Chương II: Xây dựng lực lượng tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (1936 – 8 – 1945)

Cập nhật lúc 14h41  -  Ngày 08/06/2017

share facebookgửi emailin bài này

CHƯƠNG II

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG TIẾN TỚI TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM 1945 (1936 – 8/1945)

I. CUỘC ĐẤU TRANH ĐỂ KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO CÁCH MẠNG THỜI KỲ MẶT TRẬN DÂN CHỦ ĐÔNG DƯƠNG (1936-1939).

Đại hội lần thứ nhất của Đảng họp tháng 3-1935, đánh dấu hệ thống tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng đã được phục hồi sau những tổn thất nặng nề do chính sách khủng bố trắng của đế quốc và phong kiến.

Cùng thời gian này, Mặt trận nhân dân Pháp được thành lập. Sau đó trong cuộc bầu cử Quốc hội Pháp tháng 5-1936, Mặt trận nhân dân giành được đa số phiếu và tháng 6 năm 1936, Chính phủ phái tả lên cầm quyền ở Pháp. Trước sức đấu tranh của quần chúng đoàn kết trong Mặt trận nhân dân, một số yêu sách về xã hội, kinh tế trong cương lĩnh của Mặt trận đã được thực hiện. Tháng 7-1936, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp và đề ra nhiệm vụ trước mắt cho phong trào cách mạng nước ta là đấu tranh chống phát xít và chiến tranh, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Kẻ thù chủ yếu trước mắt của nhân dân Đông Dương là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (sau đổi là Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương gọi tắt là Mặt trận dân chủ Đông Dương), bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị, xã hội, tôn giáo... Về hình thức đấu tranh, Hội nghị chủ trương cần triệt để sử dụng hình thức công khai, hợp pháp nhằm tập hợp đông đảo quần chúng, giáo dục và đưa họ vào đấu tranh.

Để phù hợp với tinh hình, tên gọi của các tổ chức quần chúng cũng thay đổi. Tên gọi Công hội, Ái hữu thay cho Công hội đỏ; Nông hội thay cho Nông hội đỏ; Thanh niên dân chủ thay cho Thanh niên cộng sản đoàn; Hội cứu tế bình dân thay cho Hội cứu tế đỏ...

Trước sức đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta, của Đảng cộng sản và nhân dân tiến bộ Pháp, Chính phủ mặt trận nhân dân Pháp phải thi hành “ân xá” tù chính trị ở Đông Dương.

Từ cuối năm 1936, phần lớn cán bộ, đảng viên và quần chúng cơ sở của tỉnh bị địch bắt đang giam giữ tại các nhà tù đã được trả tự do, riêng đồng chí Nguyễn Văn Mẫn địch đánh giá “là một tuyên truyền viên đích thực và cuồng nhiệt”, “thuộc loại nguy hiểm” không được trả lại tự do, vẫn bị giữ lại ở Côn Đảo.

Các đồng chí từ ngục tù đế quốc trở về đã tiếp thêm sức mạnh cho phong trào cách mạng của tỉnh.

Từ cuối năm 1936, Phủ Lạng Thương đã trở thành điểm hẹn của các đồng chí cán bộ cách mạng trong và ngoài tỉnh.

Ở Phủ Lạng Thương, các đồng chí đã mượn hiệu ảnh Vĩnh Thịnh của ông Nguyễn Trung Tẩy - một trí thức có cảm tình với cách mạng, ở phố Tân Ninh 1), làm địa điểm liên lạc của phong trào dân chủ tỉnh Bắc Giang, làm nơi phân phát sách báo, tài liệu của Đảng và Mặt trận Dân chủ cho các địa phương trong tỉnh. Một số cán bộ, đảng viên trong và ngoài tỉnh sau khi thoát khỏi nhà tù đế quốc hoặc bị đứt liên lạc, thông qua cơ sở này đã chắp mối được với Đảng và tiếp tục hoạt động. Một số đồng chí cán bộ Trung ương, Xứ ủy như các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Lê Hoàng... khi về Bắc Giang hoạt động cũng thường xuyên qua lại cơ sở này. Để hỗ trợ cho phong trào cách mạng Bắc Giang, Xứ ủy đã tăng cường cho Bắc Giang các đồng chí Vương Văn Trà, Hồ Công Lạng... Ngoài ra, đồng chí Hoàng Quốc Việt còn điều đồng chí Nguyễn Văn Lung, một cán bộ cách mạng, một thợ ảnh từ tờ báo Tin tức của Đảng ở Hà Nội lên làm ở hiệu ảnh Vĩnh Thịnh để che mắt địch.

Ngoài hiệu ảnh Vĩnh Thịnh, ở Phủ Lạng Thương còn có một số cơ sở liên lạc nữa là hiệu thịt bò “Bô vô” của Phạm Quang Sáu, một cựu chính trị phạm tham gia tổ chức Việt Nam quốc dân đảng. Khi ở Côn Đảo, Phạm Quang Sáu bị giam chung với tù cộng sản, được các đồng chí của ta tuyên truyền, giác ngộ nên khi ra tù về Bắc Giang mở cửa hiệu bán thịt bò, nhiều đồng chí cán bộ có qua lại chỗ Phạm Quang Sáu, trong đó có cả đồng chí Hoàng Quốc Việt.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 7-1936, các tổ chức quần chúng công khai, hợp pháp dưới nhiều hình thức lần lượt được thành lập ở các địa phương trong tỉnh như Hội ái hữu, Hội hiếu, Hội hỷ, Hội tập võ, Hội thợ cấy, Hội thợ cày, Hội đọc sách báo v.v... Từ những tổ chức này, Đảng đã huy động được đông đảo quần chúng ra đấu tranh với những hình thức thích hợp.

Mở đầu cho phong trào đấu tranh trong thời kỳ này là cuộc đình công của 300 công nhân khuân vác gạo cho bọ tư bản Hoa kiều ở Phủ Lạng Thương nổ ra ngày 1-1-1937 đòi tăng lương. Tiếp theo, ngày 13-1-1937, 400 người cất rượu bán cho Công ty rượu Vạn Vân đình công.

Đầu năm 1937, Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp cử đại sứ lao công Giuytxtanh Gôđa sang điều tra tình hình Đông Dương. Đảng ta chủ trương nhân cơ hội này vận động quần chúng đấu tranh đòi ân xá hoàn toàn chính trị phạm, bãi bỏ thuế thân, tự do ngôn luận, tự do lập nghiệp đoàn... Các đồng chí lãnh đạo phong trào tỉnh Bắc Giang đã cử một đoàn đại biểu về Hà Nội tham gia cuộc mít tinh đón Giuytxtanh Gôđa.

Cũng trong thời kỳ này, tỉnh Bắc Giang còn tổ chức các cuộc quyên góp hộ cuộc đình công của công nhân Nhà máy sợi Nam Định, Nhà máy chai Hải Phòng... Đặc biệt, một đoàn đại biểu của anh em công nhân Hà Nội lên thăm hỏi và cứu tế cho bà con huyện Lục Ngạn sau vụ lụt năm Đinh Sửu (1937) đã thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa giai cấp công nhân Hà Nội với giai cấp nông dân Bắc Giang. Phong trào quyên góp ủng hộ các báo chí tiến bộ như Dân chúng, Tin tức, Lao động... rất sôi nổi, thu hút đông đảo quần chúng tham gia.

Trong cuộc mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế lao động (1/5) năm 1938 do Đảng ta tổ chức tại nhà Đấu Xảo (Hà Nội), Bắc Giang đã cử một đoàn đại biểu gồm hàng chục người ở các địa phương tham gia cuộc mít tinh.

Tháng 7-1938, thực dân Pháp tổ chức bầu Viện dân biểu Bắc Kỳ. Ở Bắc Giang thực dân Pháp chọn Ngô Tiến Cảnh, một tên tư sản có nhiều mối quan hệ kinh tế, chính trị khăng khít với thực dân Pháp ứng cử. Về phía ta, các đồng chí lãnh đạo phong trào dân chủ tỉnh vận động Nguyễn Trung Tẩy, một công chức có cảm tình với cách mạng, ra tranh cử. Nhiều cán bộ, đảng viên đã được cử đến các địa phương trong tỉnh tuyên truyền, cổ động cho ứng cử viên Nguyễn Trung Tẩy.

Ở Phủ Lạng Thương, ta đã thành lập ban vận động, tổ chức mít tinh, diễn thuyết kết hợp với báo chí công khai của Đảng giới thiệu chương trình hành động của Mặt trận với mục tiêu đòi tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh... Đã nhận được sự đồng tỉnh ủng hộ của nhân dân lao động và của cả tầng lớp trên.

Ở Hiệp Hòa, Lạng Giang, cán bộ ta đã về các địa phương tuyên truyền, cổ động và vận động cử tri bầu cho Nguyễn Trung Tẩy.

Ở Phủ Lạng Thương, Hiệp Hòa, Lạng Giang, cơ sở ta mạnh, mặt khác, ta lại làm tốt công tác tuyên truyền vận động, nên số phiếu của Nguyễn Trung Tẩy xấp xỉ với số phiếu của Ngô Tiến Cảnh, đặc biệt ở Hiệp Hòa, Nguyễn Trung Tẩy đã thắng áp đảo Ngô Tiến Cảnh.

Do những quy định của luật bầu cử, ứng cử của chế độ thực dân Pháp đề ra khắt khe, mặt khác, Ngô Tiến Cảnh lại bỏ tiền ra mua chuộc cử tri và được thực dân Pháp nâng đỡ bằng nhiều cách, kể cả việc dùng lính và mật thám khống chế cử tri ở những nơi bỏ phiếu, nên Ngô Tiến Cảnh đã trúng cử.

Tuy không giành thắng lợi, nhưng qua cuộc đấu tranh này, các đồng chí cán bộ lãnh đạo tỉnh ta đã khéo léo lợi dụng mọi khả năng để mở rộng ảnh hưởng cách mạng, tuyên truyền, giáo dục, tổ chức quần chúng, từng bước đưa họ vào cuộc đấu tranh,

Cũng trong thời gian này, nông dân nhiều nơi trong tỉnh đấu tranh bài trừ hủ tục, đòi giảm sưu, hoãn thuế, chống cường hào phụ thu lạm bổ, đòi chia lại ruộng công...

Song song với cuộc đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa cũng diễn ra sôi nổi ở Bắc Giang.

Từ năm 1937, hàng chục tờ báo của Đảng và các báo chí tiến bộ khác được phân phát sâu rộng xuống các địa phương trong tỉnh góp phần giải thích đường lối, chính sách của Đảng, vạch trần những thủ đoạn áp bức, bóc lột của chế độ thực dân phong kiến, phản ánh phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nông dân trong cả nước, chống lại những luận điệu và hành động chia rẽ, phá hoại của kẻ thù.

Do ảnh hưởng của báo chí cách mạng và phong trào đấu tranh của công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng đang lên cao, một số trí thức và công chức  tiến bộ đã tập hợp lại thành lập ra nhóm Hiện thực ở Phủ Lạng Thương. Nhóm này dự định sẽ ra một tờ báo lấy tên là Hiện thực nhằm phản ánh đời sống của các tầng lớp nhân dân dưới chế độ thống trị của thực dân Pháp. Công việc chuẩn bị đã xong, kể cả việc đã xin được giấy phép của công sứ Bắc Giang, nhưng do khó khăn về tài chính, báo không ra được.

Trào lưu văn hóa cách mạng theo ý thức hệ vô sản đang hình thành và có bước phát triển. Một số nhà giáo, nhà thơ chịu ảnh hưởng của phong trào dân chủ đã đứng về phía cánh mạng. Các giáo viên trường Tinh Hoa ở Phủ Lạng Thương lập ra Câu lạc bộ văn chương tập hợp được gần hai mươi nhà thơ, nhạc sĩ như Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Hoàng Cầm... tổ chức các đêm ngâm thơ, bình văn tuyên truyền cho chủ nghĩa yêu nước và tinh thần cách mạng của nhân dân ta. Nhiều nhà thơ, nhà văn ở các tỉnh khác cũng về Câu lạc bộ văn chương Phủ Lạng Thương tham gia ngâm thơ, bình văn như Nguyễn Bính, Tản Đà, Vũ Hoàng Chương,... Hoạt động được một thời gian thì công sứ Bắc Giang phát hiện thấy có ảnh hưởng của cộng sản trong tổ chức này, nên ra lệnh cấm hoạt động.

Cuối năm 1937. Đảng ta chủ trương phát động phong trào truyền bá quốc ngữ nhằm chống lại chính sách ngu dân của thực dân Pháp, giúp nhân dân lao động thoát nạn mù chữ, để có thể đọc được sách báo, nâng cao sự hiểu biết về chính trị và cách mạng. Đảng ta vận động cụ Nguyễn Văn Tố, một nhà tri thức, có tinh thần yêu nước, yêu dân, đứng ra xin lập Hội truyền bá quốc ngữ. Hưởng ứng chủ trương này, một số giáo viên và công chức Phủ Lạng Thương đứng ra lập chi nhánh Hội truyền bá quốc ngữ tỉnh Bắc Giang. Để bọn thống trị khỏi nghi ngờ và cho phép hoạt động, ta đã mời Ngô Tiến Cảnh ra làm Hội trưởng. Là một phong trào có tính chất văn hóa – xã hội, Hội truyền bá quốc ngữ đã nhanh chóng thu hút được đông đảo các tầng lớp tham gia. Nhiều người ủng hộ tiền, giấy bút mực hoặc cho mượn nhà làm địa điểm mở lớp học. Lúc đầu công sứ Bắc Giang tìm đủ lý do để trì hoãn việc cấp giấy phép cho tổ chức này họat động. Nhưng trước tình hình lúc bấy giờ, đặc biệt là trước yêu cầu của đông đảo quần chúng, bọn thống trị không thể ngăn cản được. Đầu năm 1938, chi nhánh Hội truyền bá quốc ngữ tỉnh Bắc Giang được thành lập, trụ sở đặt tại trường tiểu học Kiêm bị nữ sinh (trường con gái). Trong năm 1938, Phủ Lạng Thương mở được 9 lớp thu hút hàng trăm tiểu thương và người lao động theo học. Sang năm 1939, phong trào truyền bá quốc ngữ từ Phủ Lạng Thương mở rộng lên Chũ (Lục Ngạn), Nhã Nam (Yên Thế, nay thuộc Tân Yên). Đến năm 1940, phong trào khá mạnh, lan ra nhiều địa phương trong tỉnh. Tại Phủ Lạng Thương, công sứ Bắc Giang đồng ý cho mở lớp trong trại giam. Khi lớp học mãn khóa, ta đã mời cụ Nguyễn Văn Tố lên phát bằng cho học viên. Sự kiện này gây một tiếng vang lớn, ngoài dự kiến của bọn thống trị.

Trong thời kỳ vận động dân chủ, Đảng ta chủ trương tăng cường sức mạnh và sự lãnh đạo của Đảng. Trong thời gian từ năm 1932 đến năm 1937, tỉnh Bắc Giang chỉ có một số đảng viên hoạt động đơn lẻ, do bị mất liên lạc trong thời kỳ bị địch khủng bố của những năm 1929 - 1930 cùng một số đảng viên từ nơi khác chuyển đến. Trong hoàn cảnh đó, một số đảng viên đã bị Ngô Đình Cư, một phần tử xấu tuyên truyền, lôi kéo vào tổ chức Bạch xỉ tuyết cừu dân. Tổ chức này đã gây được một số cơ sở ở huyện Lạng Giang và hoạt động yếu ớt trong những năm 1935 – 1938. Đảng ta đánh giá tổ chức này: “... phần nhiều là những tay phiêu lưu “anh chị” mê tín, họ cũng có đôi chút tinh thần phản đế, nhưng chủ trương ăn cướp, khủng bố cá nhân chứ không có vận động và tổ chức quần chúng” 2). Được cán bộ giải thích và đặc biệt sau khi dự cuộc mít tinh kỷ niệm Quốc tế lao động 1-5-1938 do Đảng ta tổ chức ở Hà Nội về, nhiều người đã tỉnh ngộ, thấy mình bị lừa gạt, dần dần họ rời bỏ tổ chức Bạch xỉ tuyết cừu dân, trở lại hàng ngũ Đảng.

Qua một thời gian chắp mối và giao công tác để thử thách, những đảng viên bị mất liên lạc với Đảng vẫn tự động hoạt động và giữ được phẩm chất của người đảng viên cộng sản, cuối năm 1938, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã tập hợp lại để thành lập ra chi bộ Phủ Lạng Thương. Chi bộ lúc mới thành lập gồm các đồng chí Vương Văn Trà, Nguyễn Văn Giảng, Mai Thị Vũ Trang, Nguyễn Văn Lung, Ngô Văn Hiệp (tức Ngô Tuấn Tùng)... đồng chí Vương Văn Trà được cử làm bí thư chi bộ. Về sau chi bộ phát triển lên tới 12 đồng chí. Lúc này tỉnh Bắc Giang chưa có ban lãnh đạo, nên chi bộ Phủ Lạng Thương đã lãnh đạo phong trào cách mạng của cả tỉnh trong những năm 1938 – 1939.

Chỉ trong hai năm (từ năm 1937 đến giữa năm 1939), nhờ có đường lối đúng đắn của Đảng, phong trào cách mạng trong tỉnh đã dần dần khôi phục. Đảng ta đã tập hợp được một lực lượng đông đảo quần chúng, từng bước đưa họ ra đấu tranh từ thấp đến cao. Đây là một cuộc tập dượt chuẩn bị cho phong trào cách mạng của tỉnh cùng với phong trào cách mạng cả nước bước sang một giai đoạn mới.

II.THÀNH LẬP BAN CÁN SỰ ĐẢNG TỈNH BẮC GIANG

Từ cuối năm 1938, nguy cơ chiến tranh thế giới đang đến gần. Bọn phát xít Đức, Ý, Nhật đang ráo riết chuẩn bị chiến tranh và bắt đầu xâm lược một số nước.

Ở Pháp, từ khi Đalađiê cầm quyền, chính sách đối nội và đối ngoại của Chính phủ Pháp ngày càng đi sâu vào con đường phản động. Bọn phản động thuộc địa ở Đông Dương nhân cơ hội tăng cường bóc lột nhân dân, đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng. Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn.

Ngày 10-3-1939, Trung ương Đảng ra thông báo khẩn cấp kêu gọi toàn Đảng lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống khủng bố, đòi tự do dân chủ, mở rộng chế độ tuyển cử, toàn xá chính trị phạm, thả hết nhân viên tòa soạn báo Dân chúng, cải thiện đời sống...

Hưởng ứng Thông cáo khẩn cấp của Trung ương, cuối tháng 4 năm 1939, tại Cầu Trình, xã Bảo Đài, Phủ Lục Ngạn (nay là xã Bảo Đài, huyện Lục Nam), chi bộ Phủ Lạng Thương tổ chức mít tinh có gần 400 người tham dự. Tại cuộc mít tinh, cán bộ ta diễn thuyết, lên án bọn phản động thuộc địa, hô hào quần chúng đấu tranh đòi thả hết nhân viên tòa soạn báo Dân chúng 3) giảm thuế, tự do lập hội, tăng tiền công cày, bừa...

Cũng vào thời gian này, truyền đơn, áp phích được rải và dán ở chợ Buộm, chợ Đồn, làng Thanh Rã (Phủ Lục Ngạn, nay thuộc huyện Lục Nam), Phủ Lạng Thương, làng Hoàng Liên, ấp Ba huyện (Hiệp Hòa)... đòi giảm thuế, chống bọn cường hào áp bức, bóc lột...

Trước sự khủng bố điên cuồng của địch, Đảng ta đã chỉ thị cho các cấp ủy và cán bộ, đảng viên hoạt động công khai, hợp pháp phải mau chóng rút vào bí mật, phải duy trì cơ sở ở thành thị, đồng thời chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, biến nông thôn thành căn cứ địa rộng lớn của cách mạng.

Thi hành chủ trương của Trung ương, tháng 6-1939, Xứ ủy Bắc Kỳ cử đồng chí Lê Hoàng về phụ trách phong trào cách mạng hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, với nhiệm vụ:

- Củng cố cơ sở Đảng và cơ sở quần chúng, chuẩn bị rút vào bí mật.

- Xây dựng một hệ thống cơ sở cách mạng từ Bắc Ninh lên Bắc Giang làm đường dây liên lạc của Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ lên biên giới phía bắc.

Ngoài những cơ sở đã có Phủ Lạng Thương, đồng chí Lê Hoàng đã xây dựng được một số cơ sở ở Hoàng Vân, ấp Ba huyện (Hiệp Hòa), Hương Gián (Yên Dũng), chắp nối với cơ sở Đại Từ (Lục Ngạn nay thuộc Lục Nam)... Đồng chí Lê Hoàng cũng phổ biến chủ trương của Trung ương cho các cơ sở đảng và các tổ chức quần chúng chuẩn bị rút vào hoạt động bí mật. Nhờ thi hành nghiêm chỉnh chủ trương của Trung ương nên khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương trở mặt khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng, cơ sở đảng và cơ sở cách mạng của tỉnh vẫn đảm bảo an toàn và phát triển.

Ngày 1-9-1939, Phát xít Đức tấn công Ba Lan, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ngày 3-9-1939, Pháp – Anh tuyên chiến với phát xít Đức.

Sau khi nhảy vào cuộc chiến tranh, Chính phủ phản động Pháp thi hành chính sách phát xít, giải tán Đảng cộng sản và các tổ chức dân chủ, tiến bộ, thẳng tay bóc lột nhân dân lao động Pháp và các nước thuộc địa.

Ở Đông Dương, thực dân Pháp ra lệnh lùng bắt các đảng viên Đảng cộng sản, giải tán các tổ chức quần chúng công khai, đóng cửa các báo chí tiến bộ, thủ tiêu một số quyền tự do dân chủ tối thiểu mà nhân dân ta đã giành được thời kỳ Mặt trận Dân chủ. Đi đôi với khủng bố, đàn áp, hàng vạn thanh niên đã bị chúng bắt đi lính sang Pháp làm bia đỡ đạn và đi xây dựng các công trình quân sự. Chúng thi hành chính sách kinh tế thời chiến nhằm vơ vét sức người, sức của ở Đông Dương phục vụ cho chiến tranh đế quốc.

Tất cả mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội Việt Nam, trừ bọn tay sai đế quốc, bọn địa chủ và tư sản mại bản, đều bị ảnh hưởng bởi chính sách phát xít và chiến tranh của đế quốc Pháp.

Trước sự chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước, từ ngày 6-8/11/1939, Trung ương đã họp Hội nghị lần thứ sáu để phân tích tình hình, đề ra nhiệm vụ cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Căn cứ vào sự phân tích tình hình, Hội nghị xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Để tập trung lực lượng đánh đổ đế quốc, Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản lại quyền lợi dân tộc, chống tô cao, chống thuế nặng. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ, nhằm đoàn kết các dân tộc Đông Dương, chĩa mũi nhọn của cách mạng vào chủ nghĩa đế quốc..

Sự chuyển hướng quan trọng về đường lối và phương pháp cách mạng này đã có tác động mạnh đến cách mạng Việt Nam nói chung và Bắc Giang nói riêng.

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, các tổ chức cách mạng ở tỉnh ta đã nhanh chóng chuyển sang hoạt động với hình thức, nội dung phù hợp như Nông dân phản đế, Thanh niên phản đế, Phụ nữ phản đế...

Cũng vào đầu năm 1940, đồng chí Hồ Công Lạng đã kết nạp Trịnh Đình Lan  (Lan Cường) vào Đảng. Vì cả khu vực Cương Sơn và phố Lục Nam chỉ có một đồng chí Lan Cường là đảng viên nên đồng chí Lan Cường trực tiếp liên hệ nhận nhiệm vụ với đồng chí Hồ Công Lạng. Khi đồng chí Hồ Công Lạng chuyển đi nơi khác, đồng chí Phạm Văn Đông về thay, đồng chí Lan Cường nhận nhiệm vụ do đồng chí Đông giao.

Sau một thời gian hoạt động ở tổng Hoàng Vân (Hiệp Hòa), ngày 16-12-1940, đồng chí Lê Hoàng đã kết nạp 3 quần chúng là Ngô Văn Triệu, Nguyễn Văn Cường (Ấp), Ngô Duy Thạnh (Phương) vào Đảng và tổ chức ra chi bộ Hoàng Vân do đồng chí Lê Hoàng làm bí thư.

Đến đầu năm 1940, phong trào cách mạng Bắc Giang đã hình thành trên ba khu vực.

- Khu vực Hiệp Hòa và một phần Phổ Yên, Phú Bình (Thái Nguyên) gồm các làng Hoàng Liên, Vân Xuyên, Lạc Yên, Thanh Vân, Đồng Áng. Cả Sơn Hạ, ấp Ba huyện, Thù Lâm, với nòng cốt là chi bộ Hoàng Vân.

- Khu vực Phủ Lạng Thương và các làng Hương Gián, An Tràng, Đào Tràng, ấp Tam Sơn (Lạng Giang) nòng cốt là chi bộ Phủ Lạng Thương và một số đảng viên ấp Tam Sơn.

- Khu vực phố Lục Nam và các tầng lớp Đại Từ, Thép Thượng, Đọ. Ở khu vực này chưa có chi bộ, mới có một đảng viên.

Như vậy, đền đầu năm 1940, phong trào cách mạng Bắc Giang đã phát triển cả ở thành thị và nông thôn, cả ở miền núi và đồng bằng.

Để thống nhất chỉ đạo, quy tụ các cơ sở đảng, cơ sở quần chúng về một mối, tháng 8 năm 1940, Xứ ủy Bắc Kỳ cử đồng chí Trần Quốc Hoàn, Xứ ủy viên và một số đồng chí cán bộ về tăng cường cho phong trào cách mạng Bắc Giang. Ban cán sự tỉnh Bắc Giang được thành lập do đồng chí Trần Quốc Hoàn làm Trưởng ban.

Ban cán sự tỉnh được thành lập là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Đảng bộ Bắc Giang, đánh dấu bước trưởng thành về công tác xây dựng đảng, về phong trào cách mạng. Từ đây, phong trào cách mạng trong tỉnh đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự.

III. XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CHỜ ĐÓN THỜI CƠ (9/1940 – 3/1945)

Từ giữa năm 1940, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai càng trở nên ác liệt và lan rộng. Tháng 6-1940, phát xít Đức tấn công nước Pháp, Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức. Ngày 22-9-1940, phát xít Nhật từ Trung Quốc tiến đánh Lạng Sơn, quân Pháp thua trận bỏ chạy. Ngày 27-9-1940, nhân dân châu Bắc Sơn (Lạng Sơn) dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đã nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Sau khi đã chiếm được Đông Dương, phát xít Nhật cấu kết với thực dân Pháp đem quân đàn áp dã ma cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn. Lực lượng nghĩa quân phải rút lên rừng tiến hành chiến tranh du kích.

Từ ngày 6 đến ngày 9- 11- 1940, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ VII quyết định duy trì và phát triển lực lượng vũ trang Bắc Sơn và tạm dừng cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Nhưng do điều kiện thông tin liên lạc không kịp, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn nổ ra vào ngày 23 - 11- 1940.

Ngày 21- 11- 1940, Ban thường vụ Trung ương Đảng Chỉ thị cho các Đảng bộ tổ chức hoạt động phối hợp với quân và dân Bắc Sơn.

Tháng 12 năm 1940, Trung ương Đảng lại ra Thông cáo khẩn cấp phân tích tình hình và giao nhiệm vụ cho các Đảng bộ địa phương: “Trong lúc này một phút bỏ qua là một phút lợi cho quân thù tập trung lực lượng phá cách mạng. Vậy các đồng chí phải cấp tốc thi hành những phương pháp hưởng ứng Bắc Sơn, Nam Kỳ có hiệu quả...”.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, từ tháng 12-1940 đến tháng 3-1941, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang mở một đợt tuyên truyền vận động nhân dân trong tỉnh hưởng ứng và ủng hộ Bắc Sơn và Nam Kỳ. Những cuộc dán áp phích, treo cở Đảng, rải truyền đơn, mít tinh, được tổ chức liên tục ở nhiều nơi trong tỉnh như Phủ Lạng Thương, Phố Giỏ, Phố Kép, Đìa Đông, Xuân Phú, Tân An, Hương Gián (Lạng Giang), Hoàng Vân (Hiệp Hòa), Cương Sơn (Lục Ngạn)... Nội dung truyền đơn, áp phích và mít tinh ca ngợi tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân và dân Bắc Sơn, Nam Kỳ, đồng thời vạch trần bản chất dã man, tàn bạo của đế quốc Pháp và phát xít Nhật, kêu gọi nhân dân ủng hộ khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ.

Nhân dân các huyện Hiệp Hòa, Yên Thế, Phủ Lạng Thương... đã quyên góp quần áo, lương thực, thuốc chữa bệnh... ủng hộ du kích Bắc Sơn. Tháng 1 năm 1941, Đảng bộ Bắc Giang còn ra tờ báo Phục quốc để phổ biến chủ trương đường lối cách mạng của Đảng, kêu gọi quần chúng chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa ủng hộ 2 cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ.

Trước tình hình trên đây, tháng 10-1940, Ban cán sự tỉnh họp Hội nghị và đề ra những công tác cấp bách.

1- Nhanh chóng phát triển mạng lưới cơ sở bí mật và các tổ chức quần chúng cách mạng. Tuyên truyền vạch trần bộ mặt giả dối của phát xít Nhật.

2- Tích cực xây dựng lực lượng vũ trang, sắm sửa vũ khí, vận động binh lính địch trở về với cách mạng, tổ chức đánh úp đồn địch để gây thanh thế và hưởng ứng khởi nghĩa Bắc Sơn.

Những chủ trương trên của Hội nghị đã nhanh chóng được triển khai. Vùng Yên Thế được chọn để nghiên cứu chuẩn bị lập chiến khu. Một phong trào quyên góp ủng hộ du kích Bắc Sơn đã được quần chúng nhân dân nhiều địa phương nhiệt liệt hưởng ứng.

Đến cuối năm 1940, phong trào cách mạng Bắc Giang khá mạnh, cơ sở đảng, các tổ chức phản đế được củng cố và phát triển. Cuối năm 1940, chi bộ đảng làng Đại Từ (Lục Ngạn, nay thuộc Lục Nam) thành lập gồm 3 đảng viên. Đầu năm 1941, chi bộ đảng làng Hương Gián (Lạng Giang, nay thuộc Yên Dũng) thành lập, gồm 3 đảng viên. Như vậy, đến đầu năm 1941, Đảng bộ Bắc Giang có 4 chi bộ (Phủ Lạng Thương, Hoàng Vân, Đại Từ, Hương Gián) và một số đảng viên lẻ, với tổng số trên 20 đảng viên.

Sau hội nghị Trung ương lần thứ bảy (11/1940), bộ phận chỉ đạo quân sự của Xứ ủy Bắc Kỳ chuyển từ Liễu Khê (Thuận Thành, Bắc Ninh) lên Hoàng Vân (Hiệp Hòa), vì ở đây cơ sở quần chúng vững, địa bàn cơ động, thuận tiện cho việc chỉ đạo phong trào Bắc Sơn và các tỉnh khác. Tháng 11-1940, Trung ương mở hai lớp huấn luyện quân sự tại soi Thanh Vân và ấp Đồng Hang (Hiệp Hòa) do đồng chí Lương Văn Chi (tức Huy còm) Ủy viên Thường vụ Xứ ủy phụ trách, nhằm đào tạo và cung cấp cán bộ quân sự cho các đại phương. Kết thúc lớp học, một số học viên được cử đi huấn luyện quân sự cho tự vệ tổng Hoàng Vân và một số nơi khác của tỉnh.

Công tác vận động binh lính địch đã được ban cán sự coi trọng và bước đầu đã đạt kết quả. Ta đã gây được nhân mối trong đồn Trị Cụ (Tân Yên), đồn Hà Vị (Lạng Giang, nay thuộc thị xã Bắc Giang). Cơ sở của ta trong đồn Hà Vị sẵn sàng làm nội ứng khi ta đánh đồn. Thấy thời cơ thuận lợi, Ban cán sự tỉnh quyết định đánh úp trại lính khố xanh Hà Vị. Để thực hiện chủ trương này, một trung đội tự vệ được thành lập, đồng thời Ban cán sự tỉnh điều thêm một đơn vị tự vệ của tổng Hoàng Vân (Hiệp Hòa) về phối hợp chiến đấu. Ấp Tam Sơn (Lạng Giang) được chọn làm địa điểm huấn luyện tự vệ, chỉ đạo cuộc tấn công.

Trại Hà Vị nằm ở phía Bắc Phủ Lạng Thương, giữ một vị trí quan trọng trong việc bảo vệ các cơ quan đầu não của địch. Ban cán sự tỉnh nhận định: nếu lực lượng cách mạng chiếm được Hà Vị sẽ gây thanh thế cho phong trào, cổ vũ tinh thần cách mạng của quần chúng và phân tán lực lượng địch đang tập trung khủng bố, đàn áp ở Bắc Sơn, đồng thời ngăn chặn bọn phục quốc 4) Trần Trung Lập, tay sai của phát xít Nhật đang từ Lạng Sơn tiến xuống Bắc Giang. Do việc huấn luyện quân sự không đảm bảo bí mật, ngày 20/1/1941, địch đã đưa quân về khủng bố ấp Tam Sơn, bắt 30 người gồm đảng viên và quần chúng. Kế hoạch đánh úp đồn Hà Vị không thực hiện được.

Tháng 12-1940, trên đường đi công tác, đồng chí Trần Quốc Hoàn bị địch bắt tại một địa điểm giữa hai huyện Việt Yên và Hiệp Hòa. Sau đó Xứ ủy Bắc Kỳ điều đồng chí Trần Quốc Tuân về làm trưởng ban cán sự tỉnh Bắc Giang.

Ở tỉnh lỵ Phủ Lạng Thương, địch bắt 2 đảng viên, phá vỡ nhiều cơ sở.

Ở Đại Từ, địch bắt 3 đảng viên và một số quần chúng. Sau một thời gian giam giữ không có đủ chứng cớ buộc tội, chúng phải thả tự do cho tất cả những người bị bắt.

Ở Hương Gián, cơ sở đảng và cơ sở quần chúng cũng bị địch phá vỡ.

Ở Hoàng Vân, một số đảng viên bị bắt, một số cơ sở bị địch khủng bố.

Tháng 5-1941, Hội nghị Trung ương lần thứ tám họp ở Pắc Bó (Cao Bằng) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị đã hoàn chỉnh đường lối chuyển hướng chỉ đạo dưới chiến lược của cách mạng Việt Nam do các Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (11-1939), lần thứ bảy (11-1940) đề ra. Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng nước ta lúc này là cứu nước, giải phóng dân tộc. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, thay cho Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. Nghị quyết của Hội nghị đã nhanh chóng phổ biến tới các địa phương trong toàn quốc.

Tháng 6-1941, đồng chí Trần Quốc Tuân, Trưởng ban cán sự tỉnh và một số cán bộ bị bắt ở cầu Phủ Lạng Thương, đồng chí Nguyễn Văn Lục (tức Vạn) được Xứ ủy chỉ định phụ trách Ban cán sự tỉnh.

Đợt khủng bố lần này của địch chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, nhưng đã làm cho phong trào cách mạng của tỉnh bị tổn thất nặng: một số đảng viên và quần chúng bị địch bắt, nhiều cơ sở cách mạng bị địch phá vỡ. Phong trào cách mạng của tỉnh tạm thời lắng xuống.

Trong thời kỳ khó khăn này, nhiều đảng viên, quần chúng cách mạng bị địch bắt vẫn giữ vững khí tiết, không hề khai báo với địch. Vì vậy, ở nhiều địa phương bị địch lùng sục gắt gao, phong trào vẫn được duy trì, quần chúng vẫn tin tưởng vào Đảng. Do làm tốt công tác giáo dục giữ bí mật và chống khủng bố, nên ta đã hạn chế được một phần thiệt hại trong các cuộc khủng bố của địch, tạo điều kiện để phong trào nhanh chóng hồi phục.

Tháng 12-1941, đồng chí Nguyễn Văn Lục được Xứ ủy điều động đi nhận công tác, đồng chí Ngô Thế Sơn, Xứ ủy viên, được giao nhiệm vụ giúp đỡ Ban cán sự tỉnh Bắc Giang. Tháng 1-1942, đồng chí Ngô Thế Sơn được Xứ ủy chỉ định làm Trưởng ban cán sự tỉnh.

Đảng bộ Bắc Giang được Xứ ủy giao nhiệm vụ phải nhanh chóng củng cố vùng Hiệp Hòa thành một khu cơ sở liên hoàn, vững chắc, có thể đảm bảo an toàn cho các cơ quan, các lớp huấn luyện của Xứ ủy và Trung ương, đồng thời giữ vững đường dây liên lạc với căn cứ Võ Nhai (Thái Nguyên).

Thực hiện những chủ trương của Đảng và nhiệm vụ Xứ ủy giao. Ban cán sự tỉnh đã đề ra nhiệm vụ cho Đảng bộ lúc này là:

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền kết hợp với việc ổn định tinh thần quần chúng.

- Phục hồi và củng cố các cơ sở đảng và cơ sở quần chúng, trước hết là cơ sở vùng Hiệp Hòa, Phú Bình, Phổ Yên, đồng thời phát triển cơ sở mới một cách thận trọng, tránh bộc lộ lực lương. Chuyển các tổ chức phản đế sang cứu quốc, lập Mặt trận Việt Minh.

- Củng cố và duy trì đường dây giao thông liên lạc của Xứ ủy từ hiệp Hòa đi căn cứ Võ Nhai (Thái Nguyên).

- Chống địch khủng bố. Chọn một địa điểm tương đối an toàn ở vùng thượng Yên Thế làm nơi tạm trú cho cán bộ khi bị địch khủng bố.

Từ đầu năm 1941, Ban cán sự tỉnh tập trung củng cố cơ sở Đảng và cơ sở quần chúng ở khu vực thượng huyện Hiệp Hòa và các địa phương tiếp giáp thuộc các huyện Phổ Yên và Phú Bình. Thông qua việc củng cố và khôi phục lại cơ sở, lần lượt các tổ chức cứu quốc được thành lập thay thế cho các tổ chức phản đế. Mặt trận Việt Minh cũng được thành lập ở nhiều làng.

Theo chủ trương của Ban cán sự tỉnh, để tránh địch khủng bố, ta phải hết sức giữ bí mật, không phô trương lực lượng, không tổ chức những cuộc mít tinh rầm rộ, hội họp đông người, mà chủ yếu đi sâu tuyên truyền đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc của Đảng, giới thiệu chương trình, điều lệ Mặt trận Việt Minh, vận động quần chúng gia nhập các đoàn thể Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc...

Sau khi các cơ sở ở miền thượng huyện Hiệp Hòa, một phần huyện Phổ Yên và Phú Bình được củng cố, Ban cán sự tỉnh quyết định mở rộng cơ sở sang Yên Thế. Từ năm 1941, miền thượng Yên Thế có các nhóm du kích Bắc Sơn hoạt động tìm bắt liên lạc với Xứ ủy Bắc Kỳ. Một số người ở Đồng Điều (Yên Thế) đã được các chiến sĩ du kích Bắc Sơn tuyên truyền. Thông qua những người này, đồng chí Ngô Thế Sơn bắt được liên lạc với du kích Bắc Sơn vào giữa năm 1942.

Sau khi bắt được liên lạc với du kích Bắc Sơn, đồng chí Ngô Thế Sơn xúc tiến ngay việc xây dựng cơ sở cách mạng ở Đồng Điều làm đầu mối liên lạc với du kích Bắc Sơn. Các cơ sở ở Hương Gián, Phủ Lạng Thương, ấp Tam Sơn, Dĩnh Kế (Lạng Giang) dần dần được củng cố. Các tổ chức cứu quốc, Mặt trận Việt Minh đã được thành lập. Ngoài ra, còn gây thêm cơ sở ở ấp Ba huyện (Hiệp Hòa), nơi hầu hết là tá điền.

Đặc biệt đã bắt mối và gây được cơ sở trong tù nhân ở nhà tù Trị Cụ. Tháng 1- 1943, cơ sở được phát triển xuống phía Nam huyện Hiệp Hòa. Đây là một địa bàn cơ động, nằm trên một tuyến đường giao thông liên lạc của Trung ương từ an toàn khu lên Việt Bắc.

Song song với công tác củng cố và mở rộng cơ sở quần chúng, công tác củng cố cơ sở đảng và phát triển đảng cũng được Ban cán sự đặc biệt chú ý. Đầu năm 1942, chi bộ Tiên Thù (Phổ Yên, Thái Nguyên) được thành lập gồm 3 đảng viên. Tháng 5-1942, chi bộ nhà tù Trị Cụ được thành lập gồm 3 đảng viên. Các cơ sở đảng ở ấp Tam Sơn, Hương Gián, Hoàng Vân được củng cố.

Để có cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào cách mạng, Ban cán sự tỉnh đã cử một số đảng viên học các lớp huấn luyện chính trị, quân sự do Trung ương, Xứ ủy mở tại Bắc Giang, đồng thời xin Xứ ủy tăng cường cán bộ cho tỉnh. Tuy vậy, do phong trào cách mạng phát triển mạnh, số cán bộ trên vẫn chưa đáp ứng yêu cầu.

Giữa lúc phong trào cách mạng tỉnh ta vừa hồi phục và đang trên đà phát triển thì lại bị địch khủng bố. Đợt khủng bố của địch lần này tập trung chủ yếu vào khu vực Hiệp Hòa.

Tháng 11-1942, Trung ương mở lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ các tỉnh ở xóm Đá (làng Vân Xuyên, tổng Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa) do đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng phụ trách. Gần đến ngày kết thúc, lớp huấn luyện bị lộ do sự đầu hàng, phản bội của một cán bộ. Đêm 21- 11- 1942, địch đã bao vây bắt được 6 đồng chí học viên. Mặc dù bị tra tấn rất dã man, các đồng chí bị bắt và gia đình ông Nguyễn Văn Chế (chủ nhà) không một ai chịu cung khai nửa lời.

Đồng chí Trường Chinh và một số đồng chí học viên khác chạy thoát ra ngoài. Đến bờ sông Cầu, đồng chí Trường Chinh được cụ Hương Lịnh, một cư dân nghèo đang đánh cá trên sông cùng với cô con gái nhỏ đã giấu đồng chí trong thuyền đưa qua sông Tiên Thù (Phổ Yên) an toàn. Liền sau đó, địch phá cơ quan in ở Thanh Vân. Mấy ngày sau, địch vây bắt lớp huấn luyện quân sự của ta ở Tổ Cú (Yên Thế), nhưng nhờ cơ sở ở Hoàng Liên (Hiệp Hòa) báo trước nên ta đã di chuyển đi nơi khác.

Đợt khủng bố lần này của địch chỉ diễn ra trong thời gian ngắn và trong một phạm vi hẹp, nhờ tinh thần anh dũng của các đồng chí cán bộ, đảng viên trước kẻ thù và được sự che chở, bảo vệ của nhân dân, nên tác hại không lớn.

Trong các năm 1941, 1942, mặc dù phong trào cách mạng liên tiếp bị địch khủng bố, cơ sở đảng, cơ sở cách mạng bị địch phá vỡ, nhưng dưới sự lãnh đạo của Ban cán sự tỉnh và các chi bộ đảng, một số cuộc đấu tranh về kinh tế và chính trị đã nổ ra: Cuộc đấu tranh của tù nhân ở đề lao Bắc Giang dưới sự lãnh đạo của đồng chí Trần Quốc Hoàn, Trần Quý Kiên đòi cải thiện chế độ lao tù đã giành được thắng lợi, nhân dân làng Đồng Áng (Hiệp Hòa) đấu tranh đòi lại bãi sa bồi; nhân dân Dĩnh Kế đấu tranh chống Nhật bắt nhổ lúa trồng đay, thầu dầu... Điển hình là cuộc đấu tranh của tá điền đồn điền Vát và Cọ (Hiệp Hòa) đòi giảm tô và không nộp tô bằng thóc.

Đồn điền Vát có diện tích 1.800 ha của Tactaranh. Tháng 1-1942, Hàn Huyên là quản lý đồn điền Vát, tăng mức tô ruộng và tô trâu. Ban cán sự tỉnh Bắc Giang phát động tá điền và các trưởng ấp đấu tranh chống lại. Năm đại biểu tá điền được cử đến trao cho Táctaranh một lá đơn có chữ ký của 50 trưởng ấp (trong tổng số 52 trưởng ấp) thuộc đồn điền Vát đòi giữ nguyên mức tô ruộng và tô trâu. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Ban cán sự tỉnh, tất cả tá điền đã đoàn kết, kiên trì đấu tranh, cuối cùng tên chủ đồn điền phải chấp nhận yêu sách của tá điền.

Tiếp theo cuộc đấu tranh của tá điền đồn điền Vát, tháng 6- 1942, tá điền đồn điền Cọ đấu tranh chống cướp lúa.

Từ lâu, tá điền vẫn nộp tô bằng tiền. Từ năm 1942, giá thóc gạo lên cao, tên quản lý đồn điền Lê Thuận Quế bắt tá điền phải nộp tô bằng thóc. Đây là một thủ đoạn tăng địa tô.

Bất bình trước âm mưu thâm độc của tên quản lý đồn điền, dưới sự lãnh đạo của các đồng chí cán bộ phụ trách phong trào ở đây, tá điền kiên quyết không nộp tô bằng thóc.

Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của tá điền, tên quản lý đồn điền phải dẫn lính đồn Trị Cụ về bắt một số trưởng ấp và cho bọn chân tay xông vào các ấp cướp thóc của tá điền. Bọn này bị tá điền chống lại quyết liệt, tên Lê Thuận Quế phải cầu cứu binh lính đồn Bố Hạ (Yên Thế). Tên đồn trưởng đồn Bố Hạ (người Pháp) dẫn lính và phu đến ấp Trầm Dương định gặt lúa của tá điền. Tá điền ấp Trầm Dương và các ấp lân cận lập tức nổi trống, mõ... đổ ra đồng đuổi đánh bọn lính. Hoảng sợ trước sức mạnh của quần chúng, bọn lính phải bỏ chạy thục mạng. Tên đồn trưởng bị bắt. Cuộc đấu tranh của tá điền đồn điền Cọ thắng lợi.

Sau khi bắt được liên lạc với Xứ ủy, đầu năm 1943, một nhóm Cứu quốc quân tiến xuống Mỏ Sắt, Đồng Vương, Canh Nậu (thượng Yên Thế) gây cơ sở trong đồng bào Nùng, Dao để mở rộng địa bàn hoạt động và làm đường dây liên lạc với Xứ ủy và Trung ương. Một nhóm Cứu quốc quân khác tiến xuống gây cơ sở ở Hữu Lũng vào các xã Bảo Lộng, Tân Lập, Thiện Kỵ, Vân Nham, Nhật Tiến...

Giữa lúc phong trào cách mạng trong tỉnh đang lên thì lại xảy ra một đợt khủng bố.

Tháng 3- 1943, từ một cơ sở giao thông của Xứ ủy ở Phú Thọ bị phá vỡ, địch lần theo đường dây phá tiếp đến cơ sở ở Bắc Giang. Đợt khủng bồ lần này của địch tập trung chủ yếu vào khu vực Hiệp Hòa, Phổ Yên, Phú Bình, là nơi có các cơ quan của Trung ương, Xứ ủy.

Đợt khủng bố lần này của địch thời gian kéo dài hơn, với những âm mưu xảo quyệt hơn so với đợt khủng bố trước. Có nơi chúng cho mật thám nằm lỳ ngay ở địa phương, cho lính sục sạo suốt ngày, nhưng các cơ quan của Trung ương, Xứ ủy không bị lộ, cơ sở không bị phá vỡ, cán bộ vẫn đi lại, vẫn bám sát địa phương, các đoàn thể cứu quốc (thanh niên, phụ nữ, nông dân) vẫn tiếp tục phát triển.

Đề phòng đợt khủng bố lần này của địch có thể làm cho chi bộ nhà tù Trị Cụ bị lộ, Ban cán sự tỉnh quyết định cho các đảng viên vượt ngục ra ngoài hoạt động. Chi bộ nhà tù Trị Cụ không còn.

Như vậy, trong hơn hai năm (từ cuối năm 1940 đến tháng 3- 1943), phong trào cách mạng trong tỉnh bị địch khủng bố 3 lần. Những đợt khủng bố của địch có gây cho ta tổn thất nhất định, nhưng qua đó, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đã được tôi luyện, dầy dặn thêm, tạo điều kiện để đưa phong trào cách mạng của tỉnh tiếp tục phát triển.

Trong lúc phong trào cách mạng Bắc Giang bị địch khủng bố, gặp khó khăn, thì tình hình quốc tế và trong nước đang chuyển biến theo chiều hướng thuận lợi cho cách mạng.

Căn cứ vào tình hình thế giới và tình hình trong nước, giữa năm 1943, ban cán sự tỉnh đề ra chủ trương:

- Giữ vững đường dây liên lạc của Xứ ủy với du kích Bắc Sơn qua Bắc Giang.

- Củng cố và phát triển cơ sở ở những địa bàn quan trọng như phía nam huyện Hiệp Hòa, dọc các đường giao thông như đường 13 B (nay là quốc lộ 31) từ Phủ Lạng Thương đi Lục Nam, Chũ; đường 1A từ Phủ Lạng Thương lên Lạng Giang.

- Kết hợp việc củng cố và mở rộng cơ sở với công tác tuyên truyền vạch trần những thủ đoạn áp bức, bóc lột của địch như mua thóc tạ, nhổ lúa trồng đay, trồng thầu dầu v.v...

- Mở các lớp huấn luyện 10 điểm Chương trình Việt Minh cho quần chúng, các lớp huấn luyện quân sự kết hợp với chính trị cho cán bộ, đảng viên.

Tháng 9- 1943, Ban cán sự tỉnh họp điều chỉnh cán bộ phụ trách của các khu vực Yên Thế, Lạng Giang, Yên Dũng, thị xã Phủ Lạng Thương và vùng ấp Ba huyện. Trước tình hình phong trào cách mạng cả nước cũng như trong tỉnh đang lên cao, Hội nghị nhấn mạnh: Phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền vận động quần chúng tham gia vào các đoàn thể cứu quốc, từng bước đưa quần chúng ra đấu tranh từ thấp đến cao, từ những mục tiêu kinh tế tiến lên các mục tiêu chính trị. Chủ trương của Ban cán sự tỉnh đã được cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ quán triệt sâu sắc. Ngoài các hình thức rải truyền đơn, dàn áp phích, căng khẩu hiệu... các hình thức đấu tranh đã phong phú hơn, số lượng quần chúng tham gia đông hơn.

Ngày 27-  9- 1943, tại đình làng Thanh Vân (Hiệp Hòa), Ban cán sự tỉnh tổ chức mít tinh kỷ niệm 3 năm ngày nổ ra cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27- 9- 1940 – 27- 9- 1943), có trên 100 người tham dự. Tại cuộc mít tinh, cán bộ Việt Minh lên diễn thuyết, nêu bật tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân và dân Bắc Sơn trong 3 năm qua, hô hào quần chúng gia nhập Mặt trận Việt Minh, sắm sửa vũ khí, luyện tập quân sự, chuẩn bị lực lượng, đón thời cơ vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Tháng 10 năm 1943, tại Đồng Điều (Yên Thế, nay thuộc Tân Yên), một cuộc mít tinh kỷ niệm Bắc Sơn khởi nghĩa được tổ chức, có trên 50 người dự.

Nhân dịp kỷ niệm ngày chống chiến tranh đế quốc (1– 8), đêm 31-7-1944, truyền đơn, áp phích đã xuất hiện trên nhiều đường phố thị xã Phủ Lạng Thương, với các khẩu hiệu:

  - Đả đảo Nhật, Pháp!

  - Đả đảo chiến tranh phát xít!

  - Ủng hộ Việt Minh!

Cuộc đấu tranh có quy mô lớn, với số lượng người tham gia đông là cuộc tuyên truyền xung phong tại đền Kiếp Bạc vào ngày rằm tháng tám năm Giáp Thân (1944). Ban cán sự tỉnh chủ trương: nhân ngày lễ đền Kiếp Bạc có nhiều khách thập phương tới lễ hội, ta tổ chức rải truyền đơn, diễn thuyết nhằm vạch trần chính sách áp bức bóc lột của thực dân Pháp và phát xít Nhật, hô hào quần chúng tham gia Mặt trận Việt Minh. Để thực hiện chủ trương này, Ban cán sự tỉnh phân công một số đồng chí Ủy viên Ban cán sự tỉnh trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh. Dưới sự chỉ đạo của các đồng chí Ủy viên Ban cán sự tỉnh, các tổ công tác của huyện Lục Nam, Yên Thế, cải trang thành khách đi dự hội xuôi thuyền về Kiếp Bạc. Dưới đáy thuyền có truyền đơn, áp phích và gậy để tự vệ. Ban cán sự tỉnh chủ trương diễn thuyết công khai ở ba địa điểm: Đền Nam Tào, đền Bắc Đẩu và đền chính, đồng thời rải truyền đơn và dán áp phích ở khu đền và những nơi tập trung thuyền bè trước cửa đền. Nhưng hôm đó lính Nhật và lính khố xanh kéo đến rất đông, việc diễn thuyết không thực hiện được. Các tổ công tác được lệnh chỉ rải truyền đơn và dán áp phích. Truyền đơn được rải ở các khu vực đền, trao tay cho khách đi trẩy hội, gài vào khay đồ lễ, giúi vào các khoang thuyền và cả trong túi áo, túi quần của một số kính khố xanh. Truyền đơn và áp phích làm cả hội đền huyên náo, lính địch nhớn nhác, quần chúng vui mừng, bàn tán xôn xao. Câu chuyện Việt Minh rải truyền đơn, dán áp phích ở đền Kiếp Bạc được truyền đi khắp nơi, gây được ảnh hưởng chính trị rất lớn trong vùng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạt động cách mạng của ta.

Ngoài những cuộc đấu tranh có quy mô lớn trên đây, các chi bộ đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống địch thu mua thóc tạ, chống nhổ lúa, trồng đay, trồng thầu dầu, chống bắt phu làm đường, đòi giảm sưu thuế, đòi chia ruộng công, chống chiếm đoạt ruộng đất, chống hà lạm công quỹ, chống phụ thu lạm bổ, đòi giảm tô, giảm tức... Qua đó, tập dượt, huấn luyện cho quần chúng làm quen với đấu tranh, đồng thời thông qua lãnh đạo đấu tranh mà rèn luyện đảng viên, đào tạo cán bộ. Chi bộ Ca Sơn vận động quần chúng tẩy chay việc bán nhiêu của bọn hào lý địa phương đặt ra để lấy tiền mua vừng, lạc cho Nhật, chống lại lệnh bắt dân nộp tre cho địch. Nhân dân các thôn Dĩnh Kế, Hương Gián... chống lại việc Nhật bắt trồng đay bằng cách gieo giống chậm, bỏ không chăm sóc hoặc không gieo. Đối với việc bắt phu làm đường, ta nêu khẩu hiệu: “Đắp đê thì đi, không đi làm đường”. Ngoài ra ở một số nơi, quần chúng còn đấu tranh dưới nhiều hình thức hợp pháp có kết quả như chống bọn hào lý hà lạm diêm, muối (Hoàng Liên, Tam Sơn), đòi bán gạo hạ giá (Dĩnh Kế). Nông dân một số nơi dựa vào mất mùa, đói kém dây dưa không nộp đủ tô cho địa chủ, chống bọn hào lý lợi dụng hủ tục cướp đoạt soi bãi của nông dân đem bán như Đồng Áng (Hiệp Hòa)...

Những thắng lợi trong các cuộc đấu tranh đã có tác dụng cổ vũ tinh thần cách mạng của quần chúng, làm cho quần chúng tin tưởng vào sức mình, tin vào sự lãnh đạo của Đảng và càng tin vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng.

Để bảo vệ cơ sở, bảo vệ cán bộ, chuẩn bị lực lượng khi có thời cơ đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, song song với việc xây dựng cơ sở cách mạng, ta rất chú trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang. Từ năm 1942, các lớp huấn luyện chính trị đều có một phần nội dung huấn luyện về quân sự. Từ năm 1943, nhiều lớp huấn luyện quân sự đã được mở ở Hiệp Hòa, Phú Bình, Phổ Yên, Yên Thế.

Từ giữa năm 1943, việc củng cố và mở rộng cơ sở được Đảng bộ tiến hành một cách khẩn trương.

Ở Hiệp Hòa, cơ sở được mở rộng từ phía bắc xuống các thôn Quế Sơn, Giang Tân, Trung Định, Xuân Biều và nhiều thôn xóm thuộc khu vực phía nam của huyện. Ở đây, các đoàn thể cứu quốc được xây dựng ở hầu hết các thôn xóm, Mặt trận Việt Minh đã thống nhất được tổ chức từ xã đến tổng.

Ở Yên Thế, cơ sở đã mở rộng đến Nhã Nam, Cầu Gồ, Cầu Sa,...

Ở Phú Bình, cơ sở từ Ca Sơn hạ, Ca Sơn thượng, được mở rộng đến La Nẻ, Nỗ Dương, Mai Sơn, Thanh Lạng, La Đình, Bàn Đạt...

Ở Lạng Giang, các  cơ sở ở Dĩnh Kế, Hương Gián, An Tràng, Đào Tràng, ấp Tam Sơn,.. được củng cố và mở rộng ra các khu vực xung quanh và phát triển lên phía bắc. Từ năm 1944, khu vực Dĩnh Kế, Hương Gián, An Tràng, Đào Tràng có tổ chức thanh niên, phụ nữ, thiếu niên cứu quốc hoạt động có hiệu quả.

Sang năm 1944, cơ sở từ phố Lục Nam đã mở rộng vào Gàng, Rùm, Quỷnh (Lục Ngạn, nay thuộc Lục Nam). Từ đây có thể phát triển sang Đông Triều (Quảng Ninh).

Ở những địa phương trên, các đoàn thể cứu quốc, Mặt trận Việt Minh, lực lượng tự vệ được xây dựng thu hút đông đảo nhân dân tham gia.

Trong quá trình lãnh đạo Cách mạng, Đảng bộ Bắc Giang luôn quan tâm công tác xây dựng đảng. Đến năm 1944, Đảng bộ Bắc Giang đã có các Chi bộ và cơ sở Đảng ở Hoàng Vân, ấp Ba huyện (Hiệp Hòa), Tiên Thù (Phổ Yên), Ca Sơn thượng, Ca Sơn hạ (Phú Bình), Yên Lý. Đồng Điều (Yên Thế nay thuộc Tân Yên), Hương Gián, Dĩnh Kế, ấp Tam Sơn (Lạng Giang), khu vực phố Lục Nam (Lục Ngạn nay thuộc Lục Nam). Ở những địa bàn quan trọng và những nơi cơ sở mạnh đã có chi bộ Đảng hoặc đảng viên lãnh đạo.

Nhìn chung, trong những năm 1943, 1944, cơ sơ đảng và cơ sở cách mạng được phát triển rộng hơn, các đoàn thể cứu quốc được tổ chức chặt chẽ hơn, phong trào vững chắc hơn. Đó là một cố gắng rất lớn của Đảng bộ Bắc Giang.

Đối với khu vực miền núi, tuy Ban cán sự tỉnh có chủ trương xây dựng cơ sở, nhưng trong chỉ đạo thực hiện chưa được coi trọng. Cho nên cuối năm 1944, các huyện Sơn Động, bắc Lục Ngạn hầu như chưa có cơ sở. Đối với khu vực thị xã Phủ Lạng Thương, trung tâm chính trị của địch, cơ sở của ta rất ít và trong mấy năm liền ta không phát triển được. Sang năm 1943, Ban cán sự tỉnh có chủ trương gây cơ sở vào công nhân, binh lính và phát triển cơ sở vào tầng lớp tiểu thương nhưng cũng không thực hiện được.

Để bảo toàn lực lượng và thuận tiện cho việc chỉ đạo phong trào cách mạng thành thị cũng như nông thôn, miền xuôi cũng như miền ngược, đầu năm 1944, Ban Thường vụ Trung ương chủ trương xây dựng Khu an toàn II (ATK II) ở hai bên bờ sông Cầu thuộc các huyện Hiệp Hòa, Phổ Yên, Phú Bình. Khu vực này có một vị trí hết sức cơ động. Phía bắc có những con đường tắt xuyên rừng tới Tràng Xá, Võ Nhai (Thái Nguyên), địa bàn hoạt động của Cứu quốc quân. Phía nam qua huyện Yên Phong (Bắc Ninh) là tới Khu an toàn I (ATK I) của Trung ương bao quanh Hà Nội. Phía tây qua huyện Đa phúc (Phúc Yên), xuyên qua dãy Sóc Sơn có thể đi sang Việt Trì (Phú Thọ). Nửa phía bắc của An toàn khu có nhiều đồi núi nối tiếp nhau, xen lẫn có một số khu rừng nhỏ rập rạm. Dọc theo đê sông Cầu có nhiều soi bãi rộng, cây cối um tùm thuận tiện cho việc hoạt động bí mật của ta như hội họp, luyện tập quân sự v.v... Làng mạc ở xen lẫn với nhiều trại ấp đã tạo cho ta tổ chức được cơ sở cách mạng có thế liên hoàn. Nhân dân trong vùng phần lớn là tá điền. Ruộng đất của họ bị thực dân chiếm đoạt, do đó tinh thần dân tộc của họ rất cao. Ngay từ khi có ánh sáng cách mạng, đa số nông dân đã đi theo Đảng làm cách mạng. Có những xóm, nhà nào cũng là cơ sở cách mạng như xóm Đá (làng Vân Xuyên) có 37 hộ thì 33 hộ nuôi và bảo vệ cán bộ. Cơ sở Đảng khá vững chắc. Trong khu vực có 3 chi bộ: Hoàng Vân, Tiên Thù, Ca Sơn. Lực lượng tự vệ chiến đấu đã được xây dựng ở nhiều làng. Đó là những điều kiện để thành lập Khu an toàn. Được xây dựng đến giữa năm 1944, 3 huyện Hiệp Hòa, Phổ Yên, Phú Bình trở thành Khu an toàn hai của Trung ương. Trong An toàn khu có cơ quan in, trạm liên lạc, nơi làm việc của các đồng chí Trung ương,v.v... Đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh được chỉ định làm Trưởng ban công tác đội của An toàn khu hai (ATK II).

Việc chọn một khu vực của Bắc Giang để xây dựng thành An toàn khu chứng tỏ sự tin cậy của Trung ương vào Đảng bộ và quần chúng cách mạng Bắc Giang. Có An toàn khu trong tỉnh, Ban cán sự Bắc Giang nhanh chóng tiếp nhận những chủ trương và sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương, tạo những điều kiện thuận lợi cho sự lãnh đạo của Đảng bộ và phong trào cách mạng tỉnh ta.

Tháng 7 năm 1944, đồng chí Ngô Thế Sơn được phân công nhiệm vụ khác, đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh được Trung ương chỉ định làm Trưởng ban cán sự tỉnh kiêm Trưởng ban công tác đội của An toàn khu, nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc chỉ đạo và phối hợp giữa An toàn khu và Đảng bộ Bắc Giang trong việc xây dựng cơ sở, đấu tranh và bảo vệ An toàn khu.

Để đẩy mạnh hơn nữa việc chuẩn bị khởi nghĩa, ngày 7- 5- 1944, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị Sửa soạn khởi nghĩa. Chỉ thị nhận định, thời cơ hết sức thuận lợi cho nhân dân ta giành quyền độc lập sắp tới. “Song thời cơ không phải tự nó đến, một phần lớn là do ta sửa soạn nó, thúc đẩy nó” 5). Vì vậy phải tìm mọi cách đẩy mạnh giành quyền sống hàng ngày (chống thu thóc, chống phá màu trồng đay, cướp đất, tăng thuế,..) tiến lên đấu tranh giành chính quyền.

Thi hành Chỉ thị của Tổng bộ Việt Minh, Ban cán sự Bắc Giang đã khẩn trương chuẩn bị lực lượng khi thời cơ đến kịp thời lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Để chuẩn bị lực lượng vũ trang, tháng 7 năm 1944, Trung ương cử đồng chí Chu Đốc, cán bộ quân sự về Bắc Giang giúp tỉnh mở các lớp huấn luyện quân sự cho ta tự vệ, tiến tới tổ chức các đơn vị chiến đấu.

Ở phía nam Hiệp Hòa, mở 3 lớp Trung Định, Mai Phong, Cẩm Hoàng, mỗi lớp có quãng 20 người dự, thời gian từ 7 đến 10 ngày.

Ở phía bắc Hiệp Hòa, mở 5 lớp ở Hoàng Vân, Thanh Vân, mỗi lớp có khoảng 25 người dự. Một số tự vệ ấp Ba huyện cũng dự các lớp huấn luyện quân sự.

Ở Yên Thế, mở ở Yên Lý 2 lớp, Vân Cầu 1 lớp, mỗi lớp có trên 10 người dự.

Ở Lục Ngạn, mở ở Gàng 2 lớp, một lớp cho tự vệ, một lớp cho cán bộ; ở Quỷnh 2 lớp, Rùm 1 lớp, Vô Tranh 1 lớp, sau đó chuyển lên vùng Thanh Giã, Đại Lâm.

Lực lượng tự vệ sau khi được huấn luyện tổ chức thành tiểu đội, trung đội, có cán bộ phụ trách. Ở một số địa phương, tự vệ được trang bị súng do ta tước được của binh lính địch.

Giữa lúc phong trào cách mạng trong tỉnh đang xốc tới thì lại bị một đợt khủng bố của địch.

Ngày 16- 9- 1944, đồng chí Trương Công Lệnh, Thường trực Ủy ban quân chính Bắc Kỳ trên đường đi công tác bị tên đội Vinh, đồn trưởng Hà Châu bắt giải về Thái Nguyên. Tiếp theo đó, địch về phá cơ sở in của Trung ương ở Mai Sơn (Phú Bình) bắt 3 đảng viên và 3 quần chúng. Đó là một tổn thất do ta mất cảnh giác, không kịp thời di chuyển đi nơi khác.

Nhằm cảnh cáo và trấn áp bọn phản động ở địa phương, ngày 1- 10- 1944, Ban cán sự tỉnh tổ chức ám sát tên đội Vinh nhưng không kết quả. Sau sự việc này, địch khủng bố phong trào cách mạng trong vùng càng dữ dội hơn. Từ ngày 19 đến 23- 10- 1944, Tuần phủ Thái Nguyên Cung Đình Vận đích thân đem lính về vây bắt 13 người ở Mai Sơn, Ca Sơn (Phú Bình), Thù Lâm, Nguyên Hậu (Phổ Yên), Lạc Yên (Hiệp Hòa). Những hành động khủng bố điên cuồng của địch không dập tắt được phong trào cách mạng. Do ta làm tốt công tác bí mật nên địch không bắt thêm được ai. Phong trào cách mạng trong tỉnh vẫn tiếp tục phát triển.

Tháng 10- 1944 địch mở một cuộc càn quét lớn vào vùng Võ Nhai (Thái Nguyên) hòng tiêu diệt lực lượng vũ trang và cơ sở của ta. Trước tình hình ấy, cấp ủy địa phương phát động khởi nghĩa. Do không có sự chuẩn bị lại nổ ra không đúng lúc, Ban thường vụ Trung ương đã nghiêm khắc phê bình cấp ủy địa phương và kịp thời cử cán bộ về tăng cường chuyển cuộc khởi nghĩa vũ trang thành cuộc đấu tranh chống khủng bố theo những  hình thức thông thường để phá vỡ kế hoạch đàn áp của địch và bảo toàn lực lượng của ta. Một bộ phận Cứu quốc quân được phân công ở lại địa phương bám sát cơ sở, còn phần lớn rút sang Bắc Giang tiếp tục củng cố khi có điều kiện sẽ trở lại.

Cuối tháng 1 năm 1945, trên một trăm người gồm các chiến sĩ Cứu quốc quân và một số gia đình cách mạng đã vượt vòng vây của địch tới Yên Thế an toàn. Đảng bộ Bắc Giang được trung ương giao nhiệm vụ tiếp đón, nuôi dưỡng, bảo vệ lực lượng Cứu quốc quân và đồng bào Võ Nhai được Ban cán sự tỉnh chăm lo chu đáo. Ban cán sự phân công một đồng chí Ủy viên tập trung thực hiện nhiệm vụ này. Lực lượng cứu quốc quân, du kích và đồng bào Võ nhai được bố trí ở khu vực ấp Cầu Sa, Yên Lý và Đồng Điều thuộc phủ Yên Thế. Mặc cho địch lùng sục, các cơ sở Đảng và quần chúng cách mạng ở đây vẫn nhận anh em cứu quốc quân, du kích cùng bà con Võ Nhai về nhà ở và bảo vệ chu đáo, không bị lộ, nhất là xóm Đồng Điều ở sát đường từ Cầu Gồ đi Nhã Nam và chỉ cách Nhã Nam một kilômet. Lúc này, Tết Nguyên Đán Ất Dậu đang đến gần, nạn đói lại đang diễn ra, việc giải quyết ăn ở cho hơn một trăm người là vấn đề cực kỳ khó khăn. Ban cán sự tỉnh đã phân công cán bộ về các huyện Hiệp Hòa, Phú Bình, Phổ Yên, Lục Ngạn, Lạng Giang... quyên góp lương thực, quần áo, chăn chiếu... mang lên Yên Thế hỗ trợ đồng chí, đồng bào. Nhờ sự đùm bọc, nhường cơm, sẻ áo không chỉ của nhân dân địa phương mà của cả nhân dân trong tỉnh, anh em Cứu quốc quân, du kích và các gia đình cách mạng Võ Nhai vẫn đủ cơm ăn, áo mặc, chăn đắp. Đó là biểu hiện của tình đoàn kết dân tộc, tình đoàn kết giai cấp, quyết tâm bảo vệ cách mạng của nhân dân Bắc Giang.

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tám (5-1941), được sự chỉ đạo và giúp đỡ của Trung ương và Xứ ủy Băc Kỳ, trong hơn ba năm, thực hiện chương trình cứu quốc của Đảng và mặt trận Việt Minh, Đảng bộ Bắc Giang đã khẩn trương xây dựng lực lượng, từng bước đưa phong trào cách mạng của tỉnh từ thấp lên cao, tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.

IV. CAO TRÀO CHỐNG NHẤT CỨU NƯỚC VÀ KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN (THÁNG 3 ĐẾN THÁNG 8- 1945)

Bước sang năm 1945, cục diện cuộc chiến tranh thế giới có những thay đổi quan trọng.

Ở Việt Nam, mâu thuẫn Nhật – Pháp gay gắt đến cực độ “hai con chó đế quốc không thể ăn chung một miếng mồi béo như Đông Dương”6). Trước tình hình sớm muộn quân Đồng minh sẽ tiến vào Đông Dương, phát xít Nhật càng xúc tiến âm mưu diệt Pháp để trừ mối lo về sau. Đêm 9- 3- 1945 phát xít Nhật làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp độc chiếm Đông Dương, đúng như nhận định của Đảng ta.

Ở Bắc Giang, cả bộ máy thống trị của thực dân Pháp đã nhanh chóng hạ vũ khí đầu hàng phát xít Nhật.

Ngay sau khi lật đổ Pháp, bọn phát xít Nhật đóng ở Bắc Giang dùng bọn Đại Việt (một tổ chức thân Nhật) báo tin cho ta cử cán bộ về tiếp nhận chính quyền, âm mưu bắt gọn những cán bộ chủ chốt và bóp chết phong trào cách mạng trong tỉnh. Những bọn địch đã nhầm. Chúng ta cảnh giác nên không mắc mưu của địch.

Sau khi lật đổ Pháp, phát xít Nhật bắt tay ngay vào việc dựng lên một bộ máy chính quyền bù nhìn mới. Chúng đưa Vũ Văn Roãn, nguyên là đốc học làm Tỉnh trưởng; Nguyễn Văn Thành làm Phó Tỉnh trưởng, Thân Trọng Hậu là Tuần phủ bỏ trốn hôm Nhật đảo chính Pháp được mời về làm cố vấn cho Vũ Văn Roãn. Ở các công sở, chúng thay đổi tên gọi và đưa những tên tay sai đắc lực nắm giữ các chức vụ chủ chốt. Bộ máy bù nhìn cấp tỉnh của Nhật ra mắt trong buổi lễ trao trả độc lập tổ chức ở làng Thành (Lạng Giang, nay thuộc thị xã Bắc Giang) có mặt đầy đủ bọn quan lại bù nhìn tỉnh, huyện và một số chánh tổng, lý trưởng của các địa phương. Ở thị các Phủ Lạng Thương và một số nơi, các khẩu hiệu “Việt Nam độc lập”, “Khối đại Đông Á”, “Hợp tác Nhật - Việt” được kẻ vẽ la liệt. Một số lớp học tiếng Nhật được mở. Các cửa hiệu, công sở được đặt tên bằng tiếng Việt... Tất cả những việc làm trên đây của Phát xít Nhật và bọn tay sai hòng quét lên một lớp sơn độc lập giả hiệu để đánh lừa dân ta. Nhưng chúng ta không nhầm.

Ngay đêm Nhật đảo chính Pháp, Ban thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng để nhận định tình hình và đề ra chủ trương mới. Hội nghị đã phân tích nguyên nhân dẫn đến cuộc đảo chính và nhận định, sau cuộc đảo chính này, phát xít Nhật là kẻ thù chính, cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương. Vì vậy khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp” trước đây phải được thay bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”. Hội nghị chủ trương: “Phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”.

Nội dung nghị quyết Hội nghị được trình bày trong chỉ thị lịch sử ngày 12-3- 1945: “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng bộ và nhân dân Bắc Giang trong suốt cao trào chuẩn bị tổng khởi nghĩa.

Trước tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến quan trọng, Đảng bộ và nhân dân Bắc Giang đang chờ đợi chủ trương mới của Đảng thì chiều ngày 12- 3-1945, đồng chí Lê Thanh Nghị - đặc phái viên của Trung ương và đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh - trưởng ban cán sự đảng tỉnh, đi dự Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng về đến Hiệp Hòa. Tại đây, phong trào cách mạng rất mạnh. Lực lượng tự vệ chiến đấu được xây dựng ở nhiều làng. Chính quyền bù nhìn của địch ở tổng, xã đang hoang mang, dao động không còn hiệu lực, có người đã ngả theo cách mạng.

Thấy có thể vận dụng được Chỉ thị của Ban thường vụ Trung ương Đảng, tối 12/3/1945, các đồng chí Lê Thanh Nghị và Nguyễn Trọng Tỉnh đã chỉ đạo cán bộ địa phương tổ chức cuộc mít tinh tại đình Xuân Biều có 70 tự vệ chiến đấu và gần 300 quần chúng tham dự. Tại cuộc mít tinh, đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh báo cáo tình hình thế giới, trong nước, kêu gọi toàn dân đoàn kết, giữ gìn trật tự an ninh, hô hào nhân dân nộp thuế, phá các kho thóc của Nhật, Pháp chia cho nhân dân. Cũng trong cuộc mít tinh này, đồng chí Trưởng ban cán sự Đảng tỉnh công bố lệnh thủ tiêu bộ máy chính quyền cơ sở của địch, lập Ủy ban dân tộc giải phóng để giải quyết mọi công việc của địa phương. Đây là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở các cấp cơ sở đầu tiên của tỉnh Bắc Giang, là thắng lợi đầu tiên của của việc vận dụng sáng tạo Chỉ thị lịch sử ngày 12-3-1945 của Ban Thường vụ Trung ương ở Bắc Giang và trên phạm vi toàn quốc, mở đầu thời kỳ cao trào kháng Nhật cứu nước và khởi nghĩa từng phần ở Bắc Giang.

Ngay đêm hôm đó (12- 3- 1945), trong không khí hân hoan phấn khởi và sôi sục cách mạng, Ủy ban dân tộc giải phóng và cán bộ Việt Minh Xuân Biều hợp dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Lê Thanh Nghị và đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh, bàn kế hoạch phá kho thóc đồn điền Vát, lấy thóc chia cho dân để giải quyết nạn đói.

Hoảng hốt trước khí thế cách mạng của quần chúng, ngay đêm 12- 3-1945, tên quản lý đồn điền chạy trốn. Được tin đó, ngay trưa hôm sau (13- 3- 1945), nhân dân Xuân Biều, Trung Định cùng với nhân dân các xã lân cận gồm hàng nghìn người rầm rộ tiến vào bao vây đồn điền. Bọn lính gác không dám chống cự, vứt súng chạy trốn. Tự vệ phá cổng cho nhân dân vào kho lấy thóc. Hàng trăm tấn thóc trong đồn điền đã được chia cho dân. Thắng lợi của cuộc phá kho thóc đồn Vát đã giải quyết một phần nạn đói cho nhân dân trong vùng, quần chúng càng phấn khởi, tin tưởng cách mạng. Đây là cuộc phá kho thóc đầu tiên, mở đầu phong trào “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” ở tỉnh Bắc Giang.

Sau cuộc phá kho thóc đồn điền Vát thắng lợi, Ban cán sự Đảng tỉnh đã lãnh đạo nhân dân các địa phương tiếp tục phá các kho thóc của Nhật, Pháp ở đồn Cọ (Hiệp Hòa), đồn Chàng (Việt Yên), Cầu Mây (Phú Bình), Bến Bò (Lục Ngạn), Nhã Nam (YênThế)...

Khí thế cách mạng hừng hực của quần chúng đã làm cho chính quyền địch ở nhiều địa phương hoang mang, tan rã, chính quyền cách mạng lần lượt được thành lập ở Vân Xuyên, Lạc Yên, Hoàng Liên (Hiệp Hòa), Ca Sơn (Phú Bình). Ở những địa phương này, chính quyền cách mạng đã lãnh đạo nhân dân rào làng, diệt trừ trộm cướp và xử những tên phản cách mạng, làm cho an ninh trật tự thôn xóm nhanh chóng được ổn định.

Ngày 14- 3- 1945, đồng chí Lê Thanh Nghị và Nguyễn Trọng Tỉnh rời vùng Xuân Biều, Trung Định lên tổng Hoàng Vân. Ở đây, cán bộ và quần chúng đang nóng lòng chờ đợi cán bộ lãnh đạo, chờ đợi chủ trương mới của Đảng.

Nhằm phát động cao trào cách mạng trong vùng, ngày 15- 3- 1945, đồng chí Lê Thanh Nghị và Nguyễn Trọng Tỉnh tổ chức một cuộc tuyên truyền xung phong tại chợ Vân (tổng Hoàng Vân, Hiệp Hòa). Giữa lúc phiên chợ đang đông, các đồng chí đứng lên diễn thuyết phân tích tình hình thế giới, tình hình trong nước, chỉ ra kẻ thù của nhân dân ta lúc này là phát xít Nhật, hô hào quần chúng vùng dậy đánh đuổi phát xít Nhật, lật đổ chính quyền tay sai của địch.

Cũng tại chợ Vân, ngày 16- 3-1945, Ban cán sự tỉnh tổ chức mít tinh có hàng nghìn tự vệ và quần chúng thuộc hai tổng Hoàng Vân, Ngọc Thành và ấp Ba huyện tham gia. Sau cuộc mít tinh, tự vệ và quần chúng kéo thẳng đến đồn Cọ phá kho thóc. Bọn lính ở đồn Cọ hoảng sợ bỏ chạy. Đoàn biểu tình cùng nhân dân các địa phương xung quanh đông tới hàng nghìn người xông vào đồn phá kho lấy thóc. Hàng trăm tấn thóc của chủ đồn điền Táctaranh và của phát xít Nhật để đây đã được đem chia cho dân. Báo Cờ giải phóng, số 12 mô tả: “Hôm 15- 3-1945, ngót 100 anh em huyện Hiệp Hòa, tỉnh Đề Thám 7) biểu tình kéo vào đồn Cọ tiếp tục thu thóc lúa và chiếm một số súng đạn”. Bọn lính ở đồn Trị Cụ hoang mang đến cực độ. Mặc dù chưa có lệnh, tên đồn trưởng đồn Trị Cụ hoang mang đến cực độ. Mặc dù chưa có lệnh, tên đồn trưởng đồn Trị Cụ vội vã dẫn lính chạy về Thắng (Hiệp Hòa) để tìm đường về Thái Nguyên. Nhận được tin, Ban cán sự tỉnh đã nhanh chóng điều lực lượng bố trí chặn đánh địch ở cánh đồng Hoàng Lại. Khi tiếng súng vừa nổ, nhân dân các làng lân cận nổi trống liên hồi. Hàng trăm người từ các làng Kha Sơn (Phú Bình), Hoàng Lại, Thanh Vân, Đồng Áng, Hoàng Liên (Hiệp Hòa) mang theo giáo mác, gậy gộc đổ ra cánh đồng.

Hoàng Lại đánh địch. Trước khí thế của lực lượng vũ trang và quần chúng, binh lính địch hoảng sợ, vừa chạy, vừa bắn vào lực lượng ta. Vì chưa có kinh nghiệm tổ chức, chỉ huy, bố trí lực lượng, hiệp đồng chiến đấu, nên ta đã hy sinh 13 tự vệ và quần chúng. Địch chạy thoát về đồn Hà Châu (Thái Nguyên). Đây là một bài học kinh nghiệm cho ta trong những trận chiến đấu sau này.

Ở đồn Trị Cụ sau khi đại bộ phận bọn lính bỏ chạy về đồn Hà Châu (Thái Nguyên), lực lượng thanh niên trong tổ chức thanh niên lao tù cứu quốc đã lãnh đạo tù nhân nổi dậy tước súng của binh lính, phá nhà tù, tự giải phóng.

Khí thế cách mạng hừng hực của quần chúng ở khu vực Hiệp Hòa trong thời gian từ ngày 12 đến 16- 3- 1945 đã chứng minh các chủ trưởng của Ban Thường vụ Trung ương Đảng trong Chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12- 3- 1945 là rất sáng suốt, phù hợp với tình hình cách mạng và nguyện vọng của quần chúng.

Trong các ngày 16, 17- 3- 1945, Ban cán sự tỉnh Bắc Giang họp tại làng Đồng Điều (Yên Thế). Dự hội nghị có đồng chí Lê Thanh nghị, Đặc phái viên của Trung ương.

Sau khi kiểm điểm tình hình phong trào cách mạng trong tỉnh, phân tích những diễn biến từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp và nghe đồng chí Lê Thanh Nghị phổ biến nội dung Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng, Hội nghị quyết định phát động cao trào chống Nhật cứu nước trong toàn tỉnh và đề ra những nhiệm vụ cấp bách sau đây:

- Phá các kho thóc của Nhật – Pháp chia cho dân để cứu đói.

- Chống địch thu thuế, thu thóc tạ, phá kế hoạch trồng đay, trồng thầu dầu của Nhật.

- Diệt trừ lưu manh, trộm cướp, phản động, bảo vệ an ninh trật tự.

- Mở rộng cơ sở cách mạng ở Phú Bình, Việt Yên, Lạng Giang, Yên Dũng, dọc quốc lộ 13B và dọc tỉnh lộ 293 từ thị trấn Lục Nam vào Gàng, Rùm, Quỷnh rồi sang Đông Triều (Quảng Ninh).

- Khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển các đội tự vệ địa phương, tự vệ chiến đấu, tiến tới thành lập các đội du kích thoát ly. Phát động phong trào mua sắm vũ khí, mở các lớp huấn luyện quân sự cho tự vệ và cán bộ. Đánh úp các đồn địch và phát động khởi nghĩa từng phần. Tiếp tục thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng xã, tiến tới thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng huyện.

- Đẩy mạnh việc huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ, đi đôi với việc tuyên truyền xung phong vạch trần thủ đoạn lừa bịp của Nhật.

Những chủ trương trên đây của Hội nghị là phương hướng chỉ đạo trong suốt thời kỳ cao trào chống Nhật cứu nước, tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở tỉnh Bắc Giang.

Sau hội nghị, Ban cán sự tỉnh quyết định thành lập tiểu đội tự vệ thoát ly của tỉnh làm lực lượng nòng cốt trong hoạt động vũ trang. Một số tự vệ trung kiên của huyện Hiệp Hòa, Phú Bình và một số thanh niên lao tù cứu quốc ở Trị Cụ được tuyển chọn, lập ra tiểu đội tự vệ thoát ly. Đó là đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh gồm 13 chiến sĩ với 12 khẩu súng do đồng chí Lương Văn Đài, Ủy viên ban cán sự trực tiếp phụ trách. Lễ thành lập được tổ chức tối 25- 3- 1945 tại làng Soi (Phú Bình). Trong buổi lễ, đồng chí Lương Văn Đài thay mặt Ban cán sự tỉnh, đã giao nhiệm vụ cho tiểu đội:

- Luyện tập quân sự và học tập chính trị.

- Dìu dắt, giúp đỡ tự vệ nơi đóng quân luyện tập quân sự.

- Tiễu phỉ, trừ gian, khi có điều kiện thì hạ các đồn địch, hỗ trợ nhân dân đứng lên khởi nghĩa.

Sau khi thành lập, đơn vị tổ chức dán áp phích ở nhiều nơi trong hai huyện Hiệp Hòa và Phú Bình kêu gọi quần chúng nổi dậy đánh đuổi phát xít Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân. Tối 1- 4- 1945, tại buổi lễ truy điệu các chiến sĩ hy sinh trong trận phục kích ở cánh đồng Hoàng Lại, đơn vị đã ra mắt nhân dân.

Từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp, để đẩy mạnh phong trào cách mạng trong tỉnh cao hơn nữa, Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ đã tăng cường cho Bắc Giang các đồng chí Hồ Công Dự, Phạm Yên, Hoàng (Bạch)... Ban cán sự tỉnh đã phân công đồng chí Hồ Công Dự về Việt Yên, đồng chí Hoàng (Bạch) về Lạng Giang, đồng chí Yên về Hiệp Hòa.

Có chỉ thị của Trung ương dẫn đường lại được tăng cường cán bộ, phong trào cách mạng Bắc Giang có bước phát triển mới.

Ở Hiệp Hòa, cơ sở ấp Ba huyện mở rộng xuống Lương Phong, Đoan Bái. Đến cuối tháng 3 năm 1945, ở hầu hết các xã trong huyện đã có cơ sở cách mạng.

Ở Yên Thế, cơ sở được mở rộng sang khu vực phía đông và nam. Ở đây, song song với việc xây dựng lực lượng chính trị, các đồng chí cán bộ phụ trách rất chú trọng đến việc xây dựng lực lượng vũ trang. Ngày 15- 3- 1945, tự vệ Lữ Vân phá kho thóc của Hàn Lân, lấy hơn 100 tấn thóc chia cho dân. Những ngày sau đó, các kho thóc của địch ở Nhã Nam, Khánh Giàng, Lạc Liễu cũng bị phá tung, thóc được lấy ra chia cho nhân dân thiếu đói. Lực lượng tự vệ các địa phương trong phủ đã đập tan các băng đảng trộm cướp, đảng phái phản động lợi dụng tình hình Nhật đảo chính Pháp nổi lên cướp phá, gây rối ở địa phương như Trương Bẩy, Trương Sắc, Trương Luật, Chánh Tam, bọn Quốc dân đảng Lý Huyên ở Đại Hóa, bọn Việt Nam quang phục hội ở Nhã Nam...

Ngày 18- 3-1945, lực lượng tự vệ trong phủ đánh đồn Bố Hạ. Ngày 20- 3- 1945, tự vệ Canh Nậu, Đồng Vương, Đồng Hưu tiến sang Võ Nhai phối hợp với lực lượng tự vệ ở đây đánh đồn Đình Cả, sông Đào.

Cuối tháng 3 năm 1945, tự vệ khu vực kè Lữ Vân chặn đánh đoàn thuyền chở dầu và thóc  của Nhật, lấy thóc chia cho dân, còn thuyền  và dầu đốt tại chỗ.

Ngày 15- 4- 1945, đánh phủ lỵ Nhã Nam, thu 14 súng.

Ngày 15- 6- 1945, các đồng chí lãnh đạo phong trào cách mạng phủ Yên Thế đã tổ chức một cuộc biểu dương lực lượng ở Mỏ Trạng có hàng trăm tự vệ các địa phương tham dự nhằm khuyếch trương lực lượng, uy hiếp quân địch.

Ở Việt Yên, đồng chí Hồ Công Dự về xây dựng cơ sở đầu tiên ở Hùng Lãm (tổng Hoàng Mai). Từ Hùng Lãm, đồng chí bắt mối và mở rộng ra các địa phương khác trong huyện. Đến giữa tháng 6 năm 1945, Việt Yên đã có 20 làng có tổ chức Việt Minh. Một số làng thuộc các tổng Tự Lạn, Dĩnh Sơn, Thiết Sơn, Quang Biểu, Hoàng Mai, Mật Ninh... đã thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng. Chính quyền địch từ huyện đến tổng, xã cực kỳ hoang mang, dao động, một số đã ngả theo cách mạng.

Ở Lục Ngạn, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Hoàng Hà Châu (Hoàng Quốc Thịnh), cơ sở được mở rộng từ phố Lục Nam theo quốc lộ 13B lên Chũ. Các lớp huấn luyện quân sự, chính trị được mở ở Gàng, Rùm, Quỷnh, Thanh Giã, Bảo Sơn do các đồng chí Chu Đốc (cán bộ quân sự), Hồ Công Lạng, Nguyễn Đức Quỳ (cán bộ chính trị) phụ trách. Cuối tháng 3 năm 1945, Ban cán sự tỉnh thành lập Đội vũ trang tuyên truyền phủ Lục Ngạn gồm 15 người. Sau khi được huấn luyện chính trị và quân sự tại làng Gàng, đội đã đi sâu vào hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tuyên truyền, vận động quần chúng gia nhập Mặt trận Việt Minh, chống Nhật cứu nước. Đội còn tham gia tiễu phỉ, bảo đảm tính mạng và tài sản của nhân dân. Cơ sở Việt Minh và các đoàn thể Cứu quốc đã được xây dựng ở nhiều làng, bản trong phủ. Khi phong trào cách mạng lên cao, một số hào lý đã gia nhập Việt Minh hoặc các đoàn thể cứu quốc, một số không tham gia thì ủng hộ tiền, gạo... Bộ máy thống trị của địch từ phủ đến tổng, xã đang hoang mang, tan rã, không còn hiệu lực, Mặt trận Việt Minh đứng ra giải quyết các công việc.

Ở Yên Dũng, để mở rộng cơ sở xuống phía nam, ban cán sự tỉnh thành lập hai đội tuyên truyền xung phong. Đội thứ nhất hoạt động ở tổng Phấn Sơn, đội thứ hai hoạt động ở khu Ba Tổng. Chỉ trong một thời gian ngắn, các đoàn thể cứu quốc, Mặt trận Việt Minh, các đội tự vệ lần lượt được thành lập ở các địa phương. Ở Hương Gián, An Tràng, Đào Tràng, Tư Mại, Song khê, Cảnh Thụy, Bằng Lương,... ta liên tục tổ chức các cuộc mít tinh tuyên truyền chủ trương, chính sách của Mặt trận Việt Minh, hô hào quần chúng đấu tranh chống Nhật bắt phá lúa trồng đay, trồng thầu dầu, chống cân thóc tạ... Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, nhân dân làng Hương Gián kéo vào nhà lý trưởng lấy lại số thóc thuế đã thu, phát cho nhân dân đang bị đói. Tự vệ các làng Song Khê, Nội Hoàng, Ảm Trứ, Phấn Trì đánh đuổi Nhật về cân thóc ở Dốc Sở. Mặt trận Việt Minh Song Khê gọi hào lý trong xã lên cảnh cáo và tịch thu toàn bộ bằng triện, sổ sách.

Ở thị xã Phủ Lạng Thương, cơ sở đã thâm nhập được vào công nhân xưởng sửa chữa xe lửa, nhà máy nước, công chức, binh lính, học sinh, tiểu thương.

Ở Lạng Giang, phong trào từ Phi Mô, Quảng Mô, Bừng phát triển tới Khê Cầu, Chí Mỹ, Mải Hạ, Bắc Thịnh, Chi Lễ, Dương Quan, Bằng, Kép, Đào Mỹ, Yên Mỹ... Từ Kế, Hương Gián, phong trào phát triển lên Đại Lâm và mở rộng ra các địa phương xung quanh. Nhiều nơi quần chúng tự động đi đón cán bộ về tổ chức Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc. Chính quyền địch ở nhiều nơi không còn hiệu lực, đa số đã ngả theo cách mạng. Ở những nơi thế lực địch còn mạnh, một số tổng lý phản động dựa vào bọn tay sai Nhật, cưỡng bức nhân dân nộp thuế, cân thóc tạ, đã bị ta trừng trị như chánh Khanh (Dĩnh Trì). Sau khi chánh Khanh bị giết, chánh Yến, (phó quận trưởng Lạng Giang) đã đem nộp cho Việt Minh 15 khẩu súng và xin tha tội chết, lý trưởng Dĩnh Kế phải trả lại tiền thuế đã thu của dân.

Ở Hữu Lũng, từ tháng 4 năm 1945, cơ sở đã mở rộng ra nhiều xã, một số xã đã thủ tiêu chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng.

Một khó khăn cho phong trào cách mạng Bắc Giang lúc này là sự hoạt động, chống phá của các đảng phái phản động và các băng nhóm thổ phỉ.

Ở vùng An Châu, tên Lục Phúc Lợi (tức tổng đoàn Long) có tới hàng trăm đồng đảng hoạt động sang đến Hà Cối, Tiên Yên (Quảng Ninh).

Ở vùng Chũ có Sằn Váy Thình, trong tay có ba, bốn trăm đồng đảng.

Ở Hữu Lũng có Nông Phúc Hưng (tức Hoàng Văn Sinh), với ba, bốn trăm thủ hạ, tự xưng là Hoa quân nhập Việt.

Ở Yên Thế có các bọn Hoàng Hán Minh, Poóng Sáng, Ma Lầy, Mai Chiểu Nam...

Lực lượng phỉ với khoảng 2.000 tên có trang bị vũ khí, bọn chúng cấu kết với nhau nổi dậy cướp bóc và kích động các dân tộc chém giết lẫn nhau, gây thù hằn giữa các dân tộc.

Ngoài lực lượng thổ phỉ, ở Bắc Giang sau ngày Nhật đảo chính Pháp, bọn đặc vụ Tưởng từ Trung Quốc tràn sang trà trộn trong đồng bào Hoa dưới danh nghĩa Hoa quân nhập Việt chuẩn bị cơ sở để khi có thời cơ sẽ thôn tính miền Bắc nước ta.

Bọn Đại Việt (một tổ chức thân Nhật), tụ tập ở ấp Đại Hóa (Yên Thế), Hạ Hội, Đối Sơn, Mai Sưu (Lục Ngạn), thị xã Phủ Lạng Thương. Giữa bọn Đại Việt và các nhóm phỉ có mâu thuẫn với nhau, thường xuyên nổ ra những cuộc chém giết trả thù, gây nên mâu thuẫn dân tộc khá căng thẳng. Điển hình là chánh Hiền ở Hạ Hội, quận phó bảo an, lợi dụng danh nghĩa tiễu phỉ đã giết hàng trăm người Hoa ở Cầu Đèn; chánh Nha, chánh Nhuận giết hàng trăm người Hoa ở Đồng Vành, Đồng Phúc...

Lợi dụng tình hình Nhật đảo chính Pháp, bọn Quốc dân đảng cũng nổi lên ở Hoàng Mai, Mật Minh, Đạo Ngạn (Việt Yên), Húi (Lục Ngạn, nay thuộc Lục Nam), thị xã Phủ Lạng Thương... tranh giành ảnh hưởng, cản trở hoạt động của ta.

Trước tình hình đó, Ban cán sự tỉnh chủ trương:

- Đối với chính quyền tay sai phát xít Nhật, cần thuyết phục, lôi kéo những người lừng chừng, trừng trị những tên ngoan cố.

- Đối với thổ phỉ và các đảng phái phản động, phải phân biệt những tên cầm đầu và quần chúng lao động bị chúng dụ dỗ, bắt ép theo chúng; kiên quyết tiêu diệt bọn cầm đầu, tuyên truyền, thuyết phục những người lầm đường lạc lối về với nhân dân.

- Khẩn trương xây dựng các đoàn thể cứu quốc, Mặt trận Việt Minh, các đội tự vệ, vác đội tuyên truyền xung phong... khuyếch trương lực lượng để áp đảo địch.

- Kêu gọi các dân tộc đoàn kết cùng nhau chống Nhật.

- Tranh thủ đào tạo cán bộ dân vận, trước tiên là cán bộ Hoa vận.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, ta bắt liên lạc với Lâm Chung, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, sang dạy học ở vùng Lục Ngạn, Sơn Động. Đó là một thuận lợi cho việc mở rộng cơ sở cách mạng vào đồng bảo Hoa của ta. Từ khi ta liên lạc được với Lâm Chung, đông đảo đồng bào Hoa ở Lục Ngạn, Sơn Động đã dần dần đi theo cách mạng. Đầu tháng 5 năm 1945, ta mở một lớp huấn luyện quân sự cho 15 thanh niên người Hoa ở Gàng, số thanh niên này sau đó được tổ chức thành đội du kích Hoa - Việt kháng Nhật, hoạt động trong đồng bào người Hoa dọc đường 13B vừa gây cơ sở, vừa tiễu phỉ. Truyền đơn của ta kêu gọi bà con người Hoa cùng hợp tác với người Việt đánh Nhật được Lâm Chung dịch ra chữ Hán rồi phân phát cho bà con người Hoa. Cán bộ Việt Minh cùng Lâm Chung đi vào các trại người Hoa tuyên truyền, giải thích cho quần chúng hiểu phong trào cách mạng Việt Nam, vạch trần âm mưu chia rẽ dân tộc của đế quốc và bọn thổ phỉ.

Sau khi ta đã xây dựng được cơ sở trong đồng bào Hoa, đối với những tên cầm đầu các nhóm thổ phỉ người Hoa ngoan cố chống lại, ta lãnh đạo đội du kích Hoa - Việt kháng Nhật tiêu diệt. Đối với bọn đặc vụ Tưởng núp dưới danh nghĩa Hoa quân nhập Việt ta sử dụng Lại Chắc Sần- người Hoa, được Nhật phong quận trưởng bảo an- khống chế để chúng khỏi đi cướp bóc của dân, gây tình hình lộn xộn trong vùng.

Ở Yên Thế, Ban cán sự tỉnh cũng tổ chức một đội vũ trang tuyên truyền đi vào các bản thuộc vùng thượng huyện tuyên truyền, giải thích đường lối, chủ trương của Đảng, vận động đồng bào các dân tộc gia nhập các đoàn thể cứu quốc, Mặt trận Việt Minh, bài trừ các hủ tục lạc hậu. Được giải thích, đồng bào, các dân tộc phấn khởi, hăng hái tham gia vào các đoàn thể cứu quốc, Mặt trận Việt Minh. Trước khí thế của phong trào cách mạng, một số tên tướng phỉ như Mai Chiểu Nam ở khu vực Phổng- Bố Hạ, Ma Lầy ở Đồng Hưu được ta giải thích, thuyết phục đã đi theo cách mạng. Đối với những tên thổ phỉ ngoan cố như Poóng Sáng, Nông Phúc Thoòng (ở Cầu Rễ), Nông Viết Anh (ở Đồng Vương), Nông Viết Tiến (ở Mỏ Trạng)... ta dùng lực lượng vũ trang tiêu diệt.

Tình hình cách mạng nước ta lúc này đang tiến dần tới cao trào tổng khởi nghĩa. Từ ngày 15 đến ngày 20- 4-1945, tịa làng Liễu Ngạn, tổng Hoàng Vân (Hiệp Hòa), Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng chủ trì, nhằm giải quyết cụ thể những vấn đề quân sự, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị đã đặt ra nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này. Hội nghị quyết định xây dựng 7 chiến khu trong cả nước, Bắc Giang nằm trong chiến khu Hoàng Hoa Thám. Nghị quyết của Hội nghị đã tác động mạnh đến phong trào cách mạng Bắc Giang.

Để thực hiện “Người cày có ruộng” mà trong Cương lĩnh của Đảng đã đề ra, được chỉ đạo trực tiếp của Trung ương, Ban cán sự Bắc Giang đã tiến hành chia ruộng đất hai đồn điền Cọ và Vát của Tactaranh cho tá điền và nông dân. Ngày 8- 5- 1945, Ban cán sự tỉnh triệu tập một cuộc họp gồm đại biểu Uỷ ban dân tộc giải phóng các xã trong huyện Hiệp Hòa họp tại đình Quế Sơn bầu ra Ủy ban dân tộc giải phóng huyện và quyết định việc tạm chia ruộng đất của đồn điền Cọ và Vát cùng với việc giảm tô 25% cho nông dân. Nội dung Nghị quyết gồm một số quan điểm quan trọng.

I- Quyền sở hữu và sử dụng:

1. Tất cả ruộng đất của Đồng Cờ (tức đồn điền Cọ), Vát v.v....đều đem làm ruộng của công của dân chúng, dân chúng toàn huyện chỉ làm chủ, không một xã nào, người nào được nhận làm của riêng.

2. Chỉ có đại biểu Hội nghị hay Ủy ban dân tộc giải phóng huyện mới có quyền sử dụng và quân phân, không một xã nào tự ý hoặc một người nào tự ý sử dụng mà chưa có lệnh của Ủy dân tộc giải phóng.

II- Cách sử dụng và quân phân:

1. Tá điền nghèo không có ruộng, hoặc không đủ ruộng cày cấy mới được lĩnh ruộng.....

2. Phải căn cứ vào nhân lực và nhân khẩu mà quân phân ruộng đất.

III- Thu hoạch địa tô:

1. Địa tô giảm 1- 4.

Hội nghị đã bầu ra Ủy ban dân tộc giải phóng huyện Hiệp Hòa gồm một Chủ tịch, một Phó Chủ tịch và ba ủy viên. Sau khi được thành lập, Ủy ban dân tộc giải phóng huyện đã tiến hành ngay việc tạm chia ruộng đất đồn điền Cọ.

Với việc tịch thu ruộng đất của hai đồn điền Cọ và Vát chia cho nông dân, Hiệp Hòa là địa phương đầu tiên thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ. Hiệp Hòa cũng là huyện đầu tiên trong tỉnh lập được Ủy ban dân tộc giải phóng cấp huyện. Những sự kiện này chẳng những cổ vũ mạnh mẽ cao trào chống Nhật cứu nước của nhân dân trong huyện mà còn ảnh hưởng lớn tới phong trào các mạng của cả tỉnh.

Trong sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, bộ máy chính quyền địch ở hiệp Hòa hoang mang đến cực độ. Tri huyện Hiệp Hòa hoảng sợ tìm cách bắt liên lạc với Việt Minh xin trao chính quyền cho Ủy ban dân tộc giải phóng huyện. Thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền huyện đã đến.

Tối 1- 6- 1945, lực lượng tự vệ tổng Hoàng Vân do đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh chỉ huy tiến vào chiếm huyện lị.Trước đó, tri huyện đã gặp đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh và nhận làm nội ứng khi Việt Minh tấn công  huyện lỵ. Khi quân ta tiến vào công đường, cổng đã mở sẵn. Ta tập trung tri huyện, nha lại, binh lính giải thích chính sách của Mặt trận Việt Minh, sau đó ta đốt toàn bộ sổ sách, tài liệu, thu 30 súng, xử tử tên lục sự phản động (Lục Liễn), còn nha lại, binh lính cho về nhà làm ăn .

Sau khi giải phóng huyện lỵ Hiệp Hòa, lực lượng vũ trang của ta tiến sang đánh đồn Trị Cụ. Nhưng do ta chưa có kinh nghiệm đánh đồn, địch lại được tăng cường và bố phòng kiên cố, nên trận chiến đấu diễn ra gay go, quyết liệt. Ta không chiếm được đồn, phải rút quân.

Đêm 3- 6- 1945, ta tiến đánh đồn Chã (Phổ Yên). Tên đội chỉ huy đồn đã bị tiêu diệt. Binh lính trong đồn sợ hãi, nộp vũ khí đầu hàng. Ta huy động hàng nghìn quần chúng trong vùng đến phá kho, lấy thóc. Hôm sau (4- 6- 1945), Tổng đốc Thái Nguyên Cung Đình Vận đem lính về đàn áp phong trào cách mạng ở đây và định chiếm lại đồn Chã, nhưng trước sức mạnh của phong trào cách mạng, y phải kéo quân về.

Hoảng sợ trước việc huyện lỵ Hiệp Hòa và đồn Chã bị ta đánh chiếm, binh lính đồn Hà Châu vội vã bỏ chạy về phủ lỵ Phú Bình. Ở đồn Trị Cụ, bọn binh lính mới được phát xít Nhật điều về thấy không thể giữ nổi cũng bỏ chạy về tỉnh. Huyện Hiệp Hòa hoàn toàn được giải phóng.

Sau khởi nghĩa giành chính quyền huyện Hiệp Hòa thắng lợi, bộ máy chính quyền địch từ tỉnh đến cơ sở càng hoang mang, dao động, nhiều nơi, chính quyền địch ở thôn, xã bị tê liệt và tan rã. Đó là thời cơ để Đảng bộ Bắc Giang phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền.

Trước tình hình trên đây, giữa tháng 6 năm 1945, Ban cán sự tỉnh triệu tập hội nghị cán bộ toàn tỉnh hợp ở ấp Quan Đình (Phú Bình). Hội nghị đã nhận định, đánh giá tình hình phong trào cách mạng trong tỉnh và bổ sung một số chủ trương mới:

- Gấp rút phát triển lực lượng vũ trang, thành lập đơn vị vũ trang huyện Hiệp Hòa, chuẩn bị lập các đội vũ trang phủ Yên Thế và phủ Lục Ngạn, sử dụng anh em binh lính đã giác ngộ cách mạng vào việc huấn luyện quân sự.

- Đánh các đồn binh, khởi nghĩa giành chính quyền các phủ, huyện.

- Thực hiện giảm tô trong các đồn điền.

Hội nghị đã thành lập Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 5 ủy viên:

- Nguyễn Trọng Tỉnh.

- Hà Thị Quế

- Hoàng Hà Châu

- Lương Văn Đài

- Hồ Công Dự

Do đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh làm Bí thư.

Cuối tháng 6 năm 1945, các trung đội tự vệ tập trung huyện Hiệp Hòa, phủ Phú Bình, phủ Yên Thế được thành lập làm nhiệm vụ đánh địch, huấn luyện tự vệ, giữ gìn trật tự an ninh và bảo vệ chính quyền cách mạng.

Tại Việt Yên, trước khí thế phong trào cách mạng dâng cao, tri huyện Phạm Khắc Dậu 8), ban đêm không dám ngủ ở huyện đường. Thấy địch hoang mang, tối 26- 6- 1945, lực lượng tự vệ Thúy Cầu và Ngọc Nham (YênThế) kéo đến huyện lỵ tước vũ khí của binh lính. Đến cổng huyện, tự vệ ném một quả lựu đạn, lính trong huyện đường hoảng sợ, bỏ chạy. Ta thu 7 khẩu súng. Từ hôm sau, tri huyện không dám quay trở lại, trong huyện đường chỉ còn lại một thừa phái và một số lính lệ không có súng. Bọn tổng lý ở các xã đều nằm im hoặc theo Việt Minh. Ngày 28- 6- 1945, Ủy ban Dân tộc giải phóng huyện Việt Yên được thành lập.

Ngay sau khi được thành lập, chính quyền cách mạng đã huy động lực lượng tự vệ các địa phương tấn công bọn Quốc dân Đảng ở Hoàng Mai và Mật Ninh. Ta tiêu diệt một số, còn một số bỏ chạy.

Tại Yên Thế, sau khi phủ lỵ Nhã Nam và đồn Bố Hạ bị ta tước vũ khí, phát xít Nhật đưa tên Tưởng Văn Trang, tay sai đắc lực của chúng, đến giữ chức tri phủ Yên Thế. Tên này ra sức chống phá cách mạng và thúc ép các chánh tổng. lý trưởng thu thóc, thu thuế cho Nhật. Tỉnh ủy quyết định trừng tên Tưởng Văn Trang để cảnh cáo những tên phản động khác.

Ngày 15- 7- 1945, được tin Tưởng Văn Trang đi Bố Hạ đốc thuế, đồng chí Hà Thị Quế, Tỉnh ủy viên phụ trách phủ Yên Thế, cử một đơn vị tự vệ mai phục tại dốc Đanh trên đường Nhã Nam đi Bố Hạ. Khi bọn địch đi tới, tự vệ xông lên bắn chết một tên lính, bắn bị thương Tưởng Văn Trang, bọn còn lại vội vã đầu hàng. Ngay đêm hôm đó, ta đưa Tưởng Văn Trang ra trước quần chúng để vạch tội, sau đó xử tử cùng với tên thừa phái phản động. Bọn lính trong phủ càng hoang mang, lo sợ, tên đội chỉ huy lính bảo an trước đây còn lừng chừng, nay xin đi theo cách mạng. Nắm chắc tình hình ấy, Tỉnh ủy chủ trương đánh chiếm phủ lỵ Yên Thế đập tan chính quyền địch, tước vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang của ta, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh. Tỉnh ủy điều trung đội du kích Hiệp Hòa sang phối hợp với trung đội du kích Yên Thế và tự vệ địa phương chuẩn bị cho trận đánh. Trong phủ, ta đã có sẵn cơ sở nội ứng là viên đội chỉ huy lính bảo an và hai người lính. Theo kế hoạch do ta đề ra, đêm 16 rạng ngày 17- 7- 1945, viên đội lấy cớ đi tuần, dẫn hai tiểu đội lính ra cầu Trắng (cách Nhã Nam khoảng 1 kilômét), tạo điều kiện cho quân ta bao vây, tước súng. Sau đó, viên đội và hai người lính làm nội ứng quay về phủ bắt tiểu đội lính gác phải đầu hàng. Lực lượng tự vệ ta xông vào phủ chiếm giữ kho súng, bức hàng tất cả số lính còn lại. Ta thu 20 khẩu súng, đốt hết giấy tờ, sổ sách.

Đêm 17- 8- 1945, tự vệ Yên Thế tiến đánh đồn binh Bố Hạ lần thứ hai, bắt sống chánh Triệu (người Đào Quán, Lạng Giang) và thu 20 khẩu súng.

Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền phủ Yên Thế đã hoàn toàn thắng lợi.

Tại Lục Ngạn, cơ sở cách mạng và lực lượng vũ trang đã phát triển khá mạnh. Lực lượng tự vệ của phủ đã liên tiếp chặn đánh quân Nhật ở miếu Thị Trinh, Non Dưa, Cầu Sàn, Cầu Sen... gây cho địch nhiều thiệt hại.

Được tin các huyện phủ Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Thế đã khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, thấy điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi, tối 17- 7- 1945, đồng chí Nguyễn Thanh Bình, phụ trách phủ Lục Ngạn, triệu tập một cuộc họp ở làng Đọ gồm các đồng chí Hồ Công Lạng, Lư Giang, Mạnh Hùng, Lê Bá Hội, Phương Minh Nam, Nguyễn Văn Biên... bàn kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền phủ. Hội nghị quyết định:

- Sáng 18- 7- 1945, khởi nghĩa giành chính quyền phủ.

- Lực lượng tham gia khởi nghĩa là tự vệ các xã và quần chúng nhân dân.

- Ngăn chặn quân Nhật từ Cầu Lồ tiếp viện, cô lập lực lượng Lý Chắc Sần.

- Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, nhanh chóng thành lập chính quyền cách mạng để bảo vệ an ninh, trấn áp bọn phản cách mạng, giúp đỡ các địa phương trong phủ khởi nghĩa giành chính quyền.

Trước đó, nhân danh Việt Minh, ta viết thư cho tri phủ Vũ Phạm Phổ 9) để thăm dò thái độ. Thư được bí mật bỏ vào ngăn kéo bàn làm việc của tri phủ. Nhận được thư tri phủ bắt đầu dao động. Ít ngày sau, ta lại viết thư thuyết phục. Sau khi xem thư, tri phủ nhắn tin sẵn sàng tuân theo các điều kiện của Việt Minh đưa ra.

Ta bắt liên lạc với ông cai Phạm Văn Ân (người làng Quỷnh) đã được ta tuyên truyền giác ngộ, hiện là chỉ huy binh lính trong phủ. Mặt khác, ta dùng kế “điệu hổ ly sơn” đối với Lý Chắc Sần, quận trưởng bảo an bằng cách yêu cầu một người có thế lực trong vùng mời Lý Chắc Sần đền nhà riêng, ta nói cho hắn biết Việt Minh sẽ khởi nghĩa giành chính quyền phủ. Ở vào thế bị giam lỏng, Lý Chắc Sần phải khoanh tay.

Ngay trong đêm ấy, 17- 7- 1945, gần 400 tự vệ khu Gàng, Rùm, Quỷnh, Sơn Đình, Tam Dị, Chu Điện, Đọ, phố Lục Nam được huy động đến bao vây phủ và phá cầu Mẫu Sơn để chặn đường tiếp viện của quân Nhật từ Cầu Lồ tiến lên. Sáng 18- 7- 1945, một số bộ phận tự vệ vũ trang tiến vào cổng phủ, lính gác thấy lực lượng ta đông, bỏ chạy vào lô cốt. Ông cai PhạmVăn Ân ra lệnh cho binh lính không được chống cự và tập trung tất cả súng lại. Khi ta tiến vào phủ, tri phủ khăn áo chỉnh tề cùng gia quyến ra hàng, nộp dấu ấn cho Việt Minh.

Ngày 20- 7-1945, ta tổ chức mít tinh có hàng ngàn người dự, Ủy ban dân tộc giải phóng phủ ra mắt nhân dân trong cuộc mít tinh này.

Cuối tháng 7- 1945, tại một địa điểm thuộc phủ Lục Ngạn, Ban cán sự tỉnh đã lập đội vũ trang tuyên truyền gồm 18 người. Đội được giao nhiệm vụ tuyên truyền, kêu gọi các dân tộc đoàn kết chống Nhật, tiễu phỉ, trừ gian, lập các Ủy ban dân tộc giải phóng. Đội hoạt động từ vùng thung lũng Rùm qua Đối Sơn, Mai Sưu, Hố Lao, Đám Trì rồi vượt núi Yên Tử bắt liên lạc với chiến khu Trần Hưng Đạo (Đông Triều). Trên dọc đường hành quân của đội, các Ủy ban dân tộc giải phóng lần lượt được thành lập. Sau gần một tháng hoạt động, đội đã hoàn thành nhiệm vụ và quay về Lục Ngạn. Sau khi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh Hải Dương thắng lợi ngày 18- 8- 1945, đơn vị tự vệ Lục Ngạn trở về Húi, xã Đan Hội trừng trị thích đáng bọn phản động đang quấy phá ở đây.

Tại Yên Dũng, ngày 20- 7- 1945, tự vệ Song Khê do đồng chí Ninh Văn Phan chỉ huy phối hợp với tự vệ An Tràng, Đào Tràng và một số địa phương khác tiến đánh đồn Đức La thu 7 khẩu súng, phá kho thóc chia cho nhân dân. Ngay đêm hôm đó, tự vệ Song Khê phối hợp với tự vệ Cảnh Thụy bao vây tiến công huyện lỵ.

Khi tiến đến cổng huyện đường, ta bắn thị uy, binh lính hoảng sợ bỏ chạy. Một lính gác trước đó được ta tuyên truyền đã nhanh chóng mở cổng để quân ta tiến vào. Tri huyện Phùng Trọng Mưu chạy trốn ra ngoài cánh đồng, bị tự vệ bắt giải về huyện đường bắt nộp vũ khí, giấy tờ, sổ sách. Sau khi chiếm huyện lỵ, ta ra lệnh cho chánh tổng, lý trưởng trong toàn huyện mang nộp hết bằng triện, sổ sách cho chính quyền các mạng.

Như vậy, chỉ hơn một tháng sau cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hiệp Hòa (1- 6- 1945), lực lượng cách mạng đã lần lượt khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở các phủ huyện Việt Yên, YênThế, Lục Ngạn, Yên Dũng. Hệ thống chính quyền địch đang lung lay, tan rã, tạo điều kiện thuận lợi để Đảng bộ và nhân dân Bắc Giang tiến lê khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh.

Lúc này, tình hình thế giới và trong nước chuyển biến khá nhanh,

Ngày 9- 5- 1945, phát xít Đức đầu hàng quân Đồng Minh vô điều kiện.

Ngày 14- 8- 1945, phát xít Nhật hạ vũ khí đầu hàng quân Đồng Minh.

Chủ nghĩa phát xít đã hoàn toàn sụp đổ.

Quân đội Nhật ở Đông Dương như rắn mất đầu, hoang mang đến cực độ. Chính quyền bù nhìn đang tan rã. Thời cơ ngàn năm có một cho nhân dân ta đứng lên khởi nghĩa giành toàn bộ chính quyền đã đến.

Ngày 13- 8- 1945, Ủy ban khởi nghĩa ra lệnh tổng khởi nghĩa trong toàn quốc.

Từ ngày 13 đến ngày 15- 8- 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) chủ trương lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa.

Ngày 16, 17- 8- 1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào nhất trí tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng, quy định quốc kỳ, quốc ca và cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Ngay sau Đại Hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào, các đoàn thể cứu quốc, các cán bộ và chiến sĩ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” 10).

Ở Bắc Giang lúc này tình hình rất khẩn trương. Sau khi phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, Tỉnh trưởng Bắc Giang Nguyễn Ngọc Đĩnh một mặt bắn tin xin liên lạc với Việt Minh, mặt khác lại âm mưu giao chính quyền cho bọn Đại Việt.

Nắm được kế hoạch Tỉnh trưởng Bắc Giang sẽ trao chính quyền tỉnh cho bọn Đại Việt vào sáng ngày 18- 8- 1945, ngay tối 17- 8, cơ sở ở thị xã Phủ Lạng Thương đã kịp thời báo cho cán bộ của ta ở Song Khê. Khoảng 10 giờ đêm, đồng chí Hồ Công Dự và một số đồng chí khác đi dự Hội nghị do Tỉnh ủy triệu tập tại Yên Lý (Yên Thế) nhận được tin, ngay lập tức trở về Song Khê. Tại đây, quần chúng đã tập trung để chờ lệnh hành động. Tình hình biến chuyển quá nhanh, nếu không chớp thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền, chúng ta sẽ thất bại. Đồng chí Hồ Công Dự đã nhanh chóng triệu tập một cuộc họp cán bộ chủ chốt hai huyện Việt Yên, Yên Dũng tại đình Song Khê quyết định khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh trước khi Tỉnh trưởng Bắc Giang và bọn Đại Việt hành động. Hội nghị đề ra kế hoạch:

- Chọn một số tự vệ cùng 3 đồng chí Hồ Công Dự, Ninh Văn Phan và Trương Văn Nhã đột nhập vào dinh tỉnh trưởng, bắt Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Đĩnh đầu hàng.

- Huy động các đội tự vệ mai phục bên hữu ngạn sông Thương sẵn sàng nổ súng khi cần thiết.

- Huy động quần chúng biểu tình thị uy bên hữu ngạn sông Thương để uy hiếp địch.

- Gửi thư báo cho các đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Trọng Tỉnh, Hà Thị Quế nhanh chóng đem quân về tiếp viện đề phòng có xung đột vũ trang.

- Trung lập bọn Nhật.

Khoảng 4 giờ sáng ngày 18- 8- 1945, hai đồng chí Hồ Công Dự và Ninh Văn Phan dẫn đầu một đội tự vệ khoảng 6,7 người được trang bị vũ khí xuất phát từ đình Song Khê đột nhập vào dinh tỉnh trưởng lúc 6 giờ sáng. Vốn đã hoang mang lại ở vào một tình thế hoàn toàn bất ngờ không thể chống cự, Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Đĩnh buộc phải đầu hàng, nộp vũ khí và đích thân gọi chánh bảo an sang dinh tỉnh trưởng nhận lệnh đầu hàng Việt Minh. Chánh bảo an được lệnh, sang ngay dinh tỉnh trưởng. Sau khi nghe đồng chí Hồ Công Dự thuyết phục, hắn xin quy thuận, giao toàn bộ vũ khí và trại bảo an binh cho ta. Ta cử ngay lực lượng chiếm trại bảo an binh, thu gần 200 khẩu súng. Viên chánh bảo an và số đông anh em binh lính xin gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng. Lúc đó là 7 giờ sáng. Cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trên dinh tỉnh trưởng và trại bảo an binh. Ta ra cho lệnh cho Nguyễn Ngọc Đĩnh gọi điện thoại báo cho tên chỉ huy quân đội Nhật ở Bắc Giang biết tin Việt Minh đã khởi  nghĩa chiếm thị xã Phủ Lạng Thương và yêu cầu Nhật phải điều đình ngay với Việt Minh. Tình thế lúc này làm cho bọn Nhật không dám từ chối và phải ngồi vào bàn hội nghị chấp nhận những điều kiện do Việt Minh đưa ra:

- Việt Minh hoàn toàn làm chủ Tỉnh Bắc Giang, giữ gìn trật tự an ninh trong tỉnh.

- Quân Nhật đóng ở các nơi trong tỉnh phải rút về tập trung tại Cầu Lồ (Lục Ngạn) và Phủ Lạng Thương, không được mang vũ khí ra phố, không được vận chuyển thóc đi nơi khác.

Trong khi ta đang điều đình với Nhật, lực lượng tự vệ và quần chúng nhân dân các phủ huyện Lạng Giang, Việt Yên, Yên Thế, Yên Dũng, Hiệp Hòa từ các ngả đường tiến vào thị xã tuần hành thị uy. Cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ tràn ngập các ngả đường. Bộ máy chính quyền tay sai địch đã hoàn toàn bị đập tan. Khởi nghĩa giành chính quyền ở Bắc Giang đã hoàn toàn thắng lợi.

Sáng 19– 8– 1945, lực lượng khởi nghĩa chiếm phủ đường phủ Lạng Giang (tại phố Phủ, thị xã Phủ Lạng Thương, nay là phố Tiền Giang - thị xã Bắc Giang) thu 8 súng.

Tại Hữu Lũng, được tin Tỉnh trưởng Bắc Giang đã đầu hàng Việt Minh, chính quyền đã về tay nhân dân, tri châu Lã Văn Lô hoảng sợ đã tìm gặp Việt Minh xin trao chính quyền. Ngày 19– 8 - 1945, lực lượng vũ trang của ta tấn công đồn Mẹt, dùng loa kêu gọi binh lính hạ vũ khí đầu hàng. Trước khí thế hừng hực của lực lượng cách mạng, binh lính trong đồn không dám chống cự, hạ vũ khí đầu hàng. Tri châu Lã Văn Lô giao toàn bộ sổ sách, ấn tín cho quần chúng cách mạng.

Ngày 21- 8- 1945, tại sân vận động thị xã Phủ Lạng Thương, Tỉnh ủy tổ chức một cuộc mít tinh khổng lồ có hàng ngàn người dự. Tại cuộc mít tinh, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Bắc Giang do đồng chí Nguyễn Thanh Bình làm Chủ tịch đã ra mắt nhân dân. Tiếng hò reo, tiếng hô ủng hộ Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời vang lên như sấm dậy.

Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Bắc Giang đã đập tan ách thống trị thực dân ngót một trăm năm, chế độ phong kiến hàng ngàn năm góp phần cùng nhân dân cả nước lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa cách mạng nước ta bước sang một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

___________

1. Nay là phố Quang Trung.

2. Văn Kiện Đảng 1930 – 1945, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1977, t.3, tr.47.

3. Báo Dân chúng là cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng ta trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939) đặt tại Sài Gòn. Ngày 7/3 và 19/4/1939, thực dân Pháp khám xét và bắt hầy hết nhân viên tòa soạn.

4. Một tổ chức phản động được lập ra ở nước ngoài.

5. Sửa soạn khởi nghĩa, Chỉ thị của Tổng bộ Việt Minh, ngày 7/5/1944. Văn kiện Đảng 1930-1945, Ban Nghiên cứu lịch sử đảng Trung ương, 1977, t.II, tr.496.

6. Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, Văn kiện Đảng 1939-1945. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, tr 474.

7. Tỉnh Bắc Giang

8. Nguyên là tri huyện Yên Dũng, chuyển về Việt Yên sau vụ y bị quần chúng cách mạng Cảnh Thụy phục bắt cáo ngày 17-3-1945.

9. Nguyên là tri huyện Yên Dũng, chuyển về Việt Yên sau vụ y bị quần chúng cách mạng Cảnh Thụy phục bắt cáo ngày 17-3-1945.

10. Hồ Chí Minh, tuyển tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, t.I, tr.348.