- Hồ Chí Minh với quyền con người – TS. Nguyễn Đức Thuỳ

Cập nhật lúc 15h43  -  Ngày 12/10/2016

share facebookgửi emailin bài này

TS. Nguyễn Đức Thùy

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh 

Hồ Chí Minh là một trong những vĩ nhân hàng đầu của thế kỷ XX đã đóng góp to lớn vào giải quyết các vấn đề quyền con người, giải phóng con người, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và là người đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển dân chủ và nhân quyền Việt Nam trong thời đại cách mạng chống đề quốc thực dân, phong kiến giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Tư tưởng nhân quyền của Người là kim chỉ nam về lý luận và thực tiễn cho hoạt động của Đảng và Nhà nước ta trong suốt 80 năm qua. Tìm hiểu đóng góp của Người về nhân quyền là cần thiết, quan trọng.

1. Đầu thế kỷ XX, lúc 12-13 tuổi, Hồ Chí Minh không chỉ biết đến các khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái qua sách vở, mà còn chứng kiến các phong trào chịu ảnh hưởng to lớn của các khẩu hiệu cách mạng tiến bộ đó ở Việt Nam. Các phong trào Duy tân, Đông kinh Nghĩa Thục, phong trào Đông Du... diễn ra sôi sục khắp Bắc, Trung, Nam trong các năm 1906-1908, thu hút nhiều tri thức trẻ tuổi. Phong trào Đông Du  do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo với tôn chỉ giành độc lập dân tộc, thiết lập chế độ cộng hòa đại nghị tư sản bằng bạo động vũ trang và phong trào cải cách  của cụ Phan Chu Trinh và nhiều bậc chí sĩ khác với chủ trương đấu tranh hòa bình: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” đều bị thực dân Pháp câu kết với chế độ phong kiến đàn áp thẳng tay.  Năm 1908, Cụ Phan Bội Châu bị trục xuất khỏi Nhật, Cụ Phan Chu Trinh bị bắt và ba năm lưu đày Côn Đảo. Chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân khổ cực, lầm than... năm 1911, nhà yêu nước trẻ tuổi Nguyễn Tất Thành  đã quyết tâm đi tìm hiểu  những gì ẩn giấu dưới những từ tự do, bình đẳng, bác ái ngay tại các cường quốc Pháp, Anh , Mỹ... quê hương của các Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền và các cuộc cách mạng nổi tiếng toàn thế giới.

Từ 1919, Người đã đi và đến sống tại Mỹ, Anh, Pháp và  nhiều nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ, tận mắt chứng kiến cuộc sống thực tế của các tầng lớp nhân dân khác nhau ở các nước  thuộc địa và các nước tự gọi là văn minh. Thực tiễn phong phú giúp Người nhận thức sâu sắc nhiều vấn đề mới. Người thấy rõ: Nhân dân lao động, dù là da vàng, da trắng hay da đen đều bị tước đi những quyền và tự do cơ bản của họ. Tại các nước thuộc địa đâu đâu người lao động cũng bị chủ nghĩa thực dân đầy ải trong tủi nhục, đói nghèo, bị bóc lột, áp bức dã man. Ở các nước tư bản phát triển cũng có hai loại người: tầng lớp trên sống xa hoa, thừa thãi, còn đa số nhân dân lao động sống trong nghèo khổ, bần hàn. Từ những nhận thức quan trọng này, Người tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội: không chỉ tham gia Hội nhân quyền dân quyền Pháp, Hội những người Việt Nam yêu nước, mà còn gia nhập Đảng Xã hội Pháp.

Năm 1919 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng về tư tưởng chính trị của Nguyễn Tất Thành - Nguyến Ái Quốc. Bản Yêu sách tám điểmđòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam gửi Hội nghị Vécxây bị các cường quốc Mỹ, Anh, Pháp...bác bỏ đã cho Người thấy rõ trò bịp bợm của chủ nghĩa Uynxơn. Người đi đến kết luận rằng chủ nghĩa đế quốc thực dân không hề muốn trao quyền tự quyết cho các dân tộc thuộc địa, chia xẻ các thành quả tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân quyền cho nhân dân lao động. Các dân tộc không thể trông chờ sự ban ơn của chủ nghĩa đế quốc, mà phải tự đấu tranh để giành lấy độc lập dân tộc, phải làm cách mạng. Vứt bỏ ảo tưởng vào sự ban ơn của chủ nghĩa đế quốc và các trò lừa bịp bằng các mỹ từ tự do, bình đẳng, Nguyễn Ái Quốc quyết tâm tìm kiếm con đường cứu nước khác triệt để hơn, thực tế và khả quan hơn.  Luận cương của Lê nin về các dân tộc thuộc địa, đường lối của Quốc tế cộng sản về ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc đã thúc đẩy Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản và là người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920, Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930.

2. Trở thành người cộng sản, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa tích cực tham gia hoạt động cách mạng thực tiễn, Hồ Chí Minh đã nhận thức đầy đủ, toàn diện hơn và phát triển phong phú hơn các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người và giải phóng con người trong thời đại cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người cộng sản Hồ Chí Minh không bác bỏ giá trị nhân quyền như những người cộng sản tả khuynh, cũng không sùng bái nhân quyền như những người dân chủ xã hội cánh hữu. Người coi tự do, dân chủ, nhân quyền là những giá trị cao quý, là lý tưởng phấn đấu của những người cộng sản, nhưng phê phán mạnh mẽ sự hạn chế của nhân quyền tư sản, sự lợi dụng các  khẩu hiệu nhân quyền để lừa bịp, áp bức nhân dân lao động. Phê phán và bác bỏ tính nửa vời, thiếu triệt để của chế độ dân chủ, nhân quyền tư sản, Người  kêu gọi  thiết lập hình thức nhân quyền mới, cao hơn của công nông cách mạng, Người viết: 

Việc ta ta phải tự lo

Chẳng nhờ trời phật, chẳng nhờ thần linh

Công nông mình cứu lấy mình

Sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền

Muốn cho đánh đổ cường quyền

Tự do, bình đẳng vẹn tuyền cả hai”1

Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành  hai cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân, phong kiến, Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người ở đất nước ta, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng, hòa bình và tiến bộ của các dân tộc trên toàn thế giới. Tư tưởng nhân quyền của Hồ Chí Minh được tiếp tục phát triển trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, được bồi bổ ngày càng dày hơn các tư tưởng nhân quyền tinh hoa của nhân loại, của các dân tộc  Đông, Tây kim cổ. Trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 Người trích dẫn bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng của Pháp và Tuyên ngôn độc lập của Mỹ. Người tự nhận là một học trò nhỏ của đức Phật, chúa Giê su, Các Mác, Tôn Trung Sơn... trong việc mưu cầu tự do, hạnh phúc cho nhân loại. Chính vì đứng trên vai những người khổng lồ ấy, tư tưởng nhân quyền của Người vượt cao so với nhiều người đương thời, hoàn bị hơn, thực tiễn hơn, phù hợp hơn với yêu cầu của cuộc đấu tranh giải phóng triệt để vì hạnh phúc con người.

3. Đối với Người, các quyền con người cơ bản: quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền bình đẳng... trong các Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 là những lời bất hủ”, những lẽ phải không ai chối cãi được”. Bọn đế quốc thực dân và bọn bồi bút luôn khoe khoang về khai hóa văn minh”, đem tự do, bình đẳng, bác ái, nhân từ, khoan dung, công bằng, tiến bộ...cho các dân tộc thuộc địa. Tự do, các quyền con người của các cá nhân không thể có được trong các nước thuộc địa, phụ thuộc. Thực tiễn lịch sử Việt Nam dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và của nhiều nước thuộc địa khác cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã chứng minh rõ điều đó. Chủ nghĩa thực dân là một vết nhơ, đáng xấu hổ trong lịch sử nhân loại. Kiểm nghiệm thực tế đó khắp năm châu và Việt Nam, Người chỉ rõ:  bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành các luật pháp dã man... Chúng lập nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm nòi giống ta suy nhược... Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta sơ xác, tiêu điều... Chúng bóc lột công nhân ta vô cùng tàn nhẫn...Cuối năm ngoái sang đầu năm nay hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”.2

Các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương  do Người  biên soạn trong những năm 1920 là những cuốn sách trắng về những tội ác chồng chất chà đạp lên quyền con người, quyền làm người ở Việt Nam và các thuộc địa.  Dưới chế độ thực dân, người bản xứ bị đối xử như những nô lệ ” hiện đại, những dân tộc dã man”, hạ đẳng”, giống như súc vật”. Tất cả lịch sử các cuộc xâm chiếm thuộc địa từ đầu đến cuối đều viết bằng máu người bản xứ. Các cuộc khai hóa văn minh mà người châu Âu tự khoe khoang thực chất là cuộc khai hóa giết người để làm giàu cho chính quốc.  Ở  các thuộc địa các châm ngôn tự do, bình đẳng, bác ái chỉ là các mỹ từ sáo rỗng được bọn thực dân sử dụng để che đậy cho sự xấu xa của chế độ bóc lột, giết người. Không hề có pháp luật, công lý bênh vực người bản xứ. Trích dẫn lời một quan chức Pháp, ông Vinhê Đốctông: Pháp luật, công lý đối với người bản xứ ư? Thôi đi! Chỉ có ba toong, súng ngắn, súng dài mới là những thứ xứng đáng với lũ dòi bọ ấy”, Người kết luận: “Chưa bao giờ ở một thời đại nào, người ta lại vi phạm quyền làm người một cách độc ác, trơ tráo đến thế"3. Chính vì vậy, trong thư gửi Anbe Xarô năm 1922, Người  viết:Cái mà tôi cần nhất trên đời là  đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”4.

4. Tự do là lý tưởng cao quý, nhưng  luôn gắn chặt với độc lập dân tộc. Tự do của mỗi con người không tồn tại một mình, tách rời tự do của nhân dân, quyền của mỗi người không thể tách khỏi quyền của cộng đồng. Một dân tộc nô lệ không thể có con người tự do. Tự do không thể có được nếu không có độc lập dân tộc. Độc lập dân tộc vừa là quyền tự do tập thể, vừa là tiền đề tiên quyết, điều kiện cần phải có để bảo đảm tự do cho mỗi cá nhân và cho mọi người dân. Đấu tranh giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cách mạng trước tiên để bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. Dân tộc đi áp bức và dân tộc bị áp bức đều là các dân tộc không có tự do, không bình đẳng. Chính vì vậy, Người trịnh trọng tuyên bố trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945: Các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Việc đề ra các quyền cơ bản của các dân tộc và gắn chặt quyền con người với độc lập dân tộc, quyền tự quyết dân tộc là một cống hiến lý luận to lớn của Hồ Chí Minh vào kho tàng tư tưởng nhân quyền của nhân loại. Mãi đến năm 1966, sau hơn 20 năm đấu tranh tại Liên hợp quốc, quyền dân tộc tự quyết, quyền dân tộc độc lập mới được quy định trong điều 1 của các Hiệp ước quốc tế về các quyền  dân sự, chính trị, về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội. Tư tưởng Không có gì quý hơn độc lập tự  do” là  chân lý lớn của thời đại, được thừa nhận trên toàn thế giới. Sự ra đời của hơn một trăm quốc gia độc lập trẻ tuổi trong thế kỷ XX là thắng lợi của thời đại giải phóng dân tộc, một tiến bộ lịch sử to lớn của nhân loại. Các dân tộc bị áp bức, bóc lột giành lại quyền sống, quyền độc lập, quyền tự do, quyền dân chủ và phát triển, bình đẳng sánh vai với các cường quốc năm châu.

5. Ngay từ những năm 1920, Người đã thấy rõ công lao và hạn chế lịch sử của các cuộc cách mạng Anh, Pháp, Mỹ đối với sự nghiệp giải phóng con người và hiện thực hóa quyền con người. Người chỉ ra rằng các cuộc cách mạng ấy là các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, các cuộc cách mạng biết giương cao ngọn cờ nhân quyền với các khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái nên đã huy động được nhân dân đứng lên lật đổ chế độ quân chủ phong kiến tàn bạo, lập nên chế độ cộng hòa, mở đầu cho sự nghiệp giải phóng con người. Nhưng cũng từ rất sớm, Người thấy rõ những hạn chế của các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ. Những khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái mà bọn thực dân tuyên truyền chỉ là bánh vẽ, trò lừa bịp lớn. Trong cuốn Đường Cách mệnh Người viết: “Tư bản nó dùng Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân”5. Người thấy rõ những hạn chế của cách mạng tư sản: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa dân chủ, kỳ thực trong nước thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh một lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức…”6; “Mỹ tuy cách mệnh thành công 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo cách mạng lần thứ hai”7.  Người thấy rõ các cuộc cách mạng đó chỉ đem lại tự do, hạnh phúc cho một thiểu số người, chưa đem lại độc lập, tự do chân chính cho các dân tộc thuộc địa, cho đa số nhân dân lao động. Dưới chế độ tư bản vẫn còn đầy rẫy bất công xã hội, ách áp bức, bóc lột. Người cũng thấy rõ: độc lập, tự do là cần thiết nhưng chưa đủ để cho nhân dân hạnh phúc... Tự do, hạnh phúc không phải chỉ dành cho số ít, mà cho toàn xã hội, cho loài người mới là những giá trị siêu việt mà đức Phật, chúa Giêsu, Các Mác, Tôn Dật Tiên ... và Người theo đuổi. Bác bỏ con đường cách mạng tư sản Pháp, Mỹ vì chúng không đem lại quyền cho dân chúng số nhiều và hạnh phúc cho đa số nhân dân, Người lựa chọn đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga. Người chỉ rõ, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công và thành công đến nơi vì “dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thực sự, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”8. Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tin theo chủ nghĩa cộng sản, Người khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng các dân tộc và nhân dân lao động khỏi ách nô lệ. Bản chất của chủ nghĩa xã hội là nhân đạo, nên nó tôn trọng và bảo vệ các quyền con người. Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó bằng chủ nghĩa xã hội vì nó là chế độ xã hội không có người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được ấm no, hạnh phúc. Đó là con đường cách mạng triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại thoát khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, đáp ứng tốt nhất các quyền tự do và phát triển của con người, đem lại hạnh phúc cho đa số nhân dân. Sau khi nước nhà giành được độc lập, Người cũng nhấn mạnh: "Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì"9. Gắn chặt  tự do, độc lập với hạnh phúc của con người, của đại đa số nhân dân, gắn chặt cuộc đấu tranh giải phóng con người với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm nền tảng để bảo đảm triệt để các quyền con người, giải phóng con người là một tư tưởng cốt lõi  xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh và sự lựa chọn đúng đắn của cách mạng Việt Nam. Đây cũng là kinh nghiệm và đóng góp lớn vào kho tàng tư tưởng nhân quyền của nhân loại.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và lãnh đạo ngay từ khi ra đời năm 1930 đến nay luôn đấu tranh không mệt mỏi cho lý tưởng quyền con người, độc lập dân tộc và giải phóng con người, cho tự do, dân chủ, dân sinh, công bằng và tiến bộ xã hội. Trong Chính cương vắn tắt của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo ghi rõ chủ trương của Đảng là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản”. Cuộc cách mạng này có nhiệm vụ đánh đổ đế quốc Pháp, giải phóng dân tộc, đem lại độc lập cho Tổ quốc và mọi quyền tự do cho nhân dân: dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền,  phổ thông giáo dục, thực hiện ngày làm 8 giờ, thủ tiêu hết các thứ quốc trái, miễn thuế và chia đất cho dân cày nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp v.v... Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là cuộc đấu tranh giành những quyền cơ bản của con người, giành độc lập tự do, quyền tự quyết dân tộc, thực hiện lý tưởng và tư tưởng quyền con người tiên tiến của thời đại. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1975, sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tạo ra tiền đề cơ bản cần thiết để thực hiện và phát triển quyền con người một cách toàn diện. Bảo đảm và phát triển quyền con người ở Việt Nam hiện nay gắn liền với xây dựng và phát triển chế độ xã hội mới – xã hội chủ nghĩa.

7. Tư tưởng xây dựng “Kinh dinh nhân quyền” của  Nhà nước Việt Nam mới của Hồ Chí Minh rất phong phú và toàn diện, thể hiện trong các nguyên tắc hiến định và pháp luật của Nhà nước Việt Nam - Nhà nước cộng hòa, dân chủ xã hội chủ nghĩa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Hàng loạt các tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam bảo vệ quyền con người, quyền công dân được đề ra và áp dụng trong thực tiễn xây dựng và phát triển chế độ mới từ 1945 đến nay.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam mới của  nhân dân dưới hình thức "Ủy ban dân tộc giải phóng" do Đại hội quốc dân họp ở Tuyên Quang ngày 13-8-1945 bầu ra, sau đó được cải tổ thành "Chính phủ lâm thời" để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, cũng có thể nói là của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã thể hiện rõ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền con người. Trong mười chính sách, đáng chú ý có những chính sách thể hiện nổi bật và trực tiếp các quyền và tự do của con người: "Ban bố những quyền của dân: a) nhân quyền; b) tài quyền (quyền sở hữu); c) dân quyền (quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ, quyền tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại, quyền bình đẳng dân tộc, nam nữ) (chính sách thứ 5); "xây dựng nền quốc dân giáo dục; chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp, kiến thiết nền văn hóa mới" (chính sách thứ 9)10.    

Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo và chỉ đạo xây dựng nhà nước kiểu mới theo nguyên tắc pháp quyền. Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 3-9-1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ để đề ra những nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm vụ ban hành Hiến pháp để bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân. Người viết: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ… Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiều. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”11.

Bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử dân tộc do Người làm Trưởng ban soạn thảo đã được Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946. Ngay trong lời nói đầu đã xác định: “Bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân” là một trong những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp. Hiến pháp năm 1946 đã dành Chương 2 quy định quyền lợi và nghĩa vụ của công dân gồm 18 điều quy định khá đầy đủ các quyền dân sự, chính trị cũng như các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của nhân dân. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn vì sau đó 20 năm Liên hiệp quốc mới khẳng định các quyền này trong hai công ước quốc tế và hiện nay nhiều nước còn chưa thừa nhận các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa như những quyền con người cơ bản.

Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, hệ thống các quyền con người ngày càng được mở rộng trong các bản Hiến pháp tiếp theo. Điều đặc biệt cần nhấn mạnh ở đây là tư tưởng dân chủ, nhân quyền được Người vận dụng triệt để và nhất quán trong suốt quá trình xây dựng nhà nước kiểu mới và hệ thống pháp luật dân chủ. Về mặt nhà nước, phải nắm vững bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam mới:

“NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra”12.

Nhận thức tầm quan trọng của việc nhân dân tham gia công việc nhà nước, làm chủ Nhà nước, điều quan trọng nhân dân phải hiểu được các hoạt động của nhà nước, nên ngay khi xây dựng Hiến pháp năm 1946, Người đã đặt ra thiết chế dân chủ, rằng: “Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng sau này, Người luôn khẳng định nguồn gốc quyền lực nhà nước là ở nhân dân; Nhà nước chỉ là cơ quan đại diện được nhân dân trao quyền, nghĩa là quyết định cuối cùng vẫn là ở nhân dân. Những quyền hiến định và các nguyên tắc nhân quyền như bình đẳng, tự do, tôn trọng nhân phẩm của Hiến pháp 1946 vẫn giữ nguyên giá trị và được kế thừa trong các Hiến pháp 1959, 1980, 1992.

Việc thực hiện bảo đảm quyền con người một phần quan trọng tùy thuộc vào hệ thống pháp luật và đội ngũ cán bộ, công chức ngành tư pháp. Là người sáng lập Nhà nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến xây dựng nền pháp chế của quốc gia, đặc biệt là xây dựng hệ thống pháp luật bảo vệ công lý, quyền con người. Lãnh đạo bởi tư tưởng "Trăm điều phải có thần linh pháp quyền", Người đã hai lần đứng đầu Ủy ban soạn thảo Hiến pháp (Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959), ký và công bố 16 đạo luật, 613 sắc lệnh và nhiều văn bản dưới luật khác. Hồ Chí Minh đề cao tính nghiêm minh pháp luật, đòi hỏi pháp luật đó phải xuất phát từ con người, kết hợp chặt chẽ với đạo đức, với tình thương và sự khoan dung, nhân đạo. Người viết: “nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp cũng như mọi vấn đề khác trong lúc này là vấn đề ở đời và làm người”.

Khẳng định "NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, nên bảo đảm cho dân hưởng quyền tự do dân chủ, quyền con người là trách nhiệm của Nhà nước, mà cụ thể các cơ quan và cán bộ của Nhà nước. Người viết: “Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc…Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đềy là công bộc của nhân dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho đân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”13. “Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân phải tránh”14Trong quan niệm phổ biến của cộng đồng quốc tế việc bảo đảm quyền con người chỉ thuộc trách nhiệm của nhà nước, các cơ quan tư pháp, đặc biệt là toà án. Đối với Hồ Chí Minh, bảo đảm quyền con người còn thuộc về trách nhiệm của Đảng và các tổ chức xã hội, tức là trách nhiệm của tất cả các tổ chức hợp thành hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm chính thuộc về Đảng và Nhà nước. Người nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng và Chính phủ: "Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”15.

Để hiện thực hóa  tất cả các quyền con người Nhà nước cần phải  phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm các quyền có việc làm, ăn, ở, mặc, đi lại, học hành, nghỉ ngơi, chữa bệnh, chăm sóc người già, trẻ em, phụ nữ,... cải thiện ngày một tốt hơn  đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân. Chế độ kinh tế và xã hội của chủ nghĩa xã hội, theo Người, nhằm thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân” là, làm cho dân giàu, nước mạnh”, làm cho mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”, là công bằng, hợp lý. Xây dựng chủ nghĩa xã hội không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động chính là thực hiện trên thực tế sự nghiệp giải phóng con người theo lý tưởng nhân văn  tiến bộ của nhân loại.

Tư tưởng nhân quyền của Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục soi sáng con đường đấu tranh và bảo vệ quyền con người trong thời đại hiện nay. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã khẳng định quan điểm nhất quán của mình: “Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người”. Đó vừa là mục tiêu, đồng thời cũng là động lực phát triển của xã hội Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh./.

___________

Chú thích:

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.2, tr.491.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.1-2.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.1, tr.383.

4. Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2006, t.1, tr.172.

5,6,7,8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.2, tr.272, 274, 270, 280.

9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.56.

10. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị Quốc gia, H.2000, t.7, tr.425-426.

11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.133.

12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr. 698.

13,14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.56, 22

15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.7, tr.572.