Chương VIII: Góp phần đánh bại chiến lược "Việt nam hóa chiến tranh" của Mỹ - Ngụy (1969 - 1973)

Cập nhật lúc 14h46  -  Ngày 08/06/2017

share facebookgửi emailin bài này

Chương VIII

Góp phần đánh bại chiến lược  "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ - Ngụy (1969 - 1973) 

I. CHỐNG MỸ - NGỤY BÌNH ĐỊNH, LẤN CHIẾM, GIÀNH VÀ GIỮ DÂN

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam từ Tết Mậu Thân và những thắng lợi của ta trong năm 1968 đã đánh một đòn chí mạng vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm suy sụp tinh thần của ngụy quân, ngụy quyền. Quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam đã đánh vào hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn, các căn cứ quân sự của Mỹ - ngụy, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, tìm giải pháp rút quân trong danh dự. Chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ thất bại và thắng lợi của quân dân miền Nam đã làm chấn động dư luận nước Mỹ và thế giới, tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, ngoại giao của Mỹ.

Thất bại nặng nề về quân sự và ngoại giao, cùng với những thay đổi về so sánh lực lượng trên thế giới không có lợi cho Mỹ, buộc chúng phải thay đổi chiến lược chiến tranh, thực hiện chính sách "phi Mỹ hóa chiến tranh" để rút dần quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng với bản chất hiếu chiến, chính quyền Giônxơn vẫn ngoan cố tiếp tục kéo dài chiến tranh xâm lược ở miền Nam bằng lực lượng ngụy quân, nhằm cố giữ các thành phố, thị xã, quận lỵ, các căn cứ quân sự, các đường giao thông chiến lược, những vùng đông dân, nhiều của, để giữ cho Mỹ khỏi bị thiệt hại nặng và ngụy quân, ngụy quyền khỏi tan rã, sụp đổ.

Ngày 20-1-1969, Níchxơn thay Giônxơn làm Tổng thống nước Mỹ và đề ra chiến lược toàn cầu mang tên "Học thuyết Níchxơn". Học thuyết này được vận dụng cụ thể trong những chiến lược chiến tranh ở từng nước. Đối với Việt Nam là chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Thực chất của chiến lược này là "dùng người Việt đánh người Việt" bằng tiền và vũ khí của Mỹ, do Mỹ chỉ huy, nhằm thông qua quân ngụy để kéo dài và giành thắng lợi cho cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng giảm được nhiều chi phí và giảm chết chóc, thương vong binh lính Mỹ, "thay đổi màu da trên xác chết". Kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ được chia làm ba giai đoạn.

Giai đoạn 1: Tập trung đánh phá, bình định nông thôn, gấp rút bắt lính, tăng cường lực lượng cho quân ngụy.

Giai đoạn 2: Rút dần quân chiến đấu trên bộ của Mỹ về nước, hỗ trợ tối đa về không quân, hải quân và pháo binh Mỹ cho quân ngụy đánh phá căn cứ của ta, cắt đứt hành lang chi viện của miền Bắc cho miền Nam.

Giai đoạn 3: Chuyển giao vũ khí, phương tiện chiến tranh, giao nhiệm vụ chiến đấu cho ngụy quân, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu về nước.

Chính quyền Mỹ dự kiến kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh" sẽ hoàn thành trong vòng ba năm rưỡi, nhằm phục vụ cho Níchxơn trong chiến dịch tái tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2 vào tháng 11-1972.

Biện pháp quan trọng nhất trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" là tăng cường lực lượng quân ngụy, xây dựng mọi lực lượng ngụy quân thành đội quân tay sai hiện đại, thiện chiến làm lực lượng chủ yếu tác chiến trên các chiến trường ở miền Nam, có thể thay thế quân Mỹ chiến đấu trên bộ. Thực hiện mục tiêu đó, Mỹ - ngụy tăng cường bắt lính, đôn quân, phát triển các loại quân địa phương đủ sức làm công việc bình định, kìm kẹp dân, phòng thủ vũ trang, thay cho quân chủ lực ngụy rút ra làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu.

Đòn chính của "Việt Nam hóa chiến tranh" là tập trung vào việc "bình định nông thôn" để kiểm soát đại bộ phận nhân dân, từng bước làm mất chỗ đứng chân của cách mạng và giành lại vùng nông thôn rộng lớn mà ta đã giải phóng. Mỹ - ngụy sử dụng tối đa sức mạnh quân sự ở miền Nam, tiến hành cùng một lúc ba loại chiến tranh: chiến tranh giành dân, chiến tranh bóp nghẹt và chiến tranh hủy diệt. Chúng dùng nhiều biện pháp để bao vây, triệt phá, bóp nghẹt kinh tế, đánh phá hành lang vận chuyển nhằm cắt đứt chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc cho miền Nam; bóp nghẹt cuộc kháng chiến ở miền Nam, làm cạn kiệt sức chiến đấu của quân và dân ta. Chúng lập kế hoạch trước khi rút dần quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, tập trung lực lượng, phương tiện chiến tranh để tiến hành "bình định cấp tốc", "bình định và xây dựng", "bình định đặc biệt", nhằm đẩy lực lượng giải phóng ra xa các đô thị, ra khỏi miền Nam, chiếm đóng lại toàn bộ vùng giải phóng; từng bước tiêu diệt cuộc kháng chiến của quân và dân miền Nam, giữ quyền thống trị của Mỹ - ngụy.

Trên chiến trường Liên khu V, chúng chọn Tây Nguyên làm nơi thí điểm chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Ở Gia Lai, chúng khẩn trương tăng quân số, đưa lính dân vệ lên bảo an, đưa lính bảo an lên lính cộng hòa và bắt lính ồ ạt, phát triển phòng vệ dân sự. Hai tháng đầu năm 1969, chúng đã bắt hơn 4.000 lính, trong đó có 1.500 lính là người dân tộc thiểu số Bahnar, Jrai đưa đi đào tạo, huấn luyện tại các trung tâm huấn luyện biệt kích Plei Hmơnông, Chư Ngheh, Pleime và Plei Rơngol. Lực lượng quân ngụy ở Gia Lai tăng thêm hai tiểu đoàn biệt kích, một chi đoàn thiết giáp, 600 cảnh sát, 14 trung đội dân vệ, đưa tổng số trung đội dân vệ toàn tỉnh lên 102; tăng thêm 12 đoàn bình định, tổ chức 700 phòng vệ dân sự, trang bị vũ khí ở các ấp chiến lược. Chúng ráo riết bắt lính, đôn quân, tổ chức dân vệ, phát triển phòng vệ dân sự vừa nhằm tăng cường lực lượng ngụy quân, đưa lực lượng ngụy trực tiếp làm nhiệm vụ bình định, vừa củng cố bộ máy ngụy quyền. Địch củng cố, xây dựng thế phòng thủ ở thị xã, thị trấn, khu căn cứ quân sự, bảo vệ các đường giao thông trọng yếu, ngăn chặn ta tấn công, bảo vệ và ổn định hậu phương của chúng.

Cùng với việc tăng cường quân ngụy, lực lượng quân Mỹ từ đầu năm 1969 giảm dần. Lần lượt Lữ đoàn dù 173, Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ, Sư đoàn không vận số 1 rút về nước. Trên địa bàn tỉnh còn lại khoảng 1.000 cố vấn và một số phân đội kỹ thuật đóng giữ sân bay Cù Hanh, Arêa. Để thay quân Mỹ rút đi, chúng đưa hai tiểu đoàn Đại Hàn vào chiến trường Gia Lai, đóng ở Mỹ Thạch và đèo An Khê.

Sau khi ổn định lực lượng, Mỹ - ngụy mở các cuộc hành quân càn quét vào vùng nông thôn, vùng đông dân. Đầu năm 1969, địch mở những cuộc hành quân ồ ạt, đánh phá có trọng điểm, tập trung vào vùng ven thị xã Pleiku gồm các khu 3, 4, 5, 6, nhưng chủ yếu ở khu 4 và 5. Ngày 10-1-1969, Liên đoàn 2 biệt động quân và Trung đoàn 42 ngụy được sự chi viện tối đa của máy bay và pháo binh Mỹ, mở cuộc hành quân "Bình Tây 48", huy động 31 tiểu đoàn thuộc Quân đoàn II ngụy đánh vào khu 4, nhằm nới rộng phòng tuyến phía tây và Tây Bắc Pleiku đang bị ta uy hiếp. Nhưng ngay khi mới đặt chân xuống vùng núi Chư Pah, địch đã bị lực lượng bộ đội, du kích, dân quân địa phương chặn đánh liên tục làm rối đội hình. Tiếp ứng cho lực lượng tại chỗ, Mặt trận Tây Nguyên đã điều Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 8 thuộc Trung đoàn 66 mở hàng loạt trận tập kích vào sở chỉ huy dã chiến của Trung đoàn 42 ngụy và các bộ phận chỉ huy tiểu đoàn thuộc liên đoàn biệt động quân ngụy. Bị đánh liên tục, địch buộc phải hủy bỏ cuộc hành quân "Bình Tây 48". Tiếp đó mở cuộc hành quân "Bình Tây 49", "Bình Tây 50" nhưng đều bị quân và dân ta đánh bại 1).

Bị thất bại ở khu 4, địch chuyển sang đánh phá các xã phía tây khu 5. Một tiểu đoàn bộ binh của Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 4 Mỹ; một tiểu đoàn thuộc Liên đoàn biệt động số 2, có phi pháo yểm trợ, đánh kéo dài hàng tháng, chỉ xúc được 1.000 dân lẻ tẻ ở các xã phía tây đưa dồn vào ấp Ring De (xã Gào), nhưng ba tháng sau dân đã bỏ chạy hết về làng cũ. Tại khu 3, địch dùng Trung đoàn 42 ngụy, Liên đoàn biệt động 21 đổ quân càn xúc hai xã Nam, Bắc Đak Đoa, Nam Hà Lòng, Kon Dơng, đưa dân Đak Đoa dồn vào ấp Hà Bầu. Tại địa bàn khu 6, địch dùng lực lượng quân Mỹ thuộc Sư đoàn 4, phối hợp với quân địa phương, bình định tại chỗ các xã Gơhô, Barmaih, Briêng ven căn cứ La Sơn.

Tại địa bàn Cheo Reo, địch huy động các lực lượng bảo an, các đoàn bình định sơn thôn và lực lượng dân vệ, phòng vệ dân sự, có lực lượng chính quy của ngụy bảo trợ để đẩy lực lượng ta ra xa các khu dồn dân và trục đường giao thông để tiến hành bình định nông thôn. Chúng đẩy mạnh truy quét tìm diệt cơ sở cách mạng; củng cố bộ máy chính quyền ngụy, phát triển các ngụy đoàn thể, các đảng phái phản động, xây dựng lực lượng phòng vệ dân sự, đóng các chốt bảo an, kết hợp với các đoàn bình định để khống chế nhân dân. Địch dung dưỡng bọn Fulro hoạt động đánh phá các cơ sở của ta.

Triển khai kế hoạch "bình định cấp tốc", chỉ riêng trong năm 1969, trên địa bàn tỉnh, địch đã tổ chức 410 cuộc càn quét, trong đó có 10 cuộc càn quét quy mô từ hai tiểu đoàn trở lên, 53 cuộc càn từ một đến hai tiểu đoàn. Trong các cuộc càn, địch dùng phi pháo lớn đánh thẳng vào dân trong làng, làm chết 188 người, bị thương 73 người, bắt, giam giữ 125 người bị nghi là cơ sở cách mạng. Chúng tàn phá làng mạc hết sức dã man, cướp đi 127 tấn gạo, đốt cháy 70 làng, 1.055 nhà, đốt 40 kho chứa gần 300 tấn lúa của dân.

Sau các cuộc càn quét ồ ạt, địch chuyển sang đánh phá thường xuyên liên tục, gom xúc dân, kết hợp với các thủ đoạn chiến tranh tâm lý, gián điệp, chiêu hồi, chiêu hàng, mua chuộc, dụ dỗ. Trong năm 1969, trên địa bàn tỉnh, địch gom xúc và mở rộng kìm kẹp, kiểm soát thêm 104 làng với 16.997 dân, trong đó có 7 làng, 4.783 dân bị gom tại chỗ. Địch mở rộng khu dồn Chư Ngheh (khu 4) lấn thế làm chủ của ta. Tại khu 6, chúng gom dân tại chỗ làng Klanh, xúc dân xã Trang, xã Breng vào ấp Kồ. Ở khu 7, địch gom xúc 30 dân của xã A3 ra khu dồn dân A1. Tại khu 8, địch lấn thế làm chủ ở phía Bắc của ta. Ở khu 2, địch kéo 73 người dân ra ấp A1. Sang năm 1970, địch tiếp tục xúc 1.100 dân xã Hà Tây thuộc khu 3, xúc 420 dân ở hai làng Yit của khu 5, kéo 214 dân xã mới của khu 1... vào các khu dồn dân. Ở vùng ven thị xã, chúng tổ chức các đoàn thám báo dưới danh nghĩa "đoàn bách hóa", đoàn phun thuốc muỗi vào nhà dân dò xét, kết hợp với bọn biệt kích lùng bên ngoài. Ở nội thị Pleiku, từ cuối năm 1968, địch tăng cường các cuộc hành quân cảnh sát, lập các khu phố, mỗi khu phố có 4 - 5 liên gia theo dõi, phân loại quần chúng, phát hiện đánh phá cơ sở của ta. Các hoạt động tình báo, chiêu hồi được chúng đẩy mạnh. Chúng lập "Ủy ban Phượng Hoàng" do Tỉnh trưởng cầm đầu, nhân viên CIA làm cố vấn. Ở cấp quận, xã cũng có tổ chức này để phối hợp với cảnh sát, tổ chức gián điệp.

Song song với việc đánh phá, "bình định" phía trước, Mỹ - ngụy thường xuyên tổ chức những cuộc càn quét đánh phá sâu vào các vùng căn cứ của ta với lực lượng lớn bằng bộ binh, pháo 175, trong đó có những cuộc càn kéo dài 1-2 tháng, như cuộc càn tháng 1-1969 và tháng 9-1969 vào căn cứ nhằm ngăn chặn các cuộc tiến công của ta, hỗ trợ cho việc bình định phía trước. Mỹ - ngụy còn thường xuyên cho trực thăng thả lính xuống lùng sục nhằm phát hiện các cơ quan của tỉnh. Trong đợt càn kéo dài hai tháng của địch bắt đầu vào tháng 9-1969, hầu hết các cơ quan của tỉnh phải di chuyển qua Hơnờng, lánh lên làng Kon Kring, xã Đak Pơne thuộc khu 1.

Cùng với việc mở những trận càn quét, đánh phá nhằm tiêu diệt lực lượng của ta, địch dùng máy bay rải chất độc hóa học tràn lan nhằm hủy diệt môi trường sống, hủy diệt hoa màu, phá kinh tế vùng ta làm chủ, nhằm làm cho nhân dân trong vùng căn cứ và vùng mới giải phóng không chịu nổi, đời sống khó khăn mà bỏ vào sống trong các khu dồn dân. Hàng chục ngàn rẫy lúa, ngô, sắn của dân và các cơ quan, đơn vị bộ đội bị hư hại nặng. Tại những vùng tranh chấp, địch liên tục cho xe cơ giới ủi phá làng để dân bỏ làng vào khu dồn. Chẳng những thế, chúng còn phong tỏa các cửa khẩu thu mua, tiếp tế lương thực của ta, kiểm soát chặt các cửa ra vào các ấp chiến lược, khu dồn nhằm "không để lọt một hạt muối, một hạt gạo rơi vào tay Việt cộng". Địch cho biệt kích tổ chức lùng sục, phục kích đánh úp các đội công tác, các tổ mua hàng từ làng đồng bào dân tộc thiểu số cung cấp cho căn cứ của ta. Đã có lần chúng cho mật báo đặt mìn định hướng ở khu vực suối Chầu Bầu (Tây An Khê) làm chết một lúc 32 cán bộ, bộ đội ta ra mua hàng. Có không ít những gùi hàng lương thực, thực phẩm từ đồng bằng lên, từ các ấp ra, từ cửa khẩu về cơ quan, đơn vị thấm đẫm máu của cán bộ, dân công và chiến sĩ.

Ngoài càn quét, đánh phá, phong tỏa để thực hiện kế hoạch "bình định", Mỹ - ngụy đẩy mạnh gom, xúc, tát dân hết sức tàn bạo. Chúng dùng lực lượng đông đảo, ồ ạt càn quét để xúc dân. Gặp những nơi quần chúng chống trả quyết liệt, địch chốt tại chỗ, đưa lực lượng ra đánh phá, buộc dân phải lập ấp tại làng hoặc dùng vũ lực để rào ấp như ở Lệ Chí và một số làng của xã B15 thuộc khu 4. Có lúc Mỹ - ngụy dùng lực lượng quân sự ồ ạt đổ quân chớp nhoáng, xúc dân bằng máy bay lên thẳng, như các xã Nam Bắc Đak Đoa, Nam Hà Lòng, Kon Dơng thuộc khu 3. Những nơi có quần chúng theo Công giáo, bọn tay sai đội lốt tôn giáo lừa mị, bức bách quần chúng, phối hợp với lực lượng quân sự tiến hành xúc dân như ở xã Hà Tây (khu 3).

Gom được dân, địch tiến hành lập ấp, khu dồn để kìm kẹp chặt. Chúng phân loại khu dồn, ấp để kiểm soát. Có loại ấp chúng chỉ sử dụng phòng vệ dân sự, dân vệ phối hợp cùng với lính bảo an quận, các trung tâm huấn luyện biệt kích để kìm kẹp dân. Có ấp địch bố trí lực lượng bảo an, đoàn bình định cùng dân vệ, phòng vệ dân sự lập chốt giữ dân. Có ấp kiên cố như một cứ điểm có 3 - 4 lớp rào, có lô cốt, lực lượng cơ động từ hai trung đội đến một đại đội, phối hợp cùng đoàn bình định, dân vệ kìm kẹp dân trong các ấp, ra vào cửa có lính canh gác.

Không những kìm kẹp dân, địch còn cưỡng bức dân vào phòng vệ dân sự. Nhiều nơi chúng ép dân nhận súng, như ấp Ia Rưng (khu 3), ấp Chư Ngheh (khu 4), vùng quận lỵ Lệ Trung, căn cứ La Sơn... Dân không nhận chúng vẫn giao và ép buộc nhận súng, nếu để mất súng chúng phạt tiền bồi thường. Mỗi ấp chiến lược thành lập từ một tiểu đội đến một trung đội dân vệ. Các khu dồn lớn, có khu thành lập đến năm trung đội dân vệ. Để củng cố các ấp, địch sử dụng bọn tay sai sẵn có từ trước và các đối tượng chiêu hồi, phản bội để lập bộ máy ngụy quyền ở ấp. Chúng lập ban đại diện thôn, ấp, liên gia do bọn tay sai đứng đầu. Có ấp địch đưa lính Mỹ về làm ấp trưởng để nắm dân như ấp Gơhô, Barmaih. Ngoài bộ máy tề công khai, địch còn tổ chức gián điệp ngầm để khống chế quần chúng.

Sau khi lập bộ máy kìm kẹp, địch tiến hành "thanh lọc" quần chúng, bắt quần chúng học tập, tố giác, phát hiện cơ sở cốt cán, gia đình có liên quan đến cách mạng để theo dõi, khống chế nhằm đánh bật cơ sở của ta ra khỏi quần chúng. Chúng bắt một số người, trong đó có cả du kích, cán bộ, đảng viên phản bội chiêu hồi đưa đi đào tạo nhiều nơi để về làm đại diện xã, thôn. Chúng đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, gián điệp, chiêu hồi và tổ chức phát triển "Đảng dân chủ" của Nguyễn Văn Thiệu. Thủ đoạn của chúng hết sức thâm độc, bắt mọi người phải ghi tên vào đảng, ai không chịu cũng ghi. Giao việc cho từng người, ai không nhận cũng giao, nhằm bôi lem, gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ nhân dân.

Bình định, lấn chiếm không chỉ là biện pháp chủ yếu, mà Mỹ - ngụy còn xem là mục đích của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Đó là những thủ đoạn nham hiểm, xảo quyệt đã gây cho ta nhiều khó khăn. Cơ sở nông thôn bị tổn thất, phong trào quần chúng nhiều nơi sa sút, một số địa bàn bị mất đất, mất dân. Bộ đội ta bị tiêu hao chưa được bổ sung phải rút lên các vùng giáp ranh, các vùng căn cứ. Một số cán bộ chủ quan cho rằng Mỹ đã thua rút quân thì quân ngụy không thể đương đầu với ta, dẫn đến coi thường các biện pháp và thủ đoạn đánh phá của địch.

Trước tình hình Mỹ - ngụy triển khai chiến lược chiến tranh mới tàn bạo và thâm độc, quân và dân tỉnh Gia Lai, cùng với đồng bào, chiến sĩ toàn miền Nam bước vào một giai đoạn đấu tranh đầy thử thách, gay go, quyết liệt và phức tạp.

Ngày 1-1-1969, nhân dịp năm mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc đồng bào và chiến sĩ "năm mới đoàn kết, chiến đấu, thắng lợi". Người kêu gọi nhân dân cả nước ra sức chiến đấu nhằm đạt mục tiêu chiến lược cao cả:

"Vì độc lập, vì tự do,

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,

Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn2).

Tháng 4-1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp ra Nghị quyết "về tình hình và nhiệm vụ trước mắt" của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Bộ Chính trị chỉ đạo "tiếp tục đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa", "phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ", đánh bại âm mưu kết thúc chiến tranh trên thế mạnh và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ. Đánh cho Mỹ rút hết quân, đánh cho ngụy phải suy sụp, giành thắng lợi quyết định, tiến tới thống nhất nước nhà.

Triển khai chủ trương của Bộ Chính trị, cuối tháng 4-1969, Hội nghị Khu ủy Khu V ra Nghị quyết khẳng định: "Muốn đánh bại "Việt Nam hóa chiến tranh", trước hết phải đánh bại biện pháp chiến lược chủ yếu của địch là "bình định nông thôn". Hội nghị đề ra nhiệm vụ tập trung lực lượng toàn Đảng bộ, quân và dân chống "bình định", phát động nhân dân giành quyền làm chủ, giải phóng nông thôn là vấn đề gốc, là cái trục của toàn bộ phong trào".

Thực hiện Nghị quyết của Liên Khu ủy V, Tỉnh ủy xác định: "Đảng bộ quyết tâm giữ dân và giành dân, mở rộng và giữ vững vùng giải phóng là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất, là cái gốc, cái trục của toàn bộ phong trào". Tỉnh ủy chỉ đạo ba thứ quân bám chặt địa bàn chiến đấu, trọng điểm là thị xã Pleiku, vùng nông thôn ven thị, các trục đường giao thông chiến lược 19, 14 và số 7. Tăng cường liên tục tấn công tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, nhất là bọn kìm kẹp dân. Đồng thời đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, binh vận, giữ vững và phát triển thế hợp pháp. Bằng ba mũi giáp công làm thất bại kế hoạch bình định, lấn chiếm của địch. Đưa phong trào thị xã lên một bước, đẩy mạnh hoạt động vũ trang, đấu tranh chính trị và binh vận trong nội thị, phối hợp chặt chẽ với đánh địch lấn chiếm để giành, giữ dân ở đại bộ phận nông thôn.

Chuẩn bị tổ chức các đợt tấn công làm phá sản âm mưu "bình định" của địch ở Gia Lai, Tỉnh ủy chỉ đạo Đảng bộ các khu, các cơ quan, cấp ủy, các ngành, lực lượng mở các lớp học tập, sinh hoạt chính trị sâu rộng trong nội bộ Đảng đến quần chúng nhân dân. Khẳng định những thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là hết sức to lớn và có ý nghĩa chiến lược. Đồng thời chỉ rõ những khuyết điểm và khó khăn tạm thời của ta cần được khắc phục. Đánh giá đúng chỗ mạnh tạm thời của Mỹ - ngụy trên địa bàn tỉnh là quân số còn đông, hỏa lực và khả năng cơ động mạnh, chúng còn giữ những địa bàn chiến lược quan trọng. Tuy nhiên về mặt chiến lược địch đã thất bại nặng nề. Mỹ phải xuống thang chiến tranh và từng bước rút quân ra khỏi miền Nam. Sau các đợt học tập, sinh hoạt chính trị, đảng viên, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tin tưởng vào sự thắng lợi tất yếu của cách mạng, ra sức nỗ lực trong công tác, chiến đấu nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, hạn chế những chỗ mạnh tạm thời của địch, kiên quyết đánh bại kế hoạch "bình định" của Mỹ - ngụy.

Cùng với học tập chính trị, Tỉnh ủy chỉ đạo khẩn trương kiện toàn, củng cố các lực lượng vũ trang tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tiểu đoàn bộ binh 15 được biên chế lại, rút tất cả cán bộ, chiến sĩ người dân tộc Jrai của tiểu đoàn cùng các đại đội khu 4, khu 5 thành lập Tiểu đoàn 45 do đồng chí YGir (Nghi) làm Tiểu đoàn trưởng, hoạt động trên địa bàn khu 4 và khu 5. Chuyển Đại đội 1 độc lập sát nhập với số quân còn lại của Tiểu đoàn 15, lập Tiểu đoàn 67 do đồng chí Võ Ngọc Đề, Tham mưu phó Tỉnh đội làm Tiểu đoàn trưởng, hoạt động trên địa bàn phía Đông tỉnh. Quân khu điều Tiểu đoàn 407 tiếp tục bám sát vành đai diệt Mỹ ở An Khê. Tiểu đoàn đặc công 408 áp sát vùng ven Pleiku, có nhiệm vụ đánh sâu vào các căn cứ Mỹ - ngụy, cơ quan Quân đoàn II ngụy. Đại đội đặc công 309 của tỉnh Đăk Lăk được điều về hoạt động đánh địch ở huyện H2 (Đông Cheo Reo, nay thuộc địa bàn huyện Krông Pa), huyện H3 (Tây Cheo Reo, nay thuộc địa bàn thị xã Ayun Pa, huyện Phú Thiện). Để tăng cường khả năng chiến đấu trên các tuyến giao thông trọng yếu, chiến lược, nhất là trục lộ 19, Mặt trận Tây Nguyên chuyển giao Tiểu đoàn 2 bộ binh thuộc Trung đoàn 95 cho tỉnh quản lý, chỉ huy. Trên đường 19 (Tây) thành lập Đại đội công binh 19 để đánh địch trên đường 19 ở phía tây của tỉnh.

Đi đôi với việc kiện toàn lực lượng, bổ sung cán bộ chỉ huy từ tỉnh đến cơ sở, tỉnh tổ chức huấn luyện "đặc công hóa bộ binh" cho bộ đội tỉnh, các khu và dân quân du kích. Quân số mỗi đại đội từ 60 đến 70 người, biên chế theo "mũi" thay cho trung đội. Tăng cường trang bị vũ khí cho bộ đội, chủ yếu là tiểu liên AK, súng B40 chống tăng, đánh lô cốt để phục vụ công tác diệt chốt, giành dân, phá ấp chiến lược. Cùng với củng cố tổ chức lực lượng vũ trang tập trung và vũ trang cơ sở, Tỉnh ủy chỉ đạo các huyện, thị củng cố, xây dựng các đội công tác để bám ấp, xây dựng cơ sở cách mạng, phát động quần chúng đấu tranh.

Sau khi được củng cố về chính trị, tư tưởng, tổ chức biên chế, huấn luyện chiến đấu, các lực lượng vũ trang của tỉnh được sự chỉ đạo chặt chẽ của Tỉnh ủy, các Khu ủy, Thị ủy đã đẩy mạnh đấu tranh đánh địch. Ngay từ đầu năm 1969, du kích khu 2 phối hợp với Đại đội 17, 18 công binh liên tục phục kích đánh địch trên các tuyến giao thông, diệt 445 tên, phá hủy 61 xe quân sự, bắn rơi 4 trực thăng. Đêm 15 -1-1969, Tiểu đoàn 450 và lực lượng vũ trang huyện 2 đã đánh vào sân bay Tân Tạo diệt 15 tên địch, bắn cháy 25 máy bay, phá hủy 14 ngôi nhà. Từ ngày 8 đến ngày 20-3-1969, các tổ biệt động ở nội thị Pleiku tổ chức đánh 5 trận, làm cháy 4 xe chở hàng tại ngã ba Diệp Kính, kho xăng dầu và 8 kho quân trang quân dụng, đánh hỏng máy bơm nước ở các cơ quan Quân đoàn II ngụy, làm mất nước nhiều ngày. Tại phía nam, lực lượng du kích các huyện H2, H3 đã phối hợp chặt chẽ với Đại đội 309, Tiểu đoàn 401 liên tục tổ chức đánh vào tiểu khu Cheo Reo, chi cảnh sát Mlah, tập kích vào quận lỵ Phú Thiện diệt trên 50 tên địch, đánh quỵ lữ đoàn bảo an và pháo binh cơ giới tại tiểu khu Phú Bổn, phá hủy 2 pháo 105 mm, 3 xe cơ giới, đưa phong trào các buôn, ấp dọc đường số 7 lên một bước phát triển mới, bọn địch lo sợ, tề điệp nằm im, cơ sở quần chúng phát triển sâu rộng.

Phát triển "chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ", Xuân 1969, quân và dân Tây Nguyên đã đồng loạt tấn công 37 mục tiêu địch, trong đó có các thị xã Pleiku, Kon Tum và Buôn Ma Thuột. Đánh thiệt hại hai quận lỵ, bốn chi khu, năm sân bay... đồng thời tiến công địch liên tục trên các trục đường 19, 14 nhằm triệt phá đường vận chuyển của địch. Phối hợp, chặt chẽ với mặt trận Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang tỉnh triển khai kế hoạch chiến đấu đánh địch càn quét, xúc dân, lấn đất. Trong năm 1969, quân và dân tỉnh Gia Lai đã đánh 2.165 trận vừa và nhỏ, tiêu diệt 6.066 tên địch, làm bị thương 872 tên, bắt sống 75 tên. Đánh hỏng và phá hủy 87 xe quân sự, bắn rơi, phá hủy, phá hỏng 130 máy bay, phần lớn là máy bay trực thăng. Đánh sập 34 nhà kho, 182 nhà lính, phá 7.355 đoạn ống dẫn dầu của địch. Ta diệt gọn 1 chi đội xe cơ giới, 6 trung đội bảo an, 9 tiểu đội dân vệ, thu 69 súng các loại. Qua các đợt tác chiến, trình độ chỉ huy chiến đấu của cán bộ được nâng lên.

Nhìn chung trong năm 1969, trên địa bàn Gia Lai, cuộc chiến giữa ta và địch diễn ra trong thế giằng co quyết liệt. Với sự nỗ lực của quân và dân, ta đã ngăn chặn được một bước "bình định lấn chiếm" của địch.

Sang năm 1970, tình hình địch trong tỉnh có sự biến động. Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ đã rút hết khỏi chiến trường Gia Lai. Một lực lượng lớn quân Mỹ và quân ngụy nhảy sang xâm lược Campuchia đã bị sa lầy tại đây. Mưu đồ thâm hiểm của Mỹ nhằm đàn áp phong trào cách mạng Campuchia, lùng diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến, cắt đứt con đường vận chuyển từ cảng Xihanúcvin về biên giới nước ta không thực hiện được.

Trước những diễn biến mới trên chiến trường miền Nam, tháng 1-1970, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 18 được tổ chức để đánh giá cục diện chiến trường miền Nam từ sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 và đề ra nhiệm vụ trong thời gian tới. Trung ương nhấn mạnh phải vận dụng đúng phương châm tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, lấy nông thôn là hướng tấn công chính, quán triệt phương châm đánh lâu dài, trên cơ sở đó tranh thủ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn, đập tan chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ.

Quán triệt chỉ đạo của Trung ương và Khu ủy Khu V, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo phải thường xuyên bám sát tình hình địch để có chủ trương, biện pháp đối phó kịp thời và có hiệu quả. Giữ vững và phát triển thực lực chính trị và vũ trang ở cơ sở. Tiêu diệt lực lượng kìm kẹp tại chỗ của địch để giữ vững thế làm chủ của quần chúng. Đưa đảng viên và lực lượng vũ trang khu, xã bị đánh bật khỏi địa phương trở về bám đất, bám dân hoạt động. Tiếp tục phát triển các đội vũ trang công tác để phái vào các vùng nông thôn địch còn kiểm soát gây dựng cơ sở, phát động quần chúng đấu tranh chống địch.

Trong chiến dịch B18 (Xuân - Hè 1970), quân và dân Gia Lai đã đồng loạt tấn công nhiều mục tiêu trong thị xã, căn cứ, sân bay, đường giao thông, ấp chiến lược và các đợt đổ quân "bình định" của địch. Các đại đội công binh 17, 18 cùng du kích các khu 2, 3, 6, 7 đánh cắt giao thông trên quốc lộ 19 từng thời gian. Tiểu đoàn 408, Tiểu đoàn 450 đặc công, Đại đội pháo 231 ĐKB, cối 82 của tỉnh đánh sâu vào hậu cứ của địch. Bộ đội địa phương, du kích đánh diệt các chốt bảo an, dân vệ, phối hợp với các đội công tác phát động quần chúng phá ấp, giành dân. Chỉ tính riêng đợt đầu từ ngày 10-3 đến ngày 20-4-1970, các lực lượng vũ trang tỉnh đã đánh 206 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 1.366 tên địch, diệt 95 tên ác ôn, phá hủy 54 xe quân sự, bắn rơi 30 máy bay, đánh sập 28 nhà, 19 lô cốt, 6 hầm ngầm, đốt cháy 4 kho xăng, 2 kho đạn. Các đội công tác phát triển 162 cơ sở trong vùng yếu, phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền làm chủ 42 làng, với 6.991 dân.

Trong chiến dịch này, nhiều đơn vị, cá nhân lập thành tích xuất sắc, được Nhà nước ta tuyên dương, tặng thưởng. Anh du kích Puih Glỡ, 16 tuổi, dân tộc Jrai, quê ở làng Maih, xã B6 (khu 4), vào ngày 12-5-1970, với ba viên đạn súng trường đã bắn rơi chiếc trực thăng, tiêu diệt tên tướng ba sao Giôn Đin La, Tư lệnh công binh Mỹ ở miền Nam Việt Nam và tên tướng hai sao Ađam cùng đi. Ngày 15-10-1970, anh được Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba. Trong đánh địch, diệt kìm, giành dân đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu xuất sắc được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang như: xã chiến đấu B5 (khu 4); Xã đội trưởng xã B5, đồng chí Rơchơm Ớt; nữ Trung đội trưởng du kích xã E5 (khu 5), chị Kpa Ó có thành tích xuất sắc toàn diện về đánh địch, bám dân, phát động quần chúng, chỉ huy du kích mưu trí dũng cảm.

Trong lực lượng đặc công có đồng chí Y Đôn, người dân tộc Bahnar, Đại đội phó Đại đội 70 thuộc Tiểu đoàn đặc công 408, rất gan dạ và có nhiều sáng kiến, lập thành tích xuất sắc trong đánh địch. Tham gia cách mạng từ năm 15 tuổi, nhập ngũ năm 1966, từ năm 1966 đến 1969, đồng chí Y Đôn đã tham gia đánh 37 trận, diệt 42 tên (trong đó có 20 tên Mỹ), phá hủy 7 xe quân sự, thu 5 súng các loại. Vào sáng ngày 6-11-1969, trong trận đánh của Tiểu đoàn đặc công 408 vào cụm căn cứ hỗn hợp Mỹ Thạch, Y Đôn đã dùng B40 diệt một hỏa điểm thì bị trúng đạn và hy sinh. Ngày 6-11-1978, liệt sĩ Y Đôn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đại đội 7, Tiểu đoàn 2 có nhiều thành tích đánh địch trên các tuyến giao thông và tham gia đánh địch phá nhiều ấp chiến lược. Đại đội 2, Tiểu đoàn 450 lập công xuất sắc, bám trụ vành đai diệt Mỹ ở Tân Tạo - An Khê. Hai đại đội này được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đại đội 90 đặc công thị xã Pleiku luôn là mũi nhọn thọc sâu vào nội thị, đánh trúng cơ quan CIA Mỹ. Đại đội 2, Tiểu đoàn 67 nhiều lần diệt gọn các toán "bình định nông thôn", các đội "Phượng Hoàng" của địch.

Qua hai năm lãnh đạo phong trào chống địch bình định, lấn chiếm, Đảng bộ đã trưởng thành nhiều mặt, có nhiều kinh nghiệm trong xây dựng, củng cố lực lượng cách mạng. Dù gặp nhiều khó khăn, gian khổ nhưng quân và dân của tỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực liên tục tấn công địch, phá ấp, diệt kìm, phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ trên diện rộng. Kế hoạch "bình định cấp tốc" của địch triển khai trên địa bàn tỉnh cơ bản bị phá sản.

Đầu năm 1971, quân và dân ta đã giành thắng lợi quyết định ở mặt trận đường 9 - Nam Lào, đập tan cuộc hành quân " Lam Sơn 719" của Mỹ - ngụy. Ở mặt trận Tây Nguyên, Quân đoàn II ngụy mở cuộc hành quân "Quang Trung 4" ra biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia cũng bị đánh bại thảm hại. Mưu đồ hành quân đánh phá hậu cứ và hành lang chiến lược của ta, nhằm bịt đường Hồ Chí Minh, cắt đứt chi viện của miền Bắc cho miền Nam đã hoàn toàn bị đập tan. Chiến thắng của quân và dân ta ở đường 9 - Nam Lào, ở Tây Nguyên và trên toàn miền Nam đã đẩy địch lún sâu vào thế bị động, tạo ra sự thay đổi trên cục diện chiến trường theo hướng có lợi cho ta.

Phát huy thắng lợi mùa Xuân 1971 trên toàn chiến trường, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai đã chỉ đạo tập trung các lực lượng, phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch B81 (Chiến dịch Xuân - Hè) diệt địch, giải phóng dân. Vùng trọng điểm của chiến dịch là Bắc và Đông quận lỵ Phú Nhơn, dọc đường 7 giáp Nam khu 6, Nam khu 7 và khu vực phía Đông Nam của tỉnh là huyện H2, H3 thuộc tỉnh Đăk Lăk. Cơ quan tiền phương chỉ huy chiến dịch của tỉnh do đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp phụ trách và đứng chân tại trung tâm khu 3. Các khu trong tỉnh đều lập Ban chỉ huy từng hướng, khẩn trương chuẩn bị thực lực. Khu 5 đưa cán bộ phát triển cơ sở đến sát đường 14. Các đội công tác của khu 4, 6, 8 và thị xã đã bám trụ các ấp, một thời gian ngắn đã xây dựng được 127 cơ sở cốt cán. Lực lượng bộ đội tập trung tỉnh, khu triển khai lực lượng trên các hướng trọng điểm sẵn sàng chờ lệnh. Tỉnh huy động 800 du kích vùng căn cứ được trang bị đầy đủ vũ khí, biên chế đơn vị chặt chẽ, ra phía trước chiến đấu. Tỉnh còn huy động 250 cán bộ ở các cơ quan, ban, ngành tăng cường cho các khu vực trọng điểm, giúp các địa phương xây dựng phong trào.

Ngày 15-3-1971, Trung đoàn 95, cùng Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 24 đánh quận lỵ Phú Nhơn, diệt đồn bảo an Pleikli, tấn công hệ thống cứ điểm của địch từ Phú Quang đến Mỹ Thạch. Ta bắt được Quận phó Phú Nhơn, giáo dục chính sách và buộc tên này kêu gọi 34 trung đội dân vệ của quận ra đầu hàng và đem nộp gần 500 súng các loại cho cách mạng. Thừa thắng, Tiểu đoàn 67 tấn công địch giữ ấp chiến lược Đê Kồ, diệt một trung đội bảo an. Tiểu đoàn 2, các đại đội công binh 17 và 18 đã tổ chức đánh địch liên tục trên đường 19, phá hủy nhiều xe quân sự của địch. Lực lượng du kích tuyến sau ra tuyến trước chiến đấu đạt hiệu quả cao, đã tiêu diệt 183 tên địch, phá hủy 16 xe quân sự, bắn cháy 4 máy bay lên thẳng, bắt ba tù binh. Bộ đội địa phương các huyện bám sát từng địa bàn trọng điểm, hỗ trợ tích cực cho quần chúng diệt kìm, giành dân.

Ở địa bàn phía nam của tỉnh, bộ đội ta đã đánh vào cứ điểm dã ngoại cạnh đồn Rbai (Ia Piar), đánh vào ấp Tel (Ia Sol). Ta liên tục đánh và tiêu diệt các toán bình định nông thôn, đưa 210 dân làng Đê Pông lên thế làm chủ, phát động quần chúng khu dồn Rơngol đưa 2.713 dân lên thế tranh chấp. Bộ đội khu 7 cùng đội công tác phía nam, tiến công diệt đoàn "bình định", hỗ trợ cho phát động quần chúng ở phía nam khu 7 từ Pờ Tó đến Rơngol. Trên đường 7A, quân ta đánh bức buộc địch phải rút bỏ một số chốt. Tại đường 7B, các chốt dã ngoại của địch từ A15 đến cầu Ayun phải rút bỏ. Ở Phú Thiện, ngày 21-3-1971, ta tập kích vào quận lỵ, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch. Phía Tây quận Phú Thiện, lực lượng vũ trang và các đội công tác của huyện H2 đột nhập vào các ấp, phát động quần chúng phá ấp, phá rào, phá đường nhằm ngăn chặn phản kích của địch. Ở phía Đông Phú Thiện, Tiểu đoàn 301 đột nhập vào các ấp diệt một số dân vệ và đánh địch để giải tỏa dân. Các đội công tác của huyện H2, H3 phát động quần chúng, quyên góp lương thực, thực phẩm phục vụ bộ đội, du kích tiếp tục chiến đấu.

Chiến dịch B81 kéo dài 85 ngày đêm liên tục, các lực lượng vũ trang của tỉnh, của các huyện và các đội công tác đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực Tây Nguyên tiến công địch trên diện rộng. Trong toàn chiến dịch, ta đã tiêu diệt và làm bị thương 1.660 tên địch, trong đó có 75 cố vấn Mỹ, phá hủy, phá hỏng 362 xe quân sự, diệt gọn một trung đội bảo an, một đoàn bình định, bắn rơi 9 máy bay lên thẳng, thu 158 súng.

Cùng với việc đẩy mạnh đấu tranh quân sự làm tiêu hao sinh lực địch, Tỉnh ủy luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt công tác dân vận, diệt kẹp, phá kìm ở các khu dồn, ấp chiến lược. Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với chống địch càn quét vào các vùng căn cứ, phát động dân nổi dậy chống chính sách dồn dân, lập ấp chiến lược của địch.

Phong trào diệt kìm, phá ấp dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và hỗ trợ đắc lực của các tổ, đội công tác và các lực lượng quân sự phát triển sâu rộng và đều khắp trên địa bàn tỉnh từ khi Mỹ - ngụy triển khai kế hoạch "bình định", xúc tát, gom dân, dồn dân. Trong những năm 1969 - 1971, phong trào phá ấp diễn ra sôi nổi trên địa bàn khu 4 và khu 5. Hai khu đã làm tốt công tác tuyên truyền phát động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhận rõ âm mưu "bình định cấp tốc", lập ấp chiến lược, dồn dân của địch. Đảng bộ khu 4 đề ra khẩu hiệu "thà hy sinh chứ không để mất dân". Đảng bộ khu 5 có khẩu hiệu "quyết bám làng, bám rẫy, không trở lại khu tập trung". Hai khu hạ quyết tâm động viên mọi lực lượng trong mỗi Đảng bộ tập trung đánh bại âm mưu, thủ đoạn bình định dồn dân của địch. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân các địa phương đã có nhiều sáng tạo cách đánh địch và các hình thức đấu tranh giữ quyền làm chủ. Nhờ vậy, trong gần nữa năm đầu thực hiện kế hoạch "bình định", địch chỉ gom được sáu làng ở những trọng điểm thuộc các xã B9, B14 (khu 4) với tổng số 1.182 dân. Ta vẫn giữ được 32 làng ở vùng trọng điểm với gần 8.000 dân. Ở khu 5, địch cưỡng bức xúc 1.000 dân ở một số làng phía tây huyện về khu dồn Ring De. Cán bộ và cốt cán của ta bám sát quần chúng, tuyên truyền vận động nhân dân đấu tranh. Chỉ sau một thời gian ngắn, dưới sức ép của dân, địch buộc phải để dân bỏ khu dồn về làng cũ. Ở khu vực La Sơn, phong trào đấu tranh của dân cũng diễn ra quyết liệt. Trừ một số ấp như Hàbong, Gơhô, Barmaih, Briêng Mơnu do ta chỉ đạo không chặt chẽ nên để mất dân, một thời gian sau mới liên lạc được. Ở những địa bàn còn lại cán bộ ta thường xuyên bám trụ lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành quyền làm chủ từng phần.

Nhân dân các dân tộc trong tỉnh với tinh thần "thà sống khổ cực ở làng cũ hơn là vào ấp để chết đói" đã liên tục nổi dậy chống địch. Năm 1969, toàn tỉnh đã có 33.330 lượt quần chúng kéo đến các đồn, quận lỵ và 129.250 lượt quần chúng đấu tranh tại chỗ chống địch khủng bố, đàn áp, gom xúc dân, chống kìm kẹp tại chỗ, chống bắt lính, chống vũ trang nhân dân, đòi giải quyết đời sống, đòi về làng cũ. Nổi bật trong các yêu sách đấu tranh của quần chúng là chống gom xúc, đòi về làng cũ. Mức độ đấu tranh nhiều nơi rất quyết liệt, tiêu biểu là khu 4 và khu 5 đã góp phần giữ được 14.000 dân khỏi bị gom xúc và mở rộng vùng làm chủ thêm 17.000 dân. Tháng 5-1970, phong trào nổi dậy phá ấp của nhân dân diễn ra sôi nổi. Trên toàn tỉnh đã có 111 làng tham gia nổi dậy diệt kẹp, phá kìm, giành quyền làm chủ. Kết quả có 24 làng với 5.540 dân làm chủ tại chỗ, chuyển lên thế tranh chấp 41 làng với 14.046 dân, trong đó có 7.850 dân vùng đồng bào người Kinh. Tại khu 8 và khu 9 (thị xã Pleiku), ta đấu tranh phá lỏng kẹp 46 làng với 10.738 dân, trong đó có 2.697 đồng bào Kinh.

Ở khu vực phía nam của tỉnh, phong trào phá ấp, diệt kẹp, giành dân cũng diễn ra sôi nổi, nhất là trong và sau chiến dịch Xuân - Hè 1971. Sau khi tiêu diệt thành công quận lỵ Phú Nhơn và làm rã nhiều trung đội dân vệ trong vùng, lực lượng vũ trang của ta và các đội công tác liên tục tấn công địch, hỗ trợ cho quần chúng tại 26 ấp chiến lược và 25 làng trong các khu dồn từ Phú Nhơn đến Mỹ Thạch, sang Kueng Mép, xuống Phú Thiện nổi dậy phá rã toàn bộ bộ máy ngụy quyền xã, ấp đưa quần chúng lên làm chủ tại chỗ. Phía Tây sông Ayun, bộ đội diệt chốt địch ở ấp Kồ, đồng bào ba làng trong ấp, với 547 dân và làng Tơdrah của ấp Barmaih có 110 dân đã bung ra đưa lên thế làm chủ. Tại huyện H2, bộ đội huyện và các đội công tác đã tấn công diệt toán bình định nông thôn địch, đưa 210 dân làng Đê Pông lên thế làm chủ. Ta phát động quần chúng quanh đồn Plei Rơngol, đưa 2.713 dân lên thế tranh chấp. Các đội công tác cùng bộ đội huyện H2 tấn công diệt hai trung đội bảo an ở các ấp buôn Bòng, buôn Thiêm, thu vũ khí, bắt tù binh, đưa 800 dân lên thế làm chủ tại chỗ.

Tiêu biểu cho phong trào giành dân của tỉnh thời kỳ này là việc ta phá thành công khu dồn Chư Ngheh thuộc địa bàn khu 4 vào năm 1970. Khu dồn này có 29 làng, nằm sát Trung tâm huấn luyện biệt kích của địch, luôn có 4 đại đội, 6 tên cố vấn Mỹ và 15 tên ác ôn kìm kẹp. Trong thời gian chuẩn bị đánh đồn, ta đã bố trí chị Phiar, một đảng viên ở xã B13 vào làm y tá trong đồn địch. Sau khi vào được đồn, chị đã cung cấp thuốc men cho thương binh ta và có lúc ra ngoài chữa bệnh cho thương binh. Từ các cơ sở cài cắm trong lòng địch và một số cốt cán, cơ sở trong ấp, ta đã vận động đấu tranh buộc địch phải cho dân đi rẫy làm ăn hợp pháp. Lợi dụng sơ hở của địch, đồng bào bí mật chuyển những tài sản quý như ghè, chiêng... ra giấu ngoài rừng. Cơ sở của ta cũng đã tranh thủ giáo dục, cảm hóa được 26 lính dân vệ gác ấp đồng tình ủng hộ, che giấu bảo vệ dân đi lại tiếp xúc với cán bộ ta. Khi mọi việc đã chuẩn bị chu đáo, Đại đội khu 4 đã đánh rã hai trung đội dân vệ gác ấp, hỗ trợ 4.048 đồng bào nổi dậy phá ấp trở về làng cũ. Việc phá khu dồn Chư Ngheh đã thành công tốt đẹp.

Phát huy những thắng lợi, tháng 7-1970, Tỉnh ủy mở Hội nghị tổng kết rút kinh nghiệm về đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn "bình định" của địch. Ba kinh nghiệm lớn được rút ra: Thứ nhất, thường xuyên bám sát tình hình địch để có chủ trương, biện pháp đối phó kịp thời và hiệu quả. Thứ hai, giữ vững và phát triển thực lực chính trị, vũ trang ở cơ sở. Thứ ba, tiêu diệt lực lượng kìm kẹp tại chỗ của địch để giữ vững thế làm chủ của quần chúng. Tỉnh ủy đã phát động phong trào "học tập Chư Ngheh, đuổi kịp và vượt Chư Ngheh" trong toàn tỉnh về phá ấp, diệt kẹp, giành dân.

Nhìn chung, cuộc đấu tranh chống "bình định", giành và giữ dân trên địa bàn tỉnh diễn ra dai dẳng và quyết liệt. Nhiều nơi ta vận động, tổ chức quần chúng nổi dậy phá khu dồn, ấp chiến lược về làng cũ, địch lại gom xúc, ta tiếp tục phá. Quá trình đấu tranh lặp đi, lặp lại, diễn ra căng thẳng trong suốt thời kỳ chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ - ngụy.

Song song với đấu tranh quân sự và vận động quần chúng đấu tranh chính trị, phá ấp, diệt kìm, công tác binh vận, địch vận được tỉnh xác định là một trong ba mũi giáp công trọng yếu nhằm đánh bại âm mưu, kế hoạch bình định, lấn chiếm của địch. Tỉnh ủy thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính sách, chính trị, tư tưởng trong các đối tượng thân nhân binh lính, công chức ngụy và lực lượng dân vệ. Nhờ vậy, công tác này ở tỉnh thu được nhiều kết quả quan trọng. Cụ thể, trong cuộc càn "Bình Tây 49, 50" của địch vào vùng Tây khu 4, nhân dân liên tục đấu tranh buộc địch phải thả 330 người bị chúng giam giữ, bồi thường cho dân 200.000 đồng và không cho lính bảo an, thám báo trà trộn vào trong dân. Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, các cấp ủy đã đẩy mạnh công tác giáo dục chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cho hàng ngũ dân vệ, bảo an, phòng vệ dân sự. Trong cuộc hành quân "Bình Tây 49" của địch, nhân dân các xã Tây khu 4 đã tổ chức 5 cuộc vận động phản chiến trong hàng ngũ lính ngụy của Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 42 trong lúc hành quân ở vùng chân núi Chư Pah, binh lính địch đã không chấp hành lệnh đốt nhà dân của cấp trên. Trong lực lượng địa phương, quân ta vận động tiểu đội dân vệ gác ấp làng Thong (xã B7) và 8 dân vệ gác ấp Tawơn bỏ ngũ, mang 8 súng về nộp cho chính quyền cách mạng. Trong năm 1970, ta đã vận động được 633 lính bảo an, biệt kích, dân vệ đào ngũ về nhà, trong đó có một đại đội phó, một trung đội trưởng. Trong vùng đồng bào dân tộc, ta đã tổ chức nhiều đợt vận động hàng ngàn gia đình binh sĩ ngụy hiểu rõ chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, nên đã có nhiều gia đình binh sĩ vào đồn gọi chồng, con, em trở về làng làm ăn, sinh sống. Trong số này ta đã xây dựng được hơn 80 cơ sở làm công tác binh vận và hoạt động khá hiệu quả. Đi kèm với công tác binh vận, địch vận, ta đã xây dựng nhiều cơ sở nội tuyến trong vùng địch để tiến hành diệt những tên đầu sỏ ác ôn, có nợ máu với dân, nhằm hỗ trợ đắc lực cho công tác dân vận trong lòng địch.

Ngoài việc lãnh đạo chống địch lấn chiếm, giữ vững và mở rộng vùng chiến lược tự do nông thôn rộng lớn, đối với thị xã và các trung tâm quận lỵ, Tỉnh ủy chủ trương củng cố căn cứ bàn đạp, xây dựng thực lực tại chỗ, tiến hành đấu tranh vũ trang, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, binh vận, chống địch bình định, giành quyền làm chủ từng phần ở cơ sở. Ngay từ đầu năm 1969, Ban cán sự khu 9 (thị xã Pleiku) đã đề ra nhiệm vụ trước mắt là tập trung phát triển cơ sở vùng ven, củng cố lực lượng du kích vùng căn cứ bàn đạp, xây dựng đội ngũ cốt cán chủ yếu là nam, nữ thanh niên con em gia đình cách mạng, con em công nhân lao động; chú trọng xây dựng lực lượng du kích mật, các đội biệt động nội thị sẵn sàng đánh địch. Để đảm bảo hoạt động tốt trong vùng nội thị, Ban cán sự khu 9 luôn chú trọng xây dựng chính trị, tư tưởng vững vàng, chỉnh đốn phương thức công tác phù hợp cho từng đảng viên, cán bộ, chiến sĩ. Từng người trước khó khăn, ác liệt, nguy nan phải giữ vững tinh thần cách mạng triệt để, liên tục tấn công địch, nắm vững khâu quyết định là bám trụ xây dựng thực lực cách mạng tại chỗ. Trong năm 1969, cùng với việc củng cố các đội công tác, xây dựng lực lượng vũ trang, khu 9 đã xây dựng được 119 cơ sở ở vùng địch tạm chiếm, trong đó có 24 đảng viên, 27 đoàn viên, rút 20 đảng viên và một số cơ sở cốt cán bổ sung cho các đội công tác và đưa đi đào tạo để tạo nguồn cán bộ.

Cùng với việc xây dựng căn cứ bàn đạp vững chắc ở vùng ven thị xã, cán bộ, chiến sĩ, các đội công tác của khu 9 làm tốt công tác xây dựng hầm bí mật, công sự bí mật. Ngay từ khi Mỹ đổ quân vào chiến trường Gia Lai, Ban cán sự khu 9 đã chỉ đạo xây dựng nhiều hầm bí mật. Nhờ vậy, cán bộ mới bám được dân, du kích mới bám sát được địch. Tất cả cán bộ, chiến sĩ đều được tập huấn cách xây dựng hầm bí mật. Mỗi người đi công tác đều mang theo cuốc, nắp hầm, gạo rang, túi nylon đựng nước, đèn pin... đi công tác đến đâu phải làm ngay hầm bí mật ở đó để trú ẩn an toàn. Nhờ hầm bí mật, "hầm ếch" dọc suối Ia Puch, cán bộ đội công tác ở vùng Bàu Cạn yên tâm nằm dưới "lòng đất" khi cả tiểu đoàn địch đóng quân trên mặt hầm. Nhờ hầm bí mật ở làng Prông, Dut, Jiêk, đội công tác cánh Bắc thị xã mới bám được bàn đạp xã B5, liên lạc được với công nhân xã Biển Hồ và cơ sở thôn Hội Nghĩa. Đội công tác nội thị cũng nhờ có hầm bí mật mới có điều kiện tiếp xúc cán bộ, cơ sở từ trong ra ngoài học tập, báo cáo tình hình. Trong những năm ác liệt nhất, cơ quan Ban cán sự khu 9 luôn phải di chuyển qua các làng khác nhau, nhưng vẫn bám được địa bàn, ngoài việc xây dựng được trận địa lòng dân, thì ở mỗi làng đều có hầm kèo, chống được phi pháo suốt ngày đêm để cán bộ lưu trú, công tác.

Xây dựng được chỗ đứng chân vững chắc, các lực lượng vũ trang Pleiku đã sát cánh cùng bộ đội liên tục tổ chức đánh địch. Từ ngày 8 đến ngày 13-3-1969, du kích xã Gào cùng bộ đội địa phương khu 9 diệt toán biệt kích thám báo và 2 tên ác ôn ở làng Thong; đánh cháy một kho chứa một vạn rưỡi lít xăng dầu, 4 tấn gạo, 5 tấn đồ hộp, diệt 3 tên Mỹ trong khu dồn. Ngày 14-5-1969, D631 phối hợp với C đặc công 90 tập kích Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 4 tại Tân Lạc, gần quận lỵ Thanh An, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn pháo, 2C bộ binh và 1C công binh Mỹ. Tháng 5-1969, cơ sở ta trong công nhân, dùng mìn hẹn giờ đánh khu kho 500 (Tây Biển Hồ) cháy suốt 3 ngày đêm. Tháng 6-1969, đội công tác của khu 9 phối hợp với một bộ phận Tiểu đoàn 3 cường tập vào trụ sở xã Biển Hồ diệt một lô cốt và một số tên địch, số còn lại tháo chạy. Đội công tác phân công nhau đi móc nối cơ sở. Từ đó, tình hình trên địa bàn có chuyển biến theo hướng có lợi cho ta.

Trong khu vực nội thị, ta cũng đã tổ chức nhiều trận tập kích địch. Ngày 6-2-1969, tổ biệt động do đồng chí Ngô Hồng Hiệp làm tổ trưởng dùng mìn hẹn giờ đánh cháy một chiếc xe Jeep trên đường Hai Bà Trưng, diệt một trung tá và ba quân cảnh Mỹ. Sau trận đánh đầu tiên ở nội thị, biệt động Pleiku được Bộ Tư lệnh B3 đề nghị tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba. Ngày 20-3-1969, tổ biệt động của đồng chí Võ Ngọc Bá đánh vào câu lạc bộ Phượng Hoàng, một tụ điểm ăn chơi của sĩ quan, công chức ngụy ở đầu đường Quang Trung (nay là Bảo tàng tỉnh), diệt 18 tên sĩ quan cấp tá và cấp úy, trong đó có 6 tên Mỹ. Từ ngày 1 đến ngày 8-5-1969, biệt động thành lại đánh tiếp hai trận, diệt một sĩ quan, đánh sập một lô cốt, làm chết 2, bị thương 2 tên địch.

Đi đôi với các hoạt động quân sự, ta tổ chức lãnh đạo quần chúng vùng ven kéo vào thị xã đấu tranh đòi hòa bình, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi giải quyết đời sống cho dân, chống các cuộc gom dân, đòi được trở về làng cũ. Bên cạnh đó, phong trào học sinh trong nội thị cũng đã nổ ra. Vào cuối tháng 7-1970, do tác động của phong trào học sinh, sinh viên ở các thành phố lớn, ở nội thị Pleiku đã có gần 3.000 học sinh các trường trung học, tiểu học nổi dậy, biểu tình đấu tranh đòi ngụy quyền thả anh Huỳnh Tấn Mẫm, Chủ tịch Hội học sinh, sinh viên Sài Gòn và đấu tranh chống địch bắt lính.

Để góp phần đảm bảo mạch máu lưu thông liên lạc giữa các đội công tác với thị xã và với tỉnh, trong việc nắm tình hình địch và chỉ đạo phong trào, Tỉnh ủy và Ban cán sự Đảng khu 9 đã lãnh đạo tổ chức các tổ giao liên bất hợp pháp, các trạm và các tổ giao liên hợp pháp từ căn cứ vào nội thị và ngược lại, hoạt động có hiệu quả. Bên cạnh đó, tỉnh và Thị ủy chủ trương đẩy nhanh việc phát triển công tác ở nội thị. Cơ sở nội thị được bổ sung, xây dựng từ nhiều nguồn khác nhau. Có nguồn ta xây dựng cơ sở từ Biển Hồ, Lệ Cần, An Mỹ đưa vào nội thị hoạt động (Lệ Cần được 6, An Mỹ được 3, Biển Hồ được 3 cơ sở). Có nguồn cán bộ ta trực tiếp xuống các huyện Bình Khê, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước, Hoài Nhơn (Bình Định), Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) xây dựng cơ sở, huấn luyện phương thức công tác hợp pháp, đưa lên hoạt động ở thị xã Pleiku. Kết quả là đầu năm 1970, bàn đạp Bình Định đã đưa lên được 8 đầu mối giao liên, 6 cốt cán, 1 đảng viên vào ở Pleiku hoạt động tại chỗ. Đồng thời ta cũng đã tuyên truyền, vận động, giáo dục phát triển cơ sở tại chỗ. Ở ấp 1 phát triển được 5 cơ sở tại chỗ, ấp 4 phát triển thêm 4 cơ sở. Trong thời gian này, cơ sở nội thị đã ổn định và bắt đầu phát triển khá.

Tại địa bàn An Khê, phong trào đấu tranh của quần chúng trong vùng đồng bào người Kinh và nội thị thời kỳ 1969 - 1971 có bước chuyển biến tích cực. Đảng bộ khu 8 phát động quần chúng biểu tình chống địch bắn pháo bừa bãi vào làng, buộc chúng phải bồi thường cho dân bị thương ở các xã Song An, Cửu An. Năm 1970, có 700 quần chúng và học sinh ở An Khê đấu tranh chống địch bắt lính, đòi Mỹ rút quân, yêu cầu vãn hồi hòa bình. Em Trần Văn Quế, 15 tuổi, ở Thượng An (xã Song An), cùng em Nam 16 tuổi, dùng chất nổ diệt tên ác ôn ở bến xe, nhiệm vụ chưa kịp hoàn thành em đã hy sinh anh dũng. Chị Hoàng Thị Chữ, một nông dân nghèo, đông con nhưng hết lòng tận tụy bảo vệ, che giấu cán bộ. Có lần địch lùng sục, chị đã giấu ba chiến sĩ trinh sát của khu 8 ở thùng phuy, trong buồng ngủ, các chiến sĩ được bảo vệ an toàn. Trong năm 1970, các lực lượng vũ trang khu 8 đã đánh 52 trận, diệt 129 tên địch, phá hủy 16 xe quân sự. Đội trinh sát an ninh vũ trang khu 8 đã diệt 3 tên ác ôn có nợ máu với dân, với cách mạng và trấn áp một số tên khác. Bọn tề ngụy sợ hãi, nhiều tên ấp trưởng, hội đồng, liên gia bỏ việc, quần chúng phấn khởi, thực lực cách mạng được củng cố và phát huy.

Nhìn chung giai đoạn 1969 - 1971, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân và dân Gia Lai đã nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn trong kế hoạch "bình định" của địch và đã xác định nhiệm vụ giành dân là "cái gốc", "cái trục của toàn bộ phong trào", "có dân là có tất cả". Do vậy, các hoạt động tiến công địch, diệt kẹp, phá kìm, giành và giữ quyền làm chủ được triển khai mạnh mẽ, đồng bộ và đều khắp, làm cho diện bình định của địch bị thu hẹp, hoạt động bình định của chúng bị giảm sút qua thời gian, chất lượng phong trào đấu tranh các mặt của nhân dân ngày càng rộng rãi, sôi nổi và đi vào chiều sâu. Một số liệu minh chứng sâu sắc là số dân giành được quyền làm chủ vào cuối năm 1971 trên địa bàn toàn tỉnh khoảng 110.000 người, tương đương với số dân làm chủ sau cuộc tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Điều đó có thể khẳng định âm mưu bình định, lấn đất, giành dân được triển khai trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ - ngụy ở Gia Lai cơ bản bị thất bại. Tuy nhiên, ở một số địa phương, cấp ủy chưa nhận thức đúng âm mưu bình định của địch, chưa thấy hết thủ đoạn tàn bạo, tinh vi của chúng, nên sinh ra tư tưởng chủ quan, thiếu kế hoạch chủ động để đối phó từ đầu, khi địch đánh phá quyết liệt thì dao động, hữu khuynh, nhiều đảng viên, cốt cán bị bật ra khỏi địa bàn. Sự kết hợp xây dựng thực lực xã, thôn vững mạnh với chống "bình định", sự phối hợp giữa đấu tranh chính trị, binh vận với đấu tranh quân sự có lúc, có nơi chưa nhịp nhàng, đồng bộ, nên chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp trong tấn công đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ.

II. XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ VÙNG TA LÀM CHỦ

Đồng thời với nhiệm vụ chống địch bình định, giành dân, công tác xây dựng, bảo vệ vùng giải phóng và khu căn cứ của tỉnh và các địa phương được xác định là nhiệm vụ trọng yếu để đảm bảo sự thắng lợi của cách mạng. Tháng 1-1969, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, vùng căn cứ: "Ra sức xây dựng thôn, xã vùng căn cứ và vùng giải phóng vững mạnh mọi mặt để hỗ trợ cho phía trước đánh địch". Để củng cố vùng ta mạnh, Tỉnh ủy chủ trương trước hết phải xây dựng thực lực tại chỗ mạnh. Các cấp ủy Đảng phải chú trọng lãnh đạo tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang, cơ sở vững mạnh, hoạt động có hiệu quả. Tỉnh ủy quyết định đưa một số đảng viên trẻ và 100% đoàn viên thanh niên vào các đội du kích tập trung chiến đấu ở xã; vùng căn cứ được tổ chức bố phòng, chống địch càn quét, rào làng chiến đấu, bảo vệ nhân dân an tâm sản xuất. Các địa phương đã làm tốt công tác này là xã A3, A9, A13 (khu 7), xã Kpier (khu 10), các xã Bắc, Sơpai (khu 2), xã E1, E3, E14 (khu 5) và xã B9, B14 (khu 4). Phong trào du kích chiến tranh vùng căn cứ được củng cố, huy động được hàng trăm du kích, trang bị đầy đủ vũ khí, ra phía trước hỗ trợ cho phá ấp, giành dân.

Bên cạnh xây dựng lực lượng du kích vùng ta làm chủ, hệ thống an ninh trong vùng căn cứ được củng cố. Toàn tỉnh vào thời điểm 1970 có 53 ban an ninh xã, 482 cán bộ an ninh các thôn làng. Lực lượng vũ trang an ninh các khu dần được củng cố, nhất là các đội an ninh ở phía trước thực hiện chính sách của cấp ủy là trấn áp bọn phản cách mạng, bảo vệ cơ quan, bảo vệ cơ sở cách mạng. Các ban an ninh đã phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, làm trong sạch địa bàn vùng ta làm chủ.

Tỉnh phát động phong trào thi đua sản xuất, xây dựng thực lực, hậu cần tại chỗ, cải thiện đời sống nhân dân vùng căn cứ, phục vụ kháng chiến. Đảng bộ tỉnh và các khu đã chỉ đạo đẩy mạnh phát triển các tổ đổi công và tổ hợp tác tương trợ lao động. Vụ mùa năm 1970, tỉnh đã lập 1.339 tổ đổi công, thường xuyên có 35.965 tổ viên tham gia, chủ yếu trong vùng nông thôn đồng bào dân tộc, chiếm tỷ lệ 27% số dân làm chủ. Các xã vùng căn cứ đã xây dựng được 96 tổ hợp tác tương trợ lao động, có 4.777 xã viên. Nhân dân ngày càng thấy rõ lợi ích của việc làm ăn tập thể và tự nguyện tham gia. Nhiều xã như Hơnờng (khu 1), xã A4, A7 (khu 7), xã Lơpà (khu 10) đã có tới 94 - 97% nông dân tham gia hợp tác xã. Sang năm 1971, ta đã xây dựng được 176 tổ hợp tác với 12.700 tổ viên, chiếm đến 2/3 tổng số lao động trong vùng căn cứ. Cả vùng căn cứ, phong trào thi đua sản xuất hăng hái như đánh giặc. Lúa rẫy của dân tỉa vụ mùa 1970 - 1971 tăng nhiều so với các năm trước. Bình quân mỗi lao động tỉa được 10 kg lúa giống, có nơi như Salam (Hơnờng) mỗi lao động tỉa đạt bình quân 15 kg, bắp giống mỗi lao động tỉa 5 trái. Cùng với phát triển rẫy tại các hộ dân, phong trào làm "rẫy cách mạng", "rẫy kháng chiến" để đảm bảo lương thực nuôi cán bộ, dân quân, du kích ăn no công tác, đánh giặc giữ làng tiếp tục phát triển. Nhờ có lương thực dự trữ, nên trong đợt đưa dân về làng cũ, tỉnh đã kịp thời giải quyết đời sống cho dân, như xuất 5,2 tấn gạo giúp dân vùng Tây khu 5 ổn định đời sống. Tạo điều kiện cho dân sản xuất, tỉnh xuất 5.000 nông cụ và 16,5 tấn lúa giống cho dân mới bỏ khu dồn, ấp chiến lược về lại làng cũ có điều kiện bắt tay ngay vào sản xuất.

Để hướng dẫn bà con người dân tộc thiểu số trồng trọt đúng kỹ thuật, tăng năng suất cây trồng, từ năm 1969 một đoàn cán bộ nông nghiệp có trình độ kỹ sư và trung cấp từ miền Bắc đã tăng cường cho Liên khu V. Một số được điều về tỉnh và tỉnh đưa về các địa phương trực tiếp phụ trách phát triển nông nghiệp, hướng dẫn dân sản xuất. Việc tăng cường cán bộ nông nghiệp cho các địa phương căn cứ đã giúp cho đồng bào Bahnar trong vùng bước đầu làm quen với khoa học kỹ thuật và thâm canh cây trồng để tăng năng suất. Chị em xã Hơnờng (khu 1) đã đấu tranh xóa bỏ những tập tục lạc hậu lâu đời kìm hãm sản xuất, gương mẫu tiếp thu những kỹ thuật canh tác mới như dùng trâu cày đất, cấy lúa ngửa tay thẳng hàng...

Yêu cầu sản xuất chung trong vùng căn cứ và vùng tranh chấp được đề ra trong thời kỳ này là: sản xuất lương thực là chính, trong đó cây mì là cây chiến lược. Chú trọng phát triển cây màu, chuyển rẫy du canh sang định canh, tăng cường bảo vệ sản xuất. Phong trào sản xuất được phát động thành những chiến dịch: chiến dịch trồng mì, chiến dịch bảo vệ hoa màu. Nhờ nỗ lực của chính quyền và nhân dân, nên dù bị bom đạn và chất độc hóa học rải thảm, phong trào sản xuất của ta ở vùng căn cứ vẫn tiếp tục phát triển. Ngoài diện tích sản xuất riêng của từng gia đình, mỗi nhà đều có 1 - 2 rẫy lúa cách mạng để đóng góp nuôi quân, nuôi du kích.

Cùng với trồng trọt, chăn nuôi trong vùng căn cứ ở thời kỳ này cũng được quan tâm đúng mức. Năm 1970, chỉ riêng khu 2, Ban kinh tài đã mua heo gửi các làng nuôi 250 con, cơ quan quân sự khu 2 có 70 con, Mặt trận gửi dân nuôi 300 con heo. Với những thành tích đã đạt được, huyện 2 luôn là lá cờ đầu trong phong trào tăng gia sản xuất và được Nhà nước tặng Huân chương chiến công hạng ba.

Từ thành quả lao động sản xuất, cuộc sống của nhân dân vùng căn cứ, vùng giải phóng ngày một cải thiện, việc động viên sức người, sức của phục vụ cho tiền tuyến cũng tốt hơn. Trong vùng căn cứ, chính sách động viên đóng góp cho cách mạng được xem là nghĩa vụ, được bình xét trong tổ đổi công, tổ hợp tác. Đồng bào tự nguyện nạp đúng, đủ, nhanh, đưa lúa tốt vào kho cách mạng. Dân đóng góp khá, nên ở các khu trong vùng căn cứ của tỉnh đều thành lập Ban lương thực gần 20 người, có nhiệm vụ bảo quản và phân phối tốt số lương thực của địa phương mình, đồng thời huy động dân làm kho chứa lương thực phân tán trong rừng. Mỗi kho chỉ chứa 1 tấn trở xuống để đề phòng cháy rừng hoặc địch đánh phá. Mỗi xã bố trí một thủ kho để nhận số lương thực do dân đóng góp. Lương thực huy động được từ dân chỉ để phục vụ chiến đấu.

Phong trào đóng góp lương thực cho cách mạng của dân ở các vùng phía Nam của tỉnh cũng diễn ra thường xuyên. Xã Ia Lốp (khu 5) thời kỳ này đóng góp được 120 tấn ngô hạt, 420 tấn sắn, 100 tấn lúa cho bộ đội chủ lực hoạt động, đánh địch ở Nam Mỹ Thạch, Phú Nhơn. Xã Đất Bằng, huyện H2 (Đông Cheo Reo) đóng góp 6.000 gùi lúa, 200.000 gốc sắn cung cấp cho bộ đội và cán bộ trong cơ quan căn cứ của tỉnh Đăk Lăk. Buôn Tà Khế đã ủng hộ cho cách mạng 15 tấn lúa, 5 tấn bắp hạt, hơn 1 tấn sắn khô và 20.000 gốc sắn. Nhân dân và các đội công tác phía nam khu 7, đã hỗ trợ 3 tấn sắn khô cho các đội công tác của huyện H3 (Tây Cheo Reo), trong lúc bị càn quét, cô lập nhiều ngày.

Tinh thần tự giác hăng hái làm nghĩa vụ cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ kháng chiến, không chỉ sôi nổi trong vùng tự do, vùng căn cứ, mà trong cả vùng tranh chấp. Vùng địch còn kiểm soát, dân cũng luôn hướng về cách mạng với lòng tin sắt đá và sẵn sàng ủng hộ cách mạng dù đối mặt với hiểm nguy, như đồng bào làng Bông, làng Weh thuộc ấp Hà Bầu (khu 3). Mặc cho đoàn bình định chốt kẹp dân trong ấp, cán bộ lương thực địa phương không có, nhưng đồng bào vẫn tự nguyện nhắc nhau mang lúa sạch theo mức đã động viên các năm trước đổ vào kho lương thực của cách mạng, đặt chung trong khu vực nhà để lúa của dân. Nhờ vậy, ta có đủ lương thực tại chỗ cung cấp cho các đơn vị hoạt động ở phía Đông Bắc Pleiku.

Số lương thực nhân dân trong tỉnh đóng góp cho cách mạng thời kỳ này rất lớn. Năm 1970, tỉnh đã nhập kho được 1.290 tấn gạo do dân đóng góp, đạt 90% kế hoạch, mua của dân được 29,5 tấn gạo bằng đổi nông cụ, ngoài ra còn động viên được 400.000 gốc sắn và nửa triệu đồng. Sang năm 1971, số lượng lương thực động viên của nhân dân lên đến 3.800 tấn gạo, 2.140 tấn ngô hạt và ba triệu gốc sắn. Riêng khu 4 động viên được 400 tấn sắn khô, đảm bảo cho Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 631 của Mặt trận Tây Nguyên đứng chân, hoạt động sát nách thị xã Pleiku. Khu 1 có mức động viên cho kháng chiến cao nhất, bình quân 22,5 kg gạo mỗi người vào năm 1971, với tinh thần dốc hết khả năng góp phần đánh thắng địch.

Cùng với việc phát triển nông nghiệp nhằm đảm bảo tự chủ lương thực, thực phẩm phục vụ công tác và chiến đấu, hoạt động công - thương nghiệp trong vùng căn cứ ngày càng được đẩy mạnh. Nhân dân các khu căn cứ như khu 1, 2 và 10 có phong trào thu nhặt sắt thép, bom đạn lép để lấy nguyên liệu sản xuất lựu đạn, mìn, thủ pháo tự tạo trang bị cho du kích đánh địch và rèn nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp. Nghề dệt truyền thống vẫn được duy trì. Thương nghiệp mậu dịch ngày càng phát triển. Giao lưu hàng hóa giữa vùng căn cứ và các cửa khẩu được mở rộng, đã tiêu thụ được những mặt hàng nông, lâm sản của nhân dân vùng căn cứ và mua những mặt hàng thiết yếu như muối, gạo, vải, thuốc men, cá khô, đèn pin... phục vụ dân sinh, công tác và chiến đấu. Trong giai đoạn này, ở Gia Lai địch kiểm soát rất gắt gao, nên hầu hết những hàng hóa quan trọng thiết yếu cung cấp cho vùng căn cứ đều phải mua từ Bình Định. Tiểu ban thương nghiệp - mậu dịch thuộc Ban tài mậu và ngân khố tỉnh chuyên làm nhiệm vụ mua hàng và vận chuyển về kho. Nhiều khi cần vận chuyển một lượng hàng lớn, ban phải huy động cùng lúc hàng trăm dân công tham gia. Con đường vận chuyển hàng hóa từ đồng bằng lên căn cứ tỉnh Gia Lai vô cùng khó khăn. Mỗi chuyến đi lấy hàng phải mất từ 3 - 4 ngày, có khi 7 - 10 ngày, đó là chưa kể bị địch phục kích, những khi trời mưa, lũ lụt. Tuyến đường vận chuyển hàng hóa chủ yếu từ Hoài Ân, Hoài Nhơn, qua An Lão, men theo sông Côn lên Kon Jơrang để về khu 1, khu 10.

Từ năm 1971 - 1972, hàng hóa chi viện của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam ngày càng nhiều. Hàng chi viện chủ yếu là quần áo, thuốc men, võng ni lon và tiền. Gia Lai nhận hàng chi viện từ cửa khẩu Bình Định, Quảng Ngãi, còn tiền nhận tại khu căn cứ (đóng ở miền Tây Quảng Ngãi), thường là nhận vàng, đô la rồi gửi cơ sở đổi ra tiền ngụy. Vùng căn cứ của tỉnh thường xuyên đảm bảo tuyến hành lang vận chuyển lưu thông an toàn, nhất là tuyến hành lang Trung ương Bắc - Nam. Trên tuyến này địch thường xuyên lùng sục, đánh phá nhưng hàng năm lưu lượng người qua lại lên đến hàng ngàn người, tỉnh vẫn đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm, có nơi ăn nghỉ, đi lại an toàn, không bị ách tắc. Tuyến hành lang Đông - Tây, Nam - Bắc đường 19 vẫn thường xuyên bảo đảm vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm, chuyển thương bệnh binh lên Mặt trận Tây Nguyên để ra Bắc điều trị. Những lúc cao điểm tỉnh huy động đến 2.500 dân công, thanh niên "quyết thắng" phục vụ hỏa tuyến. Đó là chưa tính đến hàng vạn nhân công của Hội phụ nữ giải phóng huy động chị em giã gạo thâu đêm. Trong những lúc ấy người ta có thấy cả những cụ ông tham gia giã gạo, việc mà bao đời nay người đàn ông dân tộc ở địa phương không bao giờ làm. Đây là biểu tượng sinh động thể hiện tấm lòng của người dân Bahnar đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, tất cả vì cách mạng, tất cả cho kháng chiến.

Song song với nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong vùng ta làm chủ cũng được quan tâm. Phong trào "làng sạch" triển khai từ những năm trước được giữ vững, ngày càng mở rộng về quy mô và nâng cao về chất lượng. Để có nhiều "làng sạch", đội lưu động và cán bộ phong trào của tỉnh và các khu dựa vào cấp ủy và mặt trận các cấp, sống với dân để có điều kiện gần gũi vận động nhân dân làm vệ sinh thường xuyên trong nhà và ngoài đường làng. Giai đoạn này ngành y tế tỉnh tích cực vận động dân đào hố vệ sinh, vận động thanh niên cắt tóc ngắn, tắm giặt thường xuyên, ăn chín uống sôi. Từ khi có y sĩ sản khoa về, mạng lưới hộ sinh viên dần được hình thành. Phụ nữ địa phương được giáo dục vệ sinh, hạn chế đưa trẻ con theo mẹ lên rẫy, không để sản phụ đẻ ngoài rừng. Năm 1968, số làng sạch ở vùng ta làm chủ là 27,6%, đến năm 1970 con số này là 33,9%. Riêng khu 2 có trên 50% làng sạch.

Trong điều kiện chiến tranh khốc liệt, cùng với việc tiếp nhận thuốc viện trợ từ miền Bắc, tỉnh đã tổ chức sản xuất thuốc tại chỗ, nhằm đáp ứng yêu cầu thuốc men trước mắt và có dự trữ. Tháng 7-1969, xưởng thuốc của tỉnh chính thức đi vào sản xuất do dược sĩ Văn Thị Sáu làm Xưởng trưởng, dược sĩ Luận và dược sĩ Lan phụ trách 2 tổ thuốc viên và thuốc nước. Tỉnh xây dựng được một xí nghiệp thủy tinh chuyên sản xuất ống và chai lọ đựng thuốc. Sau 3 năm được thành lập và đi vào sản xuất, xưởng thuốc đã bắt đầu hạch toán và trở thành một đơn vị công doanh. Năm 1972, xưởng có tổng doanh thu là: 1.614.107 đồng, tăng ba lần so với năm 1971.

Trước yêu cầu của cách mạng, tháng 6-1969 thực hiện chủ trương của Đảng, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam họp và thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đây là một bước quan trọng của quá trình hoàn chỉnh chính quyền cách mạng miền Nam. Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập đáp ứng yêu cầu cấp thiết về đấu tranh ngoại giao với địch và tiến tới thực hiện các quyền dân sinh, dân chủ cho nhân dân miền Nam. Ở Gia Lai, chính quyền nhân dân cấp xã, khu và tỉnh được thành lập từ tháng 8-1968 đang tiếp tục được củng cố, để đáp ứng yêu cầu mới trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ tại địa phương.

Vào mùa thu 1969, từ ngày 5 đến ngày 14-8 tại làng Tengleng thuộc xã Krong, khu 10 đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ III. Tham dự Đại hội có 110 đại biểu, đại diện cho trên 4.000 đảng viên của Đảng bộ. Đại hội kiểm điểm, đánh giá tình hình nhiệm kỳ qua trong việc lãnh đạo quân và dân các dân tộc trong tỉnh đoàn kết nhất trí, dũng cảm vượt qua những khó khăn, thách thức để đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ - ngụy trên địa bàn tỉnh và sau hơn một năm đấu tranh chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Đại hội khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và các cấp ủy địa phương, cơ sở, quân và dân Gia Lai đã phát huy truyền thống đoàn kết chiến đấu, kiên trì bám địa bàn, bám dân đấu tranh quyết liệt với địch, giữ vững và phát triển được phong trào cách mạng ở địa phương. Đó là thành công nổi bật của Đảng bộ trong nhiệm kỳ qua.

Đại hội đã thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm cần được khắc phục kịp thời. Đó là, sự lãnh đạo về tư tưởng của các cấp ủy thiếu nhạy bén, kịp thời, chưa tăng cường xây dựng tinh thần tấn công địch triệt để và liên tục, còn biểu hiện tư tưởng hữu khuynh, dao động ở một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ. Trước khó khăn, tổn thất một bộ phận cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong lực lượng vũ trang xuất hiện tư tưởng bi quan, ngại gian khổ, ngại chiến đấu ác liệt, ngại bám trụ chiến trường. Đã có người đào nhiệm về phía sau, thậm chí cá biệt có người ra đầu hàng, chiêu hồi khai báo cho địch đánh phá cơ sở ta.

Đại hội xác định nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục đẩy mạnh ba mũi giáp công, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong tỉnh khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm tấn công địch liên tục, quyết liệt, đều khắp nhằm đánh bại thêm một bước kế hoạch bình định của địch. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa III gồm 19 ủy viên (4 ủy viên dự khuyết), Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 6 đồng chí. Đồng chí Trần Văn Bình (Đẳng) được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, 3 đồng chí được bầu làm Phó Bí thư là: Phạm Xong (Hồng), Ksor Ní (Ama Nhan), Kpă Thìn (Bơhâm).

Sau Đại hội, quân và dân trong tỉnh đang chuẩn bị bước vào chiến dịch Đông - Xuân 1969-1970 thì nhận được tin Bác Hồ qua đời tại Hà Nội. Mọi người đều bàng hoàng, sửng sốt, xúc động nghẹn ngào. Một không khí trầm lặng bao trùm lên khắp núi rừng, buôn làng Gia Lai. Bác qua đời là tổn thất vô cùng lớn lao và nỗi đau thương vô hạn của Đảng và nhân dân ta. Lễ Quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức với nghi thức trọng thể nhất. Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta để tang Người 7 ngày, từ ngày 4 đến ngày 10-9-1969. Theo chương trình thống nhất, sáng ngày 9-9-1969, lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Cùng ngày ở Gia Lai, tại khu rừng bạt ngàn ở trung tâm căn cứ tỉnh, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh đã long trọng tổ chức lễ truy điệu Bác. Dưới trời mưa tầm tã, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào vùng căn cứ im lặng lắng nghe đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đọc tiểu sử Bác, Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Điếu văn của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh:

"Trong giờ phút trang nghiêm vĩnh biệt Bác, toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh biến đau thương thành hành động cách mạng, dũng cảm tiến lên thực hiện lời thề trước anh linh của Người.

Thề quyết thực hiện thắng lợi đường lối của Trung ương Đảng, các Nghị quyết và chủ trương của Khu ủy V, tăng cường đoàn kết trong Đảng bộ, tin tưởng tuyệt đối và đoàn kết chung quanh Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Thề học tập noi theo tinh thần triệt để cách mạng, đạo đức cao cả của Bác, tuyệt đối tuân theo những huấn thị trong Di chúc của Bác.

Thề vượt qua mọi sóng gió, kiên cường đấu tranh, bảo vệ sự nghiệp trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đoàn kết trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Chúng ta, tất cả cán bộ, quân dân trong tỉnh xin gắn băng tang kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ Cha già, vị lãnh tụ vô cùng kính mến của Đảng, của dân tộc và các lực lượng vũ trang nhân dân...".

Lực lượng vũ trang tỉnh chấp hành quyết định ngừng bắn ba ngày để tang Chủ tịch Hồ Chí Minh của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam.

Giữa những ngày tháng đau thương tột đỉnh ấy, từng đoàn cán bộ, bộ đội về các địa phương, buôn làng báo tin và cùng nhân dân dự các buổi lễ truy điệu Bác ở các căn cứ huyện, thị; truyền đạt Di chúc của Người và Lời kêu gọi của Trung ương Đảng. Bằng mọi hình thức công khai, bí mật, đồng bào dân tộc các vùng đã để tang Bác 7 ngày. Các làng dân tộc đánh chiêng tang tưởng nhớ Người và để báo cho nhau tin buồn vô hạn. Anh hùng Núp, người con ưu tú của các dân tộc Gia Lai và Tây Nguyên đã để tang Bác theo tập quán của dân tộc mình, 100 ngày không cắt tóc, không cạo râu để tưởng nhớ Người. Nhân dân ở thị xã Pleiku và các vùng bị địch tạm chiếm, dù sống trong vòng kiểm soát của địch vẫn tìm mọi cách hợp pháp để truy điệu Bác. Ở Pleiku, giới Phật giáo đã tổ chức lễ cầu siêu truy điệu Bác tại gia đình hoặc tại chùa và được quần chúng tham gia đông đảo. Trong nhà lao Pleiku, khi biết tin Bác mất, tổ chức cơ sở Đảng trong nhà lao đã thông báo cho anh chị em tù nhân tổ chức lễ truy điệu Bác tại nhà ăn. Sau khi đồng chí Bí thư Đảng ủy nói vắn tắt tiểu sử Bác, mọi người để phút mặc niệm và thầm hứa với Bác nguyện suốt đời chiến đấu theo gương Người.

Để biến đau thương thành sức mạnh, từ đó tăng thêm quyết tâm hoàn thành sự nghiệp cách mạng của đất nước, ngày 29-9-1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở lớp sinh hoạt chính trị để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đảng, thực hiện Nghị quyết của Trung ương về triển khai cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh, Đảng bộ tỉnh đã khẩn trương tổ chức thực hiện, xem đó là nhiệm vụ cơ bản trong công tác xây dựng Đảng có tầm quan trọng quyết định mọi thắng lợi của Đảng bộ.

Nội dung, yêu cầu của cuộc vận động gồm: giáo dục bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đảng viên, kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh; đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng. Đây là công tác thường xuyên để tăng cường sức chiến đấu của Đảng. Tỉnh ủy đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng "Chi bộ bốn tốt" và "đảng viên bốn tốt", từng bước củng cố đội ngũ đảng viên trong giai đoạn kháng chiến đầy khó khăn, thử thách.

Trong hơn một năm tiến hành cuộc vận động, lớp đảng viên Hồ Chí Minh đã phát triển được 427 đồng chí, trong đó có 52 đảng viên nữ, 1/3 là đảng viên người dân tộc thiểu số và 7 đảng viên sống hoạt động hợp pháp trong vùng địch. Đảng viên kết nạp tăng đã góp phần xóa 7 làng trắng đảng viên và 7 thôn ấp trong vùng địch còn kiểm soát. Chất lượng đảng viên trong các chi bộ qua thử thách trong đấu tranh chống địch ngày càng dày dạn. Tính giai cấp, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên được tôi luyện, năng lực lãnh đạo của chi bộ được nâng lên.

Các chi bộ phía trước tăng cường lãnh đạo quần chúng bám trụ, đấu tranh quyết liệt với địch không để chúng xúc tát dân. Các chi bộ phía sau lãnh đạo đẩy mạnh sản xuất, huy động sức người, sức của phục vụ tiền tuyến. Đảng bộ khu 1 đã lãnh đạo dân đóng góp 94 tấn gạo, vận chuyển 41 tấn vũ khí, tập trung nhanh, an toàn trong thời gian ngắn. Chi bộ các xã thuộc khu 4, khu 5 đã làm tốt công tác lãnh đạo nhân dân đấu tranh quyết liệt với địch, chống bắt lính, gom xúc dân về các khu dồn, ấp chiến lược. Dân phá ấp, phá khu dồn về lại làng cũ vào những năm 1970 - 1971 ngày càng nhiều, các đảng viên đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, tự lo liệu giải quyết các khó khăn của dân, nhanh chóng ổn định nơi ăn, chốn ở, bắt tay vào sản xuất.

Đảng viên trong lực lượng vũ trang tỉnh tăng nhanh, tỷ lệ đạt 39,2% quân số, nên đã nâng cao chất lượng chiến đấu. Đảng viên các cơ quan tỉnh và các khu làm việc tăng năng suất gấp đôi, để đảm nhiệm phần việc của đảng viên được huy động ra phía trước. Các chi bộ hoạt động hợp pháp, nắm được phương châm đấu tranh với địch, vận dụng đường lối giai cấp trong tổ chức xây dựng Đảng, trong việc thực hiện chính sách trấn áp các phần tử phản cách mạng, thực hiện tốt công tác binh vận của Đảng.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ vững được nề nếp sinh hoạt chính trị theo nội dung "ba xây", "hai chống" của Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo trong công tác chính trị - tư tưởng. Về "ba xây": Thứ nhất, xây dựng lập trường chính trị tư tưởng vững vàng, quán triệt sâu đường lối, phương châm công tác của Đảng, nâng cao lòng tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng, trung thành vô hạn, không dao động. Thứ hai, cán bộ, đảng viên phải xây dựng lập trường giai cấp vô sản, xây dựng ý chí chiến đấu, tinh thần cách mạng triệt để, đánh giá đúng tình hình địch, ta, sâu sát quần chúng. Thứ ba, phải xác định vinh dự, trách nhiệm của người đảng viên, cán bộ, xây dựng quyết tâm thực hiện Di chúc của Bác. Thực hiện "hai chống" là chống tư tưởng hữu khuynh, tiêu cực, co thủ cầm chừng; chống biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, sợ chết, sợ chiến đấu lâu dài.

Trong đợt sinh hoạt tư tưởng, phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, đấu tranh tự phê bình và phê bình, nâng cao chất lượng đảng viên, gắn với phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chính trị. Đến cuối năm 1972, toàn tỉnh có 31,2% đảng viên phấn đấu tốt, 30% chi bộ đạt tiêu chuẩn "Chi bộ bốn tốt", như chi bộ xã Lơ Ku, Sơpai… (khu 2), các chi bộ xã A2, A3, A8 (khu 7), xã E3 (khu 5), xã Gào (khu 9).

Nhiều đảng viên ở các cơ quan tỉnh xuống công tác cơ sở được Đảng bộ các khu cấp giấy xác nhận công tác tốt như: nữ đảng viên Nguyễn Thị Mười bị sa vào tay giặc vẫn giữ được khí tiết người đảng viên cộng sản; nữ đảng viên Chuyên ở chi bộ Ban dân y, dù bị thương nặng vẫn không kêu ca, bệnh chưa khỏi chị vẫn đề nghị được ở lại cơ sở tiếp tục công tác; Y sĩ Hoàng Cao Vân không quản ngại hy sinh, ác liệt vượt qua lửa bom B52 cứu chữa người bị thương; đảng viên Bùi Kế Nghiệp, kỹ sư mới từ Bắc vào chiến trường, không những nhiệt tình công tác được cán bộ địa phương tin yêu, mà trong thời gian ngắn đã học thông tiếng dân tộc để làm công tác; đảng viên các trạm giao bưu phía nam và Bắc đường 19, mặc cho địch càn quét đánh phá ác liệt, vẫn bám trụ công tác, đảm bảo mạch máu giao thông của tỉnh thông suốt; đảng viên chi bộ xưởng dược của Tỉnh ủy, tuy ít người nhưng động viên nhau làm suốt ngày đêm, chế biến để có đủ lượng thuốc phục vụ tuyến trước... Đảng bộ khu 8, cán bộ biên chế ít, chỉ có 48 người, trong đó có 31 đảng viên sinh hoạt trong bảy chi bộ. Năm 1971, một số đảng viên bị bắt, có người ra chiêu hồi, chỉ còn lại 27 đảng viên, nhưng vẫn kiên cường bám trụ cơ sở để hoạt động. Ban cán sự khu 8 thực hiện cuộc vận động xây dựng "Chi bộ bốn tốt" và rèn luyện đảng viên bốn tốt quyết tâm bám dân, bám ấp để công tác. Sau một thời gian ngắn phong trào đã vươn lên, cán bộ, đảng viên của khu 8 đã xây dựng được bàn đạp ven quận lỵ và một số căn cứ lõm, tạo thế đứng vững tại địa bàn trong mọi tình huống.

Vào thời điểm này, được sự đồng ý của Khu ủy V, Gia Lai thành lập thêm khu mới, lấy tên là khu 11. Địa bàn khu 11, phần lớn tách từ vùng Nam khu 7 cũ, có dân số 11.419 người. Đảng bộ có 7 chi bộ, 75 đảng viên. Tỉnh ủy chỉ định Ban cán sự khu 11 có 9 ủy viên, do đồng chí Rơmah Thiêng, Tỉnh ủy viên làm Bí thư.

Đi đôi với việc củng cố các tổ chức cơ ở Đảng và nâng cao chất lượng của đội ngũ đảng viên, công tác xây dựng các đoàn thể quần chúng được chú trọng. Tổ chức phụ nữ giải phóng tăng cường củng cố và phát triển các cấp hội. Đội ngũ cán bộ nữ, nhất là nữ cán bộ người dân tộc tại chỗ tăng cả về số lượng và chất lượng. Tổng số cán bộ nữ toàn tỉnh tính đến thời điểm cuối năm 1970 là 441 người, chiếm 21% tổng số cán bộ của tỉnh. Ở một số khu có ủy viên nữ người dân tộc địa phương được kèm cặp, phân công sang làm cán bộ chỉ huy quân sự địa phương. Tỉnh đội gửi đào tạo 40 cán bộ nữ dân tộc ở trường Quân chính Tây Nguyên để về làm trợ lý Khu đội và Ban dân quân Tỉnh đội.

Qua thực tiễn hoạt động trong phong trào quần chúng, tổ chức Đoàn thanh niên nhân dân cách mạng không ngừng được củng cố và phát triển. Tổ chức cơ sở đoàn phát triển tại nhiều địa phương. Số lượng đoàn viên tăng nhanh trong hai năm 1969 - 1970. Toàn tỉnh đã phát triển được 3.279 đoàn viên, sinh hoạt trong 168 chi đoàn, trong đó có 95 chi đoàn ở xã và 73 chi đoàn ở các cơ quan. Trong phong trào thi đua làm theo Di chúc Bác Hồ đã có 357 đoàn viên thanh niên tình nguyện nhập ngũ trong Hè - Thu năm 1970. Trong đó có một số đoàn viên thanh niên ở cơ quan tỉnh như Hồ Văn Mười, Lê Văn Tâm chiến đấu xông xáo, lập công xuất sắc, hy sinh anh dũng. Tổng kết một năm lập công dâng Bác, cuối năm 1970, tỉnh đã bình chọn được 692 đoàn viên thanh niên ưu tú. Bước đầu lập được Hội thanh niên giải phóng ở khu 2 và khu 6 gồm 26 chi hội với 3.342 hội viên. Trên cơ sở củng cố, kiện toàn xây dựng tổ chức đoàn và Hội thanh niên giải phóng, phong trào "5 xung phong" 3) của thanh niên được phát động sôi nổi. Qua hai năm phát động thi đua thanh niên làm theo Di chúc Bác Hồ, đoàn thanh niên đã giới thiệu cho các cấp ủy Đảng trên 1.000 đoàn viên ưu tú để bồi dưỡng phát triển đảng và đã có 844 đoàn viên được kết nạp vào Đảng.

Kết thúc hai năm thực hiện cuộc vận động nâng cao chất lượng hoạt động của đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng và làm theo Di chúc Bác Hồ, từ ngày 14 đến ngày 24-9-1971 đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, tại làng Kon Tơmok, xã Đakhleh, khu 1. Có 126 đại biểu thay mặt cho 4.544 đảng viên toàn Đảng bộ về dự. Đại hội diễn ra trong bối cảnh phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng ở tỉnh lên cao. Đại hội khẳng định, sau ba năm chống kế hoạch bình định của địch, các cấp ủy Đảng đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm trong vận dụng phương châm, tổ chức tấn công địch đều khắp ba vùng, phá từng mảng ấp chiến lược. Các lực lượng vũ trang tỉnh tiến bộ đều. Thực lực chính trị được xây dựng và củng cố. Đảng bộ đã vượt qua nhiều khó khăn, tổ chức lãnh đạo nhiều đợt hoạt động quân sự, chính trị nối tiếp nhau, đã góp phần quan trọng đẩy quân địch lún sâu vào thế bị động, tạo ra sự thay đổi về cục diện chiến trường có lợi cho ta.

Đại hội đã nghiêm khắc kiểm điểm những thiếu sót, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng các cấp từ tỉnh đến cơ sở và những mặt hạn chế của phong trào, đồng thời phân tích chỗ mạnh tạm thời, chỗ yếu cơ bản của địch. Trên cơ sở đó, Đại hội xác định quyết tâm của toàn Đảng bộ, phát huy những ưu điểm, khắc phục khó khăn, khuyết điểm, phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm: chống bình định, giành và giữ dân vùng nông thôn; củng cố và mở rộng vùng giải phóng; phát triển thực lực cách mạng ở thị xã, thị trấn nhằm đánh bại căn bản kế hoạch bình định của địch trên địa bàn tỉnh, góp phần làm thất bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa IV gồm 26 đồng chí, Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 8 đồng chí. Đồng chí Trần Văn Bình (Đẳng) được bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy. Các đồng chí Ksor Ní (Ama Nhan), Kpă Thìn (Bơhâm) được bầu làm Phó Bí thư.

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV cũng đã tổng kết kinh nghiệm về nhiều mặt hoạt động của Đảng bộ trong ba năm chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và nêu ra những nhiệm vụ công tác trước mắt là chuẩn bị tốt mọi điều kiện để thực hiện thành công cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 trên địa bàn tỉnh.

III. LÃNH ĐẠO PHỐI HỢP THỰC HIỆN TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY 1972

Sau những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trên chiến trường Tây Nguyên vào những năm 1970 - 1971, cục diện chiến trường Gia Lai có những chuyển biến quan trọng theo hướng có lợi cho ta. Quân chiến đấu Mỹ gồm Sư đoàn 4 bộ binh và sư đoàn không vận số 1 đã rút khỏi chiến trường Gia Lai, chỉ còn gần 1.000 cố vấn và một số phân đội kỹ thuật. Địch ra sức bắt lính, tăng quân để bổ sung cho 9 tiểu đoàn cộng hòa, 3 tiểu đoàn biệt kích, 2 tiểu đoàn và 8 liên đội bảo an, củng cố 154 trung đội dân vệ, 46.000 phòng vệ dân sự, 2.100 nhân viên cảnh sát và 55 đoàn bình định. Quân số ngụy tuy đông nhưng phải thay thế cho gần 3 vạn quân Mỹ đã rút đi, nên chúng buộc phải chuyển hẳn sang thế phòng ngự bị động. Thế bố trí của chúng bị co kéo, dàn mỏng nên tạo ra nhiều sơ hở. Sư đoàn 22 và Sư đoàn 23 cộng hòa phải phân tán chiếm đóng trên 12 tỉnh Nam khu V và Tây Nguyên, tại Gia Lai, lực lượng cộng hòa thường trực còn chưa đầy 2 trung đoàn.

Mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung lực lượng của địch đã trở nên sâu sắc. Chiến trường mở rộng, quân số địch có hạn, chúng vừa phải sử dụng lực lượng để bình định, hòng đối phó với phong trào đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng, phong trào du kích chiến tranh trong tỉnh ngày càng lên cao trên cả ba vùng, vừa phải đối phó với sức tấn công của bộ đội chủ lực Tây Nguyên liên tục và mạnh mẽ.

So với năm 1971, chương trình bình định của địch trong năm 1972 bị chững lại và từng bước bị đẩy lùi ở một số nơi như Nam khu 6 vàkhu 7, Tây khu 4 và khu 5. Số ấp chiến lược của địch bị đánh ra ở nhiều nơi và giảm xuống. Chúng thừa nhận có đến 70% số ấp chiến lược trên toàn tỉnh có cơ sở của ta hoạt động. Trong lúc đó, thế đứng chân của các đơn vị chủ lực Mặt trận Tây Nguyên được bố trí vững chắc, nhiều đơn vị thọc sâu ép sát thị xã Pleiku, sát căn cứ đầu não của địch.

Tháng 5-1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra quyết định: "Đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và cả chiến trường Đông Dương, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua...".

Tháng 9-1971, Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu V quyết định chuẩn bị cho cao trào tiến công và nổi dậy năm 1972 với ba yêu cầu: Diệt và làm tan rã lớn quân ngụy, phá vỡ từng mảng hệ thống phòng thủ cơ bản của địch. Đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, giành quyền làm chủ phần lớn nông thôn đồng bằng. Đẩy mạnh phong trào thành thị đấu tranh dân sinh, dân chủ, đòi Mỹ rút quân, đòi hòa bình.

Bộ Tư lệnh Quân khu V quyết định chọn Tây Nguyên là chiến trường trọng điểm tấn công của bộ đội chủ lực, thu hút và tiêu diệt bộ phận lớn lực lượng cơ động của Quân đoàn II ngụy.

Chấp hành chỉ đạo của Khu ủy và thực hiện kế hoạch phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên, Gia Lai có nhiệm vụ tổ chức đánh địch trên các tuyến giao thông trọng yếu, nhằm tạo thế chia cắt Pleiku với các tỉnh duyên hải miền Trung và Pleiku với Kon Tum. Đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh lên cao, xây dựng và phát triển lực lượng, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đánh sâu vào hậu cứ, thị xã, quận lỵ, phát động quần chúng nổi dậy giải phóng đại bộ phận nông thôn.

Tỉnh chọn khu 3, khu 4 làm hướng trọng điểm giải phóng dân, khu 5, 6, 8 là điểm diện. Phía Đông Nam tỉnh, huyện H2 và H3 cũng là hướng hoạt động chính của chiến trường Đăk Lăk. Trước chiến dịch, cán bộ, đảng viên, các ngành, đơn vị đều tổ chức sinh hoạt chính trị, học tập quán triệt tình hình và nhiệm vụ mới, tiếp tục thực hiện cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kiện toàn củng cố các cấp ủy Đảng. Các đơn vị bộ đội địa phương được bổ sung quân số, tăng cường trang bị vũ khí, nhất là súng B40, B41 diệt xe cơ giới. Tỉnh và các địa phương, đơn vị tổ chức tập huấn kỹ - chiến thuật cho bộ đội nhằm thực hiện yêu cầu diệt gọn đại đội, trung đội địch, có đủ khả năng bám trụ địa bàn nông thôn đất bằng đánh địch phản kích, giữ quyền làm chủ cho nhân dân.

Công tác chuẩn bị chiến dịch được triển khai đồng bộ, chu đáo. Việc gấp rút mở đường vận chuyển được xác định là nhiệm vụ trọng yếu trước mắt. Trong thời gian gần một tháng, lực lượng công binh tỉnh, thanh niên "quyết thắng" và 1.500 dân công đã mở được 150 km đường chiến dịch, ô tô có thể chạy suốt phía Đông tỉnh. Công tác vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc men của trên chi viện bằng xe cơ giới và dân công phục vụ chiến dịch được 1.681 tấn. Hệ thống hậu cần được thiết lập, các trạm phẫu tiền phương, các trạm sửa chữa vũ khí và làm vũ khí tự tạo được dựng lên ở các khu vực trọng điểm. Hàng trăm dân công phục vụ hỏa tuyến, vận chuyển thương binh thường xuyên túc trực, sẵn sàng làm nhiệm vụ. Hội đồng chi viện tiền phương tỉnh, động viên đợt đầu năm 1972 được 12.000 tấn gạo phục vụ chiến đấu.

Thời điểm này, Mỹ - ngụy đã đánh hơi phát hiện thấy sự chuẩn bị của ta sẽ mở các cuộc tấn công trên các chiến trường. Nhưng chúng cho rằng, ta chưa đủ khả năng mở cuộc tấn công lớn cùng lúc trên nhiều mặt trận. Địch nhận định, hướng hoạt động chủ yếu của ta có thể là Tây Nguyên, nhưng quy mô không lớn, thời điểm tấn công sẽ vào dịp Tết Nhâm Tý. Tháng 12-1971, địch điều động một lữ đoàn dù và một trung đoàn bộ binh lên tăng cường phòng thủ phía Bắc Tây Nguyên. Tết Nhâm Tý đã qua, mùa khô 1971 - 1972 sắp kết thúc, địch vẫn chưa thấy quân ta tấn công. Mỹ - ngụy càng chủ quan, chúng huênh hoang "Việt Nam hóa chiến tranh thắng lợi". Chúng hí hửng đến năm 1975 sẽ đạt được mục tiêu kiểm soát được 11.000 ấp chiến lược, quét sạch các lõm căn cứ của ta, làm cho chiến tranh du kích "tàn lụi"4).

Sau một thời gian khẩn trương chuẩn bị, các lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên triển khai kế hoạch tác chiến. Ngày 26-3-1972, Đại đội 31, Đại đội 32 của khu 4 và du kích địa phương phối hợp với lực lượng Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 631 và Tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 24 đánh cắt giao thông trên đường 14, đoạn từ cầu Ia Tơwe đến chân núi Chư Thoi, cách thị xã Kon Tum 9 km về phía nam. Thế chia cắt con đường huyết mạch giữa Pleiku và Kon Tum đã hình thành. Tại Chư Thoi, du kích địa phương cùng các chiến sĩ Trung đoàn 95 đắp ụ, chôn mìn, xây dựng những trận địa chốt ngay mép đường ở khu vực cầu Ia Tơwe. Bộ đội và du kích ta kiên cường bám trụ, chịu đựng hàng trăm tấn bom rải thảm của máy bay B52, hàng chục quả bom 7 tấn của Mỹ, hàng vạn quả đạn pháo các loại, liên tiếp giáng cho địch những đòn nặng nề. Nhiều đoàn xe tiếp tế của địch bị diệt, có đoàn tới 120 chiếc. Sau nhiều ngày không tiếp tế được vũ khí, lương thực, thực phẩm cho khu vực Bắc Tây Nguyên, ngày 4-4-1972, địch đưa Trung đoàn 45 và Trung đoàn 53 có xe tăng và máy bay yểm trợ thay nhau phản kích hòng đẩy quân ta ra khỏi Chư Thoi. Dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 Huỳnh Nghĩ và Chính ủy Lê Quang Mỹ, bộ đội và du kích ta gan góc trụ vững, biến khu vực Chư Thoi thành cánh cửa thép, chặn đứng mọi cuộc phản kích của địch. Giao thông trên tuyến đường 14 bị đánh cắt gần một tháng, làm tê liệt hẳn đường vận chuyển của địch.

Ở phía Đông tỉnh, ngày 1-4-1972, Sư đoàn 3 Quân khu V đánh cắt giao thông đường 19, đoạn từ chân đèo An Khê đến Đồng Phó. Trước thế uy hiếp của lực lượng ta, địch đưa Trung đoàn 42 và 2 chi đoàn xe bọc thép của Sư đoàn Mãnh Hổ (Đại Hàn) ra phản kích. Bộ đội ta đã đánh trả quyết liệt, giữ vững trận địa, đánh lui các đợt phản kích của địch. Trên đường 19, đoạn từ Đông Pleiku - Hà Lòng - Kon Dơng xuống đến Tây chân đèo Mang Yang, Tiểu đoàn 2 và các Đại đội 17, 18 công binh, cùng du kích các xã ven đường liên tục phối hợp, luân phiên đánh cắt giao thông từng đoạn đường, diệt xe vận chuyển tiếp tế, đánh địch đi tuần đường, gác cầu, buộc chúng phải co lại. Kết hợp với đánh địch trên đường, Đại đội 7, Tiểu đoàn 2 tập kích chốt bảo an địch giữ ấp chiến lược Hà Ra.

Thị xã Pleiku hoàn toàn bị cắt giao thông đường bộ với Kon Tum và các tỉnh duyên hải miền Trung. Quân địch trong thị xã rối loạn, mọi sinh hoạt hầu như bị đình trệ. Một số dân, chủ yếu là gia đình ngụy quân, ngụy quyền đã chuẩn bị di tản. Thế trận chia cắt địch ở chiến trường Gia Lai đã không để chúng vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm lên chiến trường Kon Tum, đã tạo thuận lợi cho quân chủ lực Mặt trận Tây Nguyên giành thắng lợi ở Đak Tô - Tân Cảnh, đập nát tuyến phòng thủ của địch, giải phóng toàn bộ vùng Bắc tỉnh Kon Tum.

Cùng với đánh phá cắt các tuyến giao thông chiến lược, lực lượng vũ trang của tỉnh đã đồng loạt tấn công địch ở các khu dồn, ấp chiến lược. Tại ấp Glar - Brêl Dôr (khu 6), bộ đội ta diệt một trung đội bảo an, thu 3 súng, bắt 4 tù binh; cùng lúc ta tấn công địch ở ấp Barmaih, đưa 300 dân về làng cũ; bao vây địch ở ấp Hàbong, kết hợp công tác binh vận với phát động quần chúng, giải phóng 600 dân.

Ở Pleiku, ngày 20-5-1972, C1 (khu 9), tập kích khu giải trí Trà Bá diệt bọn "bình định nông thôn" và cảnh sát ác ôn. Ngày 9-6-1972, du kích vùng ven đường 14 (Nam Chư Thoi) bắn rơi một máy bay trực thăng, diệt tên Tướng Giôn Pôn Van, Trưởng đoàn cố vấn Quân đoàn II, khi hắn từ Pleiku đi Kon Tum. Tiểu đoàn 408 đặc công đánh vào khu kho xăng, căn cứ Quân đoàn II, tập kích sân bay Arêa, đốt cháy hàng ngàn tấn xăng, phương tiện chiến tranh của địch.

Bộ đội khu 5 tập kích diệt trung đội dân vệ ở ấp làng Yit, thu 14 súng, bắt giáo dục 13 tề ấp, vận động 800 dân nổi dậy trở về làng cũ. Địch từ Thanh An ra giải tỏa, bị bộ đội ta đánh trả quyết liệt, diệt 13 tên. Thừa thắng, bộ đội khu 5 phối hợp với Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320 đánh đồn Tầm, Chư Pho, hỗ trợ đồng bào Thanh Giáo và 6 làng Klanh nổi dậy đấu tranh phá lỏng thế kìm kẹp. Bộ đội khu 4 phối hợp với Tiểu đoàn 631 mở dân vùng Ia Bi, Plei Hmơrông, giải phóng 10.000 dân ở khu vực này. Ta phát động quần chúng truy tìm bọn dân vệ, phòng vệ dân sự, thu hết vũ khí. Các lực lượng vũ trang khu 8, đột phá khu ấp Đồng Chè, làm binh biến trung đội phòng vệ dân sự, thu 2 súng. Bắt giáo dục bọn tề ấp, chỉ huy dân vệ, phát động quần chúng nổi dậy phá kìm ở các xã nông thôn phía Bắc quận lỵ. Tiểu đoàn 67 hoạt động giành dân ở khu 6, chuyển qua khu 3, tập kích đại đội bảo an ở ấp Hà Bầu, diệt 36 tên, bắt 33 tên phòng vệ dân sự. Bọn địch ở các chốt điểm làng Kach, làng Lut, ấp Ia Tơwe hoảng sợ bỏ chạy.

Ở khu vực Cheo Reo, phía nam tỉnh, trọng điểm mở dân của Đăk Lăk, Tiểu đoàn 301, phối hợp cùng bộ đội địa phương và các đội công tác, đêm 24-3-1972, mở màn Chiến dịch Xuân - Hè, đánh vào một số cứ điểm, ấp chiến lược, diệt các chốt địch ở Đức An, pháo kích vào Kà Lúi, phát động quần chúng đưa 4.000 dân ở phía nam sông Ba về làng cũ. Địch phải đưa hai liên đội bảo an từ Cheo Reo, Cẩm Ga xuống phản kích giải tỏa, bộ đội ta chặn đánh gây nhiều thiệt hại cho hai đơn vị này. Những ngày sau đó bộ đội chủ lực phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục đánh địch ở khu vực Ma Rôk, phá ấp giành dân ở khu vực này. Tháng 4-1972, ta tiếp tục đánh địch ở Phú Túc, bao vây đồn Kà Lúi. Đầu tháng 5-1972, địch ở đồn Kà Lúi tháo chạy, ta giải phóng toàn bộ nhân dân ở vùng này. Phía Tây Cheo Reo, bộ đội địa phương, du kích, cán bộ chính trị, binh vận và các đội công tác, có lực lượng bộ đội chủ lực hỗ trợ, đã đột nhập vào các khu dồn, các ấp chiến lược khống chế bọn tề ngụy, làm chủ tuyến ấp chiến lược dọc đường 7A, 7B, quanh đồn Rơngol, quận lỵ Phú Thiện, triệt phá bộ máy kìm kẹp của địch, thu 175 súng các loại, mở được 17.000 dân đưa lên thế làm chủ. Đến cuối năm 1972, ta đã giải phóng và làm chủ hoàn toàn vùng nông thôn huyện H2 và một phần khu 11. Tại địa bàn khu 7, khu 11 và huyện H3, ta huy động được hơn 2.500 thanh niên xung kích, cùng với một bộ phận đơn vị công binh 17 mở đường chiến dịch gần 70 km, nối phía nam đường 19 đến phía Bắc đường 7A (Đông Bắc sông Ayun). Huy động dân công, phương tiện vận chuyển xe thồ, xe bò... vận chuyển 1.681 tấn hàng gồm lương thực, thực phẩm, quân trang, vũ khí phục vụ chiến trường đánh địch.

Phát huy thắng lợi Xuân - Hè, ta tiếp tục tấn công địch đến mùa Thu năm 1972. Bộ đội tỉnh phối hợp với bộ đội chủ lực Tây Nguyên tấn công tiêu diệt Trung tâm huấn luyện biệt kích Đức Cơ, một căn cứ lớn của địch ở phía tây tỉnh do một tiểu đoàn biệt kích và 10 cố vấn Mỹ đóng giữ. Trận tập kích kéo dài 40 phút, toàn bộ quân địch bị xóa sổ. Ta phát động quần chúng nổi dậy, giải phóng trên 3.000 dân từ khu vực làng Mokđen đến giáp làng Yit, đưa dân lên làm chủ tại chỗ. Ta vận động cả trăm gia đình đồng bào người Kinh và một số gia đình lính ngụy vào sinh sống trong vùng giải phóng của khu 4. Bộ đội khu 4 đánh địch hỗ trợ cho 5.200 dân của 20 làng ở các xã B8, B9 và B10 lên thế làm chủ.

Một vùng rộng lớn phía tây tỉnh từ Tây đường 14 lên giáp biên giới tỉnh Ratanakiri (Campuchia), chạy dài từ sông Pôkô sát tỉnh Kon Tum vào giáp ranh tỉnh Đăk Lăk được giải phóng. Tỉnh và các khu tổ chức hàng chục đoàn cán bộ với 864 lượt người, ở các đoàn thể, chính quyền tăng cường cho khu vực phía tây. Tỉnh nhanh chóng tổ chức xây dựng vùng mới giải phóng, ổn định tư tưởng, bồi dưỡng cán bộ cốt cán, xây dựng bộ máy chính quyền cơ sở. Tập trung khả năng của tỉnh và các khu chăm lo đời sống nhân dân. Tổ chức cứu đói, cứu đau, cứu lạt muối, cứu rách, giải quyết nơi ăn ở để dân an tâm bám trụ xây dựng cuộc sống mới.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1972 trên địa bàn tỉnh đã thu nhiều thắng lợi to lớn, góp phần tích cực cùng toàn miền làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Các lực lượng vũ trang, quân và dân địa phương đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên đã liên tục tấn công và tiêu diệt một lực lượng lớn quân địch, phá vỡ từng mảng hệ thống đồn bốt của địch. Vùng giải phóng của tỉnh được mở rộng. Đến cuối năm 1972, số dân ta làm chủ trong tỉnh lên đến 130.000 người. Qua thực tiễn công tác, chất lượng chiến đấu của các lực lượng vũ trang tỉnh tiến bộ nhiều mặt. Phong trào du kích chiến tranh lên cao, bộ đội địa phương tổ chức diệt gọn nhiều đại đội, trung đội, chốt điểm của địch, hỗ trợ đắc lực cho việc giành dân, mở rộng vùng giải phóng, tạo thế đứng vững chắc của các lực lượng trên chiến trường.

Thực lực chính trị cơ sở được củng cố, phát triển. Vùng căn cứ được củng cố vững chắc. Hậu cần tại chỗ đảm bảo tương đối tốt, đáp ứng yêu cầu chính trị của địa phương. Hoạt động quân sự mạnh và liên tục đã hỗ trợ đắc lực cho phong trào nổi dậy giành chính quyền làm chủ của nhân dân. Công tác binh vận, địch vận và hoạt động nội tuyến ở thị xã, thị trấn quận lỵ có nhiều tiến bộ. Đồng bào ở thị xã và một số vùng bị địch kiểm soát nổi dậy đấu tranh đòi địch xóa bỏ các thứ thuế mới đặt ra, chống giá cả tăng vọt, đòi ngụy quyền hạ giá gạo, xăng dầu. Phong trào chống bắt lính, chống bắt thanh niên vào phòng vệ dân sự phát triển rộng khắp. Tinh thần binh lính ngụy hoang mang, nhất là sau chiến thắng Đak Tô - Tân Cảnh cuối tháng 4-1972. Ở An Khê, nhiều cuộc binh biến xảy ra, địch lo sợ phải thu hồi lại toàn bộ súng phát cho phòng vệ dân sự ở phía Bắc quận lỵ và 5 ấp thuộc các xã Tân An, Cư An và Song An.

Tuy còn một số mặt chưa thực hiện đạt yêu cầu so với kế hoạch đề ra, nhưng phải khẳng định rằng những thắng lợi của quân và dân tỉnh Gia Lai giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và các cấp ủy địa phương trong cuộc tiến công và nổi dậy năm 1972 là rất to lớn và toàn diện. Thắng lợi này đã góp phần đáng kể cùng với quân và dân cả nước đánh bại và làm phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ - ngụy.

Sau khi tái trúng cử Tổng thống, Níchxơn và các thế lực hiếu chiến của Mỹ lại âm mưu dùng sức mạnh quân sự để buộc nhân dân ta phải khuất phục. Ngày 30-11-1972, Níchxơn họp kín với Kítxingiơ, Leđơ, Hâygơ và Bộ Tham mưu liên quân Mỹ, chủ trương mở một đợt rải thảm bom bằng B52 xuống miền Bắc nước ta. Từ ngày 18 đến ngày 29-12-1972, Mỹ trắng trợn dùng hàng loạt máy bay B52 và các loại máy bay hiện đại nhất tập kích và rải bom xuống Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và một số thành phố khác ở miền Bắc nước ta. Nhưng cuộc phiêu lưu điên rồ của chúng đã bị thất bại thảm hại. Trong 12 ngày đêm kiên cường chiến đấu, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 81 máy bay hiện đại của Mỹ, trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F111. Ta đã diệt hàng trăm giặc lái, bắt sống 43 tên, trong đó có 33 giặc lái B52.

Thắng lợi trận "Điện Biên Phủ trên không" của quân và dân miền Bắc đã nhấn chìm ý đồ "đàm phán trên thế mạnh" của tập đoàn Níchxơn. Chúng không còn con đường nào khác phải tiếp tục đàm phán trên thế yếu và cô lập. Ngày 27-1-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được bốn bên chính thức ký kết tại Thủ đô Pari của nước Pháp, buộc Mỹ phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Mỹ phải rút quân và cam kết chấm dứt mọi sự dính líu quân sự vào miền Nam Việt Nam.

Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, ngày 28-1-1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Lời kêu gọi nhân dân cả nước, khẳng định cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã giành được những thắng lợi rất to lớn. Tuy nhiên, các thế lực phản động vẫn chưa từ bỏ âm mưu phá hoại hòa bình, ngăn trở con đường độc lập, tự do của nhân dân ta. Trung ương Đảng kêu gọi quân và dân hai miền "tăng cường đoàn kết, đề cao cảnh giác, củng cố những thắng lợi đã giành được, hoàn thành độc lập dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà".

Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Ban đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tại miền Trung Trung Bộ ra lời kêu gọi khẳng định: "Thắng lợi này có ý nghĩa quốc tế và ý nghĩa thời đại vô cùng lớn lao. Đồng bào hãy nổi dậy phá sạch các khu dồn, ấp chiến lược, về lại làng cũ làm ăn. Đồng bào thành thị, không phân biệt thành phần, xu hướng chính trị, tín ngưỡng tôn giáo... đoàn kết rộng rãi, thống nhất hành động, đấu tranh quyết liệt đòi hòa bình, độc lập thật sự, đòi quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống, lật đổ tập đoàn tay sai Nguyễn Văn Thiệu, lập chính quyền hòa hợp dân tộc..."

Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Gia Lai ra thông báo mười điểm để mọi người thực hiện, góp sức cùng chính quyền cách mạng đấu tranh giữ vững vùng giải phóng, nghiêm trị mọi hành động vi phạm Hiệp định của địch. Để chào mừng thắng lợi to lớn, tại trung tâm căn cứ của tỉnh đã tổ chức cuộc mít tinh lớn với hơn 1.500 đồng bào, cán bộ, chiến sĩ, các cơ quan, đoàn thể quanh tỉnh đến dự. Đoàn Chủ tịch cuộc mít tinh có ông Krung Tôlô Kơn (Siu Bôm), Chủ tịch Ủy ban Mặt trận giải phóng tỉnh và Anh hùng Núp, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh chủ trì. Tại cuộc mít tinh, lãnh đạo tỉnh đã nêu rõ ý nghĩa thắng lợi của quân dân ta đã giành được và động viên mọi người, mọi địa phương, cơ quan, đơn vị trong tỉnh phát huy khí thế chiến thắng, tiến lên giành nhiều thắng lợi to lớn hơn. Kết thúc lời kêu gọi của Ủy ban nhân dân cách mạng, mọi người đồng loạt hô lớn khẩu hiệu "Nhiệt liệt ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam", biểu lộ khí thế phấn khởi, tự hào và quyết tâm đoàn kết của quân và dân tỉnh Gia Lai kiên quyết, chủ động đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn mới của địch.

Cuộc chiến đấu chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của quân và dân các dân tộc tỉnh Gia Lai diễn ra vô cùng khó khăn, ác liệt trong suốt những năm 1969 - 1973, bước đầu đã giành được thắng lợi vẻ vang. Chiến thắng này đã góp phần cùng toàn miền Nam và cả nước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ lịch sử "đánh cho Mỹ cút" và tạo tiền đề quan trọng tiến lên giành thắng lợi mới trong giai đoạn mới "đánh cho ngụy nhào" như di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Có được thành công này, trước hết là do Đảng bộ đã vận dụng sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng vào thực tiễn tình hình địa phương. Đảng bộ đã làm tốt công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thông qua các cuộc vận động xây dựng Đảng, đội ngũ đảng viên phát triển ngày càng đông đảo hơn. Từng đảng viên được tôi luyện và trưởng thành qua thực tiễn chiến đấu và công tác. Các cấp ủy Đảng không ngừng được củng cố, phát triển. Trình độ, năng lực lãnh đạo của các cấp ủy Đảng được nâng lên, nhất là trong lãnh đạo về tư tưởng, kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện hữu khuynh dao động, ngại hy sinh... xây dựng được tư tưởng tiến công địch liên tục, quyết tâm vượt khó khăn, tổ chức, lãnh đạo phong trào tiến lên giành thắng lợi lớn.

Đó là thắng lợi của tinh thần kiên trì bám trụ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, kiên trì xây dựng và phát triển thực lực cách mạng cả về chính trị, quân sự và xây dựng hậu cứ vững chắc. Đó là sự vận dụng sáng tạo các chiến thuật đánh địch phù hợp với từng địa bàn, thời điểm cụ thể và sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng cách mạng trong quá trình tác chiến. Trên cơ sở thực lực tại chỗ, đã phát huy cả thế và lực cách mạng ở mỗi vùng, liên tục hỗ trợ cho nhau và phối hợp với phong trào chung, tiến công đánh bại từng bước các âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, giành thắng lợi ngày càng lớn hơn.

Đây là những kinh nghiệm vô cùng to lớn và quý báu của Đảng bộ, sẽ được tiếp tục phát huy trong những năm tiếp theo, nhằm khắc phục những khó khăn, thiếu sót, ra sức xây dựng, phát triển thế và lực mới cho cách mạng địa phương, nhằm chuẩn bị cho trận thắng cuối cùng, góp phần đem lại quyền làm chủ cho nhân dân ta, đất nước ta được độc lập, non sông Việt Nam quy về một mối.

______________

1. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp: Ký ức Tây Nguyên, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.281.

2.Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.12, tr.426.

3. Nội dung "5 xung phong" là:

Xung phong tòng quân và tham gia du kích.

Xung phong diệt thật nhiều sinh lực địch.

Xung phong đấu tranh chính trị và binh vận.

Xung phong vào các đội thanh niên xung kích phục vụ chiến trường.

Xung phong sản xuất nông nghiệp và xây dựng vùng căn cứ cách mạng.

4. Kế hoạch AB - 147 của Bộ Tổng tham mưu ngụy.