là “...từ Đại hội Đảng bộ toàn tỉnh đầu năm 1959”: và tham khảo ý kiến của nhân chứng lịch sử thì Hội nghị đại biểu toàn Đảng bộ (tháng 2-1959) chính là Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ II. Song, để đảm bảo tính lịch sử, khi trình bày về Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II, chúng tôi vẫn dùng văn từ của tài liệu lưu trữ là “Hội nghị đại biểu toàn Đảng bộ”. (BBT).

28. Nghị quyết Hội nghị toàn Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam tỉnh Tuyên Quang về nhiệm vụ công tác năm 1959. (Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, hồ sơ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II).

29. Nghi quyết Hội nghị toàn Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam tỉnh Tuyên Quang về nhiệm vụ công tác năm 1959. (Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, hồ sơ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II).

30. Nghị quyết Hội nghị toàn Đảng bộ. Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

31. Xem phần Phụ lục.

32. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Tuyên Quang gồm các đồng chí: Nguyễn Xuân Việt, Trần Hoài Quang, Lê Tùng, Nguyễn Thu Sơn, Vũ Kiên, Lê Quang Hùng, Dương Phúc, đồng chí Nguyễn Thu Sơn giữ chức vụ Chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh.

33. Đợt thí điểm, tỉnh làm tại 3 xã từ tháng 10-1959, các huyện làm thí điểm tại 14 xã (từ 10-2-1960 đến 10-3-1960). Đợt 1 bắt đầu từ 15-3-1960 tại 83 xã và khu vực nông thôn của thị xã Tuyên Quang. Đợt 2 bắt đầu từ 15-7-1960 ở 60 xã còn lại. Toàn tỉnh đã bồi dưỡng nghiệp vụ hợp tác hoá nông nghiệp cho 595 cán bộ. Hơn 90% chi uỷ viên, 75% đến 85% cán bộ và đại biểu hội đồng nhân dân xã không phải là đảng viên, 80% nhân dân tham gia học tập các tài liệu của Đảng, Nhà nước về cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ.

34. Báo cáo tổng kết cuộc vận động hợp tác hoá, phát triển sản xuất kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ, số 17/BC-CCDC ngày 30-10-1960 của Tỉnh uỷ đã ghi: Tới tháng 10-1960, có 57,1% số hộ Cao Lan, 32,6% số hộ người Dao quần trắng và 55,9% số hộ giáo dân đã vào hợp tác xã.

35. Trong cuộc vận động, tỉnh mở 29 lớp bồi dưỡng 2.510 cán bộ quản lý hợp tác xã, các ngành bồi dưỡng kỹ thuật, văn hoá cho 1.361 cán bộ chuyên môn của hợp tác xã; tỉnh mở 6 hội nghị có 630 người tham gia trao đổi phát triển sản xuất, kinh nghiệm quản lý hợp tác xã. Trong 514 hợp tác xã, có 5.218 cán bộ quản trị, kiểm tra và 514 kế toán có 1.488 người thuộc thành phần bần nông, 1.263 trung nông lớp dưới; 608 trung nông và trung nông lớp trên.

36. Trong đó vùng thấp có 706 hợp tác xã, chiếm 88,5% cố hộ nông dân; vùng cao có 64 hợp tác xã, chiếm 61,1% số hộ nông dân trong vùng; vùng Thiên chúa giáo có 38 hợp tác xã, chiếm 55,9% số hộ giáo dân.

37. Kể cả trong giảm tô và cải cách dân chủ, chúng ta đã tịch thu của địa chủ, phú nông 2.694 mẫu ruộng chia cho 1.755 hộ nông dân và 3 hợp tác xã; 692 con trâu, bò để chia cho các hộ nông dân.

38. Tháng 6-1960 tỉnh có 26 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp với 553 hộ xã viên 374 hộ tiểu thương đã tham gia các loại hình hợp tác xã.

39. 13% đại biểu Hội đồng nhân dân xã là nữ, 18 dân tộc đã có người tham gia Hội đồng nhân dân xã. Hội đồng nhân dân tỉnh khoá IV có 15% đại biểu là nữ.

40. Số liệu về phát triển kinh tế - xã hội ở đây được lấy từ “Báo cáo tình hình và nhiệm vụ của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ III”  “Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trong cuộc chỉnh huấn mùa xuân 1961".(Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, hồ sơ Đại hội III).

41. Đây là tuyến đường nối huyện lỵ Chiêm Hóa với 5 xã ở vùng thượng huyện. Tuyến đường dài 31 km, phải làm mới 12 cầu gỗ, 12 đường ngầm, 76 chiếc cống trọng điểm của tuyến này là Đèo Lai, dài 4.100 mét, trước đây thực dân Pháp mới chỉ làm được 100 mét. Được hoàn thành từ tháng 11-1960 là một điểm tham quan rút kinh nghiệm về giải phóng đôi vai của Hội nghị cải tiến kỹ thuật toàn miền Bắc.