Chương IV - ĐẤU TRANH BẤT KHUẤT TRONG LAO TÙ ĐẾ QUỐC Ở CÔN ĐẢO (1930 - 1945)

Cập nhật lúc 15h45  -  Ngày 12/10/2016

share facebookgửi emailin bài này

ĐẤU TRANH BẤT KHUẤT TRONG LAO TÙ ĐẾ QUỐC Ở CÔN ĐẢO

(1930-1945)

Bị đế quốc Pháp bắt ở Sài Gòn, với án tù 20 năm khổ sai, Tôn Đức Thắng bị đày ra Côn Đảo. Tính đến cuối năm 1930 số tù nhân ở Côn Đảo lên tới 1.992 người. ''Tù chính trị lúc này mới có khoảng hơn 300 người mà phần đông là Việt Nam Quốc dân đảng bị cấm cố trong Banh II. Hơn 1.600 tù nhân còn lại tập trung ở Banh I và các sở tù khổ sai"l. Nhiều đảng viên cộng sản trong đó có Tôn Đức Thắng bị kết án khổ sai cũng bị giam chung với tù thường phạm ở Banh I, nơi chuyên giam giữ tù lưu manh, trộm cắp, đã nhiều lần mang án. Đây là một thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp mượn bàn tay của những tên tù anh chị nhằm tiêu diệt những người cộng sản.

Tôn Đức Thắng mang số tù 5289-T.F (Travaux Forcés)2 một ghi chú trong hồ sơ ''phần tử nguy hiểm''  (Sujet dangereux). Vì vậy, Tôn Đức Thắng không phải đi làm những công việc khổ sai như những người khác, mà chỉ làm những công việc trong banh. Với bản tính hiền lành, chân chất và khéo léo của một người thợ, với hiểu biết rộng rãi của một người từng trải và thạo tiếng Pháp, Tôn Đức Thắng đã nhanh chóng cảm hoá được các loại tù nhân trong banh. Họ gọi Tôn Đức Thắng bằng một cái tên thân mật: Anh Hai Thắng.

Sau trận bão lớn năm 1930, một số tù cộng sản đã chuyển từ Banh II sang Banh I, trong đó có các đồng chí như Tống Văn Trân, Nguyễn Hớt, Tạ Uyên... Từ đây, Tôn Đức Thắng có thêm các đồng chí của mình. Là một người đã có kinh nghiệm trong tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã bàn và cùng với những người cộng sản thành lập Hội những người tù đỏ làm hạt nhân lãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù. Lúc đầu Hội có những hạt nhân tích cực như Nguyễn Hới, Tống Văn Trân, Tạ Uyên, Nguyễn Văn Hoan, Trần Văn Sửu (Trần Học Hải), Phan Văn Bảy (Bảy Cùi)…, tất cả nhất trí đề nghị Tôn Đức Thắng làm Hội trưởng3.

Với bản chất người cộng sản, nhiều tù chính trị trong số đó có Tôn Đức Thắng, luôn có lập trường chính trị vững vàng, nung nấu ý chí cách mạng, nghĩ tới tổ chức và đấu tranh là một vũ khí sắc bén. Vấn đề thành lập chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo trong nhà tù, được những người cộng sản thảo luận sôi nổi với nhiều vấn đề mới nảy sinh. Nhưng cuối cùng đa số ý kiến đã thống nhất: "Bất cứ ở đâu và trong hoàn cảnh nào người cộng sản cũng phải không ngừng hoạt động cách mạng; nơi nào có người cộng sản là ở đó cần có tổ chức Đảng để giáo dục đảng viên, giác ngộ quần chúng và lãnh đạo đấu tranh; vào tù không phải là nằm im chờ đợi hay bó tay chịu chết; ngay ở Côn Đảo cũng phải tiếp tục đấu tranh cách mạng và cần phải có tổ chức Đảng làm hạt nhân lãnh đạo''4. Trên cơ sở nhóm hạt nhân đã được hình thành cuối năm 1931, khoảng đầu năm 1932 chi bộ Đảng ở Côn Đảo được thành lập tại khám Chỉ Tồn, Banh I, lúc đầu có chừng 20 đảng viên do Nguyễn Hội làm Bí thư, chi uỷ gồm Tôn Đức Thắng, Tống Phúc Chiểu, Tạ Uyên, Tống Văn Trân...5Tôn Đức Thắng là một trong số những người sáng lập chi bộ đầu tiên ở nhà tù Côn Đảo và giữ một địa vị lãnh đạo quan trọng mãi cho đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Chi bộ xác định những nhiệm vụ chủ yếu:

- Lãnh đạo đấu tranh trong tù;

- Giáo dục, bồi dưỡng lý luận cho nhau;

- Tuyên truyền, giác ngộ binh lính, giám thị;

- Liên hệ với Đảng ở đất liền và tổ chức trốn tù.

Để khẳng định vai trò lãnh đạo, tập hợp đoàn kết lực lượng, chi bộ đã có phân công từng đồng chí trong chi uỷ phụ trách các công việc cụ thể. Tôn Đức Thắng được chi uỷ cử phụ trách Hội những người tù đỏ và giao thông liên lạc. Tôn Đức Thắng chịu trách nhiệm tổ chức đường dây liên lạc giữa Côn Đảo với đất liền, và trực tiếp phụ trách đường dây liên lạc giữa Banh I và Banh II.

Chi bộ đã xuất bản bí mật và lưu hành tờ báo Ý kiến chung nhằm tuyên truyền, chỉ đạo các hoạt động của những người tù cộng sản, tập hợp quần chúng đoàn kết đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù. Ban biên tập của tờ báo được đặt tại khám 9 Banh I, nơi Tôn Đức Thắng bị giam giữ. Tôn Đức Thắng đã đóng vai trò quan trọng cho sự ra đời và tồn tại của tờ Ý kiến chung và sau đó là tờ Tiến lên. Anh viết bài, bí mật tiếp xúc phát hành báo đến các banh khác an toàn, qua đó lắng nghe ý kiến, thu thập bài về cho ban biên tập. Do đó, báo Ý kiến chung đã phản ánh được nguyện vọng của tù nhân ở Côn Đảo và trở thành tiếng nói chung của họ. Tờ báo đã đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất tư tưởng và hành động của những người tù cộng sản ở nhà tù Côn Đảo.

Trong một lần liên lạc giữa Banh I và Banh II khoảng cuối năm 1932 đầu năm 1933, bọn gác ngục phát hiện được Tôn Đức Thắng và phạt giam ở Hầm xay lúa.

Hầm xay lúa là địa ngục của địa ngục, một hình thức cực hình đối với tù nhân, địch gọi là "Khu trừng giới'' (quartier diciplinaire). Điều hành trực tiếp trong Hầm xay lúa là một "cặp rằng'' (caporal) chính và 4 cặp rằng phụ.

Tôn Đức Thắng vào Hầm xay lúa được ít hôm thì được chỉ định làm cặp rằng chính. Đây là âm mưu thâm độc của bọn gác ngục muốn dùng tay của bọn tù ''anh chị" để hành hạ và giết Tôn Đức Thắng. Hiểu được ý đồ thâm độc này, Tôn Đức Thắng đã tập hợp một số đồng chí cộng sản cũng bị đày ở Hầm xay lúa lúc bấy giờ bàn cách nhân dịp này nắm lấy quyền lực để cải thiện đời sống và điều kiện làm việc cho những bạn tù ở Hầm xay lúa.

Bằng những kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình, Tôn Đức Thắng đã cải tạo chế độ và tổ chức lại cách làm việc ở Hầm xay lúa, bỏ lối cai quản người tù bằng roi vọt, sắp xếp, phân công để tất cả mọi người đều làm việc theo điều kiện sức khoẻ. Những người yếu được bố trí vào kíp sàng gạo và đóng bao, người khoẻ thì xay và khuân vác thóc. Kíp đứng cối nặng nhọc nhất được bố trí thêm người, thay nhau người làm, người nghỉ. Tôn Đức Thắng không bắt tù xay nhiều thóc, không hề đánh tù, mà ôn tồn chỉ bảo cho từng người cách làm việc, cách cư xử với nhau, giác ngộ, giáo dục, cảm hoá tù nhân. Tôn Đức Thắng là một trong những người tổ chức ra Hội cứu tế tù nhântrong Hầm xay lúa. Hội có nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như chăm sóc người ốm, nấu thêm cơm. Buổi tối tổ chức học văn hoá, nói chuyện truyền thống, giáo dục lòng yêu nước cho tù thường. Không khí thân tình, đoàn kết, học tập và giúp đỡ lẫn nhau dần dần thay thế cho bạo lực, thù hằn, chia rẽ. Chính Tôn Đức Thắng và những người tù chính trị trung kiên đã đưa lại sự thay đổi lạ đời trong hầm xay lúa, cải tạo "địa ngục trần gian''. Nguyễn Duy Trinh kể lại: "Tôi mến phục tinh thần bình đẳng, dân chủ thực sự, tính thật thà cầu chân lý của người đồng chí lớn tuổi. Được gần gũi anh Thắng ở Khám Lớn (Sàn Gòn) cũng như sau này ở Hầm xay lúa Côn Đảo, tôi cũng như tất cả mọi anh em bao giờ cũng quý yêu ở đồng chí đức khiêm tốn rất cao, tấm lòng ngay thẳng độ lượng, ý thức tập thể vững chắc"6. Hết hạn ở Hầm xay lúa, Tôn Đức Thắng lại về với Banh I, để lại những dấu ấn sâu đậm về nhân cách của một người cộng sản. Những người cộng sản như Tôn Đức Thắng không chỉ thích nghi với hoàn cảnh, mà hơn thế nữa còn cải tạo hoàn cảnh theo những khả năng tốt nhất có thể của mình.

Khoảng tháng 5-1933 gần 100 tù cộng sản từ Khám Lớn (Sài Gòn) bị đày ra Côn Đảo sau vụ án 121 đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương gây chấn động dư luận. Tháng 12-1933, thực dân Pháp đày 200 tù chính trị ở Sơn La và Hoả Lò (Hà Nội) ra Côn Đảo. Khi mới ra, tất cả bị giam ở Banh I. Từ đó chi bộ Chỉ Tồn Banh I có thêm nhiều cán bộ lãnh đạo xuất sắc như Ngô Gia Tự, Phạm Hùng, Nguyên Công Khuông (Lê Văn Lương), Lê Quang Sung, Nguyễn Chí Diểu, Trần Quang Tặng, Nguyễn Văn Nguyễn... Ngô Gia Tự được cử làm Bí thư chi bộ*.

Tôn Đức Thắng tích cực tham gia những cuộc thảo luận, tranh luận về vấn đề đấu tranh trong tù. Cuối cùng những người cộng sản đã thống nhất xác định, đấu tranh trong tù là một bộ phận trong toàn bộ cuộc đấu tranh cách mạng nhằm chống chế độ lao tù hà khắc, bảo vệ sinh mạng, duy trì tinh thần chiến đấu và rèn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ cho Đảng.

Chi bộ Chỉ Tồn Banh I sau khi được tăng cường lực lượng đã tích cực củng cố Hội tù nhân và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc đấu tranh. Sau nhiều lần thảo luận ở các khám và các sở tù, mùa hè năm 1934 một cuộc Hội nghị đại biểu tù nhân đã được triệu tập bí mật. Thay mặt cho hơn 300 hội viên, các đại biểu đã quyết định đổi tên Hội người tù đỏ thành Hội tù nhân thống nhất. Do được chuẩn bị chu đáo và bí mật, các đại biểu thảo luận trong hai tiếng đồng hồ và đi đến thống nhất một số vấn đề thuộc tôn chỉ, mục đích của Hội, thể hiện tính quần chúng rộng rãi:

''1. Giúp đỡ nhau trong lúc đau yếu và trong việc làm (khổ sai);

2. Đấu tranh đòi cải thiện sinh hoạt và giảm nhẹ khổ sai;

3. Tổ chức học tập văn hoá''7.

"Tôn Đức Thắng được chi uỷ cử phụ trách Hội tù nhân; Ngô Gia Tự, Nguyễn Hới, Trần Quang Tặng được bầu vào Ban lãnh đạo chung toàn đảo"8.

Năm 1934, sau khi rời khỏi Hầm xay lúa, Tôn Đức Thắng làm việc tại Sở Lưới, vừa sửa máy vừa lái canô. Tại đây, Tôn Đức Thắng tiếp tục phụ trách đường dây liên lạc giữa chi bộ Chỉ Tồn và cơ sở Đảng các banh, các sở tù, bảo đảm đường dây liên lạc với đất liền và các thuỷ thủ Pháp, Việt chạy tàu viễn dương. Sở Lưới, với vai trò của Tôn Đức Thắng trở thành trung tâm giao liên quan trọng của tổ chức Đảng ở Côn Đảo và là đầu mốt để tổ chức cho cán bộ, đảng viên bị tù ở Côn Đảo trốn về hoạt động trong đất liền. Qua địa chỉ Sở Lưới do Tôn Đức Thắng phụ trách, mạch máu liên lạc được bảo đảm, tình hình, tin tức đấu tranh trên toàn đảo được chi bộ Chỉ Tồn nghiên cứu để nhanh chóng tìm ra biện pháp đấu tranh thích hợp.

Nhờ hoạt động bí mật, khôn khéo của Tôn Đức Thắng ở Sở Lưới mà chi bộ Chỉ Tồn vừa chuyển được thư từ, tài liệu ở đảo về Sài Gòn, vừa nhận được nhiều sách lý luận gồm những tác phẩm kinh điển của Mác, Ăngghen, Lênin do Nhà xuất bản Xã hội thuộc Đảng Cộng sản Pháp ấn hành và tài liệu của Đảng ta. Đó là các tài liệu: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản; Làm gì; Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán; Bệnh ấu trĩ ''tả''  khuynh trong phong trào cộng sản; Chống Đuyrinh; bộ Tư bản (những tập đầu); v.v..

Từ khi được thành lập, chi bộ Chỉ Tồn xác định một nhiệm vụ quan trọng là bố trí cho anh em vượt đảo về đất liền tiếp tục hoạt động cách mạng. Công việc này phải được tổ chức rất chặt chẽ, chu đáo, từ dự trữ lương thực, thùng đựng nước ngọt, địa điểm và vật liệu đóng bè như gỗ, dao, búa, cưa, đinh, v.v… Công việc thường phải đợi mùa gió chướng hàng năm thổi vào đất liền. Nhiệm vụ này hết sức nguy hiểm vì sóng to, biển cả, cá mập và nếu người tù không may bị bắt trước khi vượt biển, thì họ sẽ bị đày đọa ở các "địa ngục" Hầm đá, Hầm xay lúa, Sở Củi Chuồng Bò… Mùa gió chướng 1932-1933 nhiều chuyến vượt đảo không thành công, chủ yếu do vỡ bè, hy sinh trên biển. Chi bộ đã kịp thời rút kinh nghiệm các cuộc vượt ngục. "Một số đồng chí được chi bộ phân công trách nhiệm chỉ đạo việc bí mật đóng thuyền. Chi bộ định ngày khởi hành và lựa chọn, chỉ định từng người trở về trong mỗi chuyến vượt ngục''9.

Khoảng tháng 4-1934, Chi bộ tổ chức cho các đồng chí Tống Văn Trân, Vũ Công Phụ, Tạo Gồng, Toản, Kim, Xuyến và hai người tù thường vượt đảo. Đây là cuộc vượt đảo thành công đầu tiên do Chi bộ tổ chức. Cuối năm 1934, Chi bộ lại tổ chức cho các đồng chí Ngô Gia Tự, Tô Chấn, Lê Quang Sung và một số đồng chí khác vượt đảo, nhưng tất cả đều bị mất tích. Những chuyến vượt đảo này, Tôn Đức Thắng đều có những đóng góp nhất định với tư cách là trong Chi uỷ, đồng thời là người đang làm việc tại Sở Lưới đã làm cho canô hỏng đúng lúc các đồng chí vượt biển nên bọn gác ngục không có phương tiện rượt đuổi.

Mấy tháng sau chuyến vượt biển không thành công của nhóm Ngô Gia Tự.., ngày 8-4-1935 chi bộ lại tổ chức chuyến vượt ngục cho các đồng chí Tạ Uyên, Trần Quang Tặng, Nguyễn Hữu Hoài, Phạm Hồng Thám và Tôn Đức Thắng... Chuyến vượt đảo này đã thành công, trừ Tôn Đức Thắng bị bắt trên đường lên núi. Sau đó Tôn Đức Thắng bị nhốt vào hầm tối và đầy xuống Hầm xay lúa lần thứ hai. Mấy tháng sau, để đối phó với phong trào đấu tranh ngày càng lên cao, Thống đốc Nam Kỳ ra lệnh cấm cố tất cả tù chính trị cộng sản. Tôn Đức Thắng và anh em tù cộng sản đang ở Hầm xay lúa cũng có tên trong danh sách rút về cấm cố tại Khám 8 Banh I. Đây là thời kỳ Tôn Đức Thắng cùng với chi uỷ Banh I vừa tổ chức cho anh em học tập lý luận, vừa chỉ đạo và tham gia trực tiếp các cuộc đấu tranh của tù nhân Côn Đảo chống lại chế độ nhà tù tàn bạo. Tiêu biểu là các cuộc đấu tranh những ngày đầu tháng 3-1935, đấu tranh không nhận cá thối, tổ chức tuyệt thực để chặn bàn tay khủng bố của kẻ thù, đòi tháo xiềng, xoá bỏ cấm cố, đòi chấm dứt việc cho tù nhân ăn khô mục và đòi không được đánh đập, ngược đãi tù nhân.

Theo Điều lệ mới (đã bổ sung) của Đại hội lần thứ nhất của Đảng ta họp ở Ma Cao (3-1935), "Chi bộ Cộng sản ở Nhà tù Côn Đảo được công nhận là một Chi bộ đặc biệt dưới sự chỉ đạo của Xứ uỷ Nam Kỳ"l0. Từ đây, cùng với nhiều hoạt động khác, Chi bộ đặc biệt đã đề ra chủ trương tích cực: biến nhà tù thành trường học cộng sản của mình. Những vấn đề giáo dục, huấn luyện đã được Tôn Đức Thắng và các đồng chí tổ chức thực hiện từ năn 1932 khi chi bộ Chỉ Tồn vừa ra đời. Nội dung huấn luyện lúc đó là những vấn đề về tổ chức Đảng, về Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Đoàn Thanh niên phản đế, về cách tổ chức quần chúng, tổ chức biểu tình… Từ cuối năm 1933, khi chi bộ được bổ sung thêm lực lượng trong số tù nhân chính trị ở đất liền vừa ra, Ngô Gia Tự tham gia công tác huấn luyện, tổ chức cho tù chính trị Banh I học tập thấu đáo các vấn đề cơ bản của chủ nghĩa cộng sản, về đặc điểm giai cấp trong xã hội Việt Nam và đường lối phương pháp lãnh đạo của Đảng ta.

Những năm 1934-1935, sau một vài cuộc vượt ngục thành công tạo được đường dây liên lạc giữa đảo và đất liền, đường dây liên lạc giữa các banh, việc học tập lý luận có điều kiện phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu. Chi bộ đặc biệt ở Banh I vẫn thường xuyên nhận được các số báo Ý kiến chung, Người tù đỏ và các tài liệu anh em ở Banh II đã biên soạn, lược dịch gửi tới.

Từ giữa năm 1935, với lệnh cấm cố toàn bộ số tù chính trị đang làm khổ sai, nên anh em có điều kiện tập trung. Tôn Đức Thắng cũng bị đưa vào cấm cố tại Khám 8. Lúc này "Chi uỷ được chuyển sang Khám 8-9, đồng chí Tôn Đức Thắng là Bí thư. Chi uỷ cũ ở Khám 6-7 trở thành tổ cố vấn''11. Dưới sự lãnh đạo của Tôn Đức Thắng, Chi bộ đặc biệt quyết định tổ chức học tập lý luận một cách có hệ thống cho cán bộ, đảng viên. Trần Văn Giàu, người đã từng học trường Đại học Phương đông, được chỉ định làm giảng viên giảng chủ nghĩa Lênin, triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử… Trần Văn Dực giảng kinh tế chính trị học... Tôn Đức Thắng, Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trình đều tham gia lớp học. Giáo trình là những bài giảng của các giáo sư đỏ của Liên Xô và Quốc tế Cộng sản mà Trần Văn Giàu đã nắm vững. Nội dung chương trình của lớp học nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản như:

"l. Tầm quan trọng của lý luận và mối quan hệ hữu cơ giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin.

2. Lý luận Mác Lênin về cách mạng vô sản.

3. Chuyên chính vô sản.

4. Đảng Lêninnít của giai cấp vô sản.

5. Chiến lược và chiến thuật.

6. Vấn đề nông dân.

7. Vấn đề dân tộc và thuộc địa.

8. Vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.

9. Chiến tranh và cách mạng"12.

Tôn Đức Thắng là một học viên gương mẫu, vừa chăm chú nghe giảng bài, vừa giúp giảng viên kinh tế chính trị nêu những ví dụ cụ thể về các kiểu bóc lột của bọn chủ, để học viên hiểu thế nào là giá trị thặng dư.

Trần Văn Giàu kể lại: "Về học tập, bên Banh II tương đối dễ tổ chức: Có sách, có thầy, sách tiếng Pháp nhiều, thầy tiếng Pháp như Phạm Văn Đồng, Nguyễn Kim Cương; sách chính trị cũng được một số: lấy sách của Mác – Ăngghen, Lênin, Xtalin đem ra cùng đọc, cùng thảo luận, ấy là học chính trị thẳng trong kinh điển. Bên Banh I chúng tôi thì không như vậy: Chúng tôi không có sách gì hết. Về sau chật vật lắm mới nhận được quyển Đại cương kinh tế chính trị học của Lapidus, anh Dục căn cứ vào đó mà giảng bài. Còn tôi thì phải giảng chủ nghĩa Lênin và triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử (…). Tôi lường được sự khó khăn lớn trong việc giảng chủ nghĩa Lênin mà không có sách kinh điển trong tay. Đâu có loè ai được! ngồi nghe có những anh sáng lập Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng có những đồng chí từng là Xứ uỷ viên, từng làm tuyên huấn ở khắp nước, cuộc đời tập hợp họ lại ở cái đất Côn Đảo hẻo lánh nhưng chí khí ngất trời này. Ngồi học xung quanh giảng viên chừng 5 mét, là những anh mà giảng viên nào cũng phải "ngán": Tôn Đức Thắng, Nguyễn Duy Trinh, Phan Đình Khải... Những anh ấy là Đảng uỷ Côn Lôn. Họ nghe, họ nhận xét tập thể, giảng viên nói sai thì chắc chắn sẽ bị ''phê" kín đáo, tao nhã nhưng nghiêm khắc. Vả lại số học viên đã qua lớp sơ cấp ở các nhà tù khác nhau lại nhiều kinh nghiệm, chớ có phải như tờ giấy trắng đâu! Đó là chưa kể rằng có những bậc thầy đã từng đọc hàng chục sách của Mác, Ăngghen, Lênin, Xtalin, Plêkhanốp... như Nguyễn Văn Hoan, Phiếm Chu (Đỗ Ngọc Du). Thỉnh thoảng gặp bài lý thú, tôi thấy có giáo sư Nghiêm Toản (Quốc dân Đảng) ở Khám 10 xin được sang nghe. Vậy thì nhiều cái khó lắm. Nhưng tôi tin, nhận mở lớp huấn luyện, tin chắc rằng khi "xuống núi" thầy tôi ở Moscou đã trao cho tôi đủ phép rồi (…). Không kể bài mở màn: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm xác định lập trường cho học viên, chương trình chủ nghĩa Lênin của chúng tôi ở Côn Lôn gồm tất cả 9 bài, cũng như ở Moscou (...). Đáng lẽ có bài số 10 "Tình hình hiện tại và nhiệm vụ cần kíp". Nhưng bài này tôi tự thấy không đủ tư cách để giảng, mà Đảng uỷ Côn Lớn cũng không nhận giảng. Cho nên, để kết thúc lớp học dài gần 4 tháng tôi nói về giá trị phổ biến của chủ nghĩa Mác Lênin và vấn đề đấu tranh tư tưởng trên thế giới và trong nước ta hiện nay"13.

Trong thời gian này, báo Ý kiến chung trước ở Banh II nay được chuyển sang Banh I, xuất bản ở khám 8-9, có nhiệm vụ đăng tải các nội dung cơ bản của các bài học. Ban Biên tập gồm Trần Văn Giàu, Hà Thế Hạnh, Nguyễn Văn Hoan. Tôn Đức Thắng thay mặt Chi bộ trực tiếp chỉ đạo. Tạp chí ra một tháng một lần, viết tay, khổ lớn, bằng một tờ giấy manh gấp ba theo bề ngang, có thể cuốn lại bỏ vào một cái ống tre. Tôn Đức Thắng không chỉ điều hành chung mà còn tham gia trực tiếp một số khâu của quá trình "xuất bản".

Tháng 5-1935, theo sáng kiến của Đảng Cộng sản Pháp, một Hội nghị chống phát xít với sự tham gia của Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, Đảng Xã hội cấp tiến, Tổng Công đoàn, Tổng Liên đoàn lao động thống nhất và các đoàn thể quần chúng của các đảng phái nói trên đã được tổ chức tại Pari. Hội nghị quyết định thành lập Mật trận Nhân dân chống phát xít và chiến tranh.

Tháng 1-1936, Mặt trận Nhân dân công bố cương lĩnh tranh cử của mình với nội dung quan trọng nhất là Đại xá (Amnlstie générale), trong đó có vấn đề ân xá tù chính trị ở Đông Dương.

Ở trong nước, từ sau Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (7-1935 Đảng Cộng sản Đông Dương đã tổ chức cuộc vận động thành lập Mặt trận Dân chủ. Trước tình hình đó tháng 1-1936, Toàn quyền Đông Dương đã ra lệnh ân xá 6 tù chính trị ở Côn Đảo và giảm án cho 15 người khác, phần lớn từ án chung thân xuống 20, 15 năm cấm cố. Đây là cơ hội thuận lợi để Chi bộ đặc biệt Banh I, cùng Ban lãnh đạo Banh II lãnh đạo đẩy mạnh cuộc đấu tranh thực hiện khẩu hiệu toàn xá tù chính trị; đồng thời tiếp tục công tác học tập, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm để có cơ hội trở về đất liền hoạt động.

Cuộc đấu tranh tiến hành chưa được bao lâu thì Buviê từ Pháp trở lại nhận chức Quản đốc nhà tù Côn Đảo, thi hành chế độ nhà tù khắc nghiệt như thời 1930 1931. Từ đó, mọi quyền lợi mà tù nhân đã giành được đều bị tước đoạt; họ tiếp tục bị khủng bố, đàn áp. Trước tình hình đó, "Chi bộ đặc biệt quyết định phát động một phong trào đấu tranh mạnh mẽ chống chế độ tàn bạo của tên Quản đốc Buviê và đòi đại xá tù chính trị''14. Hình thức đấu tranh là nêu khẩu hiệu, đưa yêu sách, hò la phản đối, bỏ việc. Đặc biệt, có sự phối hợp đấu tranh giữa các banh, toàn đảo lập Ủy ban tranh đấu, mỗi banh lập một Bản tranh đấu, các khám đều tổ chức các đội tự vệ để chống khủng bố. Tuy tuổi gần 50, Tôn Đức Thắng cũng tình nguyện xin vào đội tự vệ.

Khi có tù nhân bị đánh chết, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ đặc biệt, Banh I đã tuyên bố tuyệt thực phản đối khủng bố và đòi các quyền lợi chính đáng đã ghi trong yêu sách.

Được tin Mặt trận Nhân dân Pháp giành thắng lợi lớn trong cuộc bầu cử Quốc hội Pháp ngày 3-5-1936, Chi bộ đặc biệt quyết định đẩy mạnh cuộc đấu tranh. "Ngày 28-5-1936, Chi uỷ thảo yêu sách gửi Thống đốc Nam Kỳ, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa và Thủ tướng Pháp đòi đại xá tù chính trị. Ngày 11-6-1936, một cuộc bãi thực, lãn công lại nổ ra trên toàn đáo để nhắc lại các yêu sách ngày 28-5-1936 đòi tổng đại xá''15.

Theo hồi ký của Nguyễn Văn Hoan, người cùng bị giam với Tôn Đức Thắng ở Banh I thì trong thời gian này, Tôn Đức Thắng luôn gương mẫu, đi tiên phong trong mọi việc. Tối 30 Tết, thay mặt cho chi bộ nhà tù, Tôn Đức Thắng đi chúc tết anh em và động viên mọi người mài sắc ý chí chuẩn bị cho một năm mới đấu tranh quyết liệt, thu được nhiều thắng lợi hơn nữa. Sáng mồng một Tết Nguyên đán Bính Tý 1936, Tôn Đức Thắng dẫn đầu cuộc tuần hành trong sân trại giam, hát vang bài Quốc tế ca. Tôn Đức Thắng cầm đầu đoàn đại biểu tiếp xúc với một số thủ lĩnh Quốc dân Đảng để đàm phán về vấn đề ''Mặt trận liên minh quốc cộng" mà Chi bộ đặc biệt đã đề ra. Tôn Đức Thắng cũng là một trong những người đứng hàng đầu trong đội tự vệ, chống trả quyết liệt những trận đòn của kẻ thù...

Nguyễn Văn Hoan nhớ lại: "Đối với bọn ác ôn, Bác Tôn không phải là người xa lạ. Do đó, nhân cơ hội chúng đã tập trung hoả lực tấn công vào Bác. Đầu Bác bị vỡ, khắp người nổi lên những vết hằn thâm tím, rơm rớm máu. Quần áo bị rách tả tơi và đẫm máu, nhưng Bác vẫn thản nhiên, hiên ngang như người thuỷ thủ năm xưa trên Hắc Hải khi gặp cuồng phong… Sau trận khủng bố, bọn chủ ngục đưa Bác và một số anh em bị thương nặng đi băng bó và giam riêng. Tôi cũng ở trong diện và cùng được đi với Bác"16.

Tôn Đức Thắng đã để lại trong trái tim khối óc những chiến sĩ cộng sản một tình đồng chí thiêng liêng, mà chỉ có trong gian khổ hoạn nạn, người ta mới thấy rõ tấm lòng của nhau.

"Tại nơi điều trị, Bác Tôn và anh em vẫn tiếp tục đấu tranh. Sau mấy buổi nhịn ăn tiếp theo, cuộc đấu tranh kết thúc thắng lợi... Sau mấy ngày điều trị, tuy vết thương chưa thật lành, nhưng Bác Tôn và chúng tôi đòi về khám cũ. Đầu băng bó, áo quần tả tơi, Bác Tôn và chúng tôi bước vào khám 9 giữa những tiếng hoan hô nhiệt liệt đằm thắm xuất phát từ những trái tim hừng hực máu nóng của những người đồng chí cùng chung lý tưởng, cùng chung chiến hào. Mọi hoạt động trở lại bình thường. Cùng với các đồng chí lãnh đạo Đảng bộ lao số 1, Bác tiến hành công tác tổng kết cuộc đấu tranh"l7.

Một thời gian ngắn sau, Sở mật thám Sài Gòn cho bọn mật thám ra đảo mở cuộc điều tra. Tôn Đức Thắng là một trong số người đầu tiên bị gọi ra thẩm vấn. Nhưng gần một tháng, chúng không lấy được một lời khai nào.

Ngày 14-7-1936, Toàn quyền Đông Dương quyết định trả lại tự do cho 92 tù chính trị. Thay mặt Đảng bộ, Tôn Đức Thắng đã bí mật gửi thư dặn dò và giao nhiệm vụ cho các đồng chí khi về đất liền nhận nhiệm vụ mới. Cũng trong đêm đó, sau khi nhận được bản báo cáo của đồng chí Manuinxki (Manouinsky) tại Đại hội của Đảng bộ thành phố Lêninrát về những vấn đề cơ bản của Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản, cùng Tạp chí Thư tín quốc tế, cơ quan ngôn luận của Quốc tế Cộng sản, Chi bộ đặc biệt đã phổ biến ngay nội dung Nghị quyết Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản đến khám tù chính trị chuẩn bị được ân xá Chi bộ cũng truyền đạt cho Banh II và tổ chức cho toàn thể đảng viên ở Banh I học tập, nghiên cứu nội dung, nghị quyết của Quốc tế Cộng san đối với phong trào cách mạng thế giới. Thắng lợi của phong trào Mặt trận Nhân dân Pháp và phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương đã làm giảm hẳn số lượng tù chính trị ở Côn Đảo. Tuy không muốn thả tự do cho những người tù còn lại và vẫn muốn duy trì những hình thức cai trị "địa ngục", nhưng do tình hình đã thay đổi nên chính quyền thực dân cũng phải giảm án và để cho tù nhân được hưởng những quyền lợi mà họ đã đấu tranh giành được trong những năm 1934-1936.

Lúc này Banh I còn khoảng 40 đảng viên cộng sản vẫn bị cấm cố trong khám 6. Chi bộ đặc biệt được củng cố lại, đồng chí Nguyễn Duy Trinh làm Bí thư... Hội tù nhân cũng được củng cố lại, Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Hội18.

Thời kỳ này, nhiều tin tức tài liệu báo chí từ trong nước được gửi ra Côn Đảo thông qua mạng lưới những đồng chí vượt đảo trở về đất liền xây dựng. Tôn Đức Thắng cùng các đồng chí trong chi bộ đã học tập, nghiên cứu nghiêm túc nhiều vấn đề lý luận chính trị và thời sự nóng hổi của Đảng. Đáng chú ý là vấn đề sách lược đấu tranh ở tù trong điều kiện mới, khi Quốc tế Cộng sản chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân chống phát xít và Đảng ta chủ trương thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương. Theo đó, các hình thức đấu tranh được áp dụng một cách mềm dẻo hơn, phối hợp nhiều hình thức, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của những người tiến bộ trong hàng ngũ địch, gửi kiến nghị, tạo dư luận...

Từ cuối năm 1938, nguy cơ Chiến tranh thế giới thứ hai đã đến gần. Chính quyền thuộc địa ở Đông Dương và bọn chúa ngục ở Côn Đảo bắt đầu trở mặt, tiếp tục bắt bớ, khủng bố những người hoạt động trong phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dương. Ở Côn Đảo chúng chỉ nhượng bộ những yêu sách nhỏ.

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (l-9-1939), với sự chuẩn bị từ trước, chi bộ sẵn sàng lãnh đạo những người cộng sản bước vào một thời kỳ đấu tranh mới gay go, quyết liệt. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, Hội tù nhân do Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch đã có nhiều hình thức tổ chức và hoạt động phong phú phù hợp với hoàn cảnh mới. Hội đã tổ chức ra Ban Trật tự, lo bố trí công việc cho phù hợp với sức khoẻ từng người. Ban Trật tự ngoài đấu tranh với bọn "gác dăng", ma tà không để chúng đánh đập tù nhân. Ban Học tập tổ chức cho tù nhân học tập lý luận, xoá mù chữ, học thêm văn hoá, ngoại ngữ. Ban vệ sinh giữ gìn vệ sinh trong khám, phổ biến kinh nghiệm phòng chống bệnh tật cho anh em. Ban Cứu tế chăm sóc những người đau yếu bệnh tật và giúp đỡ những người có khó khăn...

Hội tù nhân có chương trình, điều lệ cụ thể và ai thừa nhận chương trình, điều lệ sẽ được kết nạp vào Hội.

Từ sau khi thực dân Pháp ở Đông Dương dâng nước ta cho phát xít Nhật (9-1940), nhiều sự kiện trong nước tác động dồn dập tới chi bộ và Hội tù nhân trên đảo. Đó là các Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 11-1939, tháng ll-1940; các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (22-9-1940), Nam Kỳ (23-ll-1940).

Đầu năm 1941, nhiều chiến sĩ cộng sản bị bắt trong khởi nghĩa Nam Kỳ bị đày ra Côn Đảo Các khám tù đều chật ních. Bọn chúa ngục Côn Đảo bắt đầu một thời kỳ đàn áp man rợ đối với tù nhân, một không khí ngột ngạt bao trùm lên toàn đảo. Chúng tăng cường lực lượng gác ngục hung ác từ đất liền ra đảo, ráo riết lục soát, khám xét, vu cáo những người tù cộng sản, lấy cớ tước những quyền lợi mà tù nhân đã giành được trong những năm trước. Trước những đòn thù dã man, nhiều người tù thường phạm cũng trở mặt nói xấu những người cộng sản, thậm chí có tên tù lưu manh đã vu cáo về các hoạt động của chi bộ đặc biệt. "Trong tình hình bất lợi, Hội tù nhân tuyên bố tự giải tán.Chi bộ đặc biệt cũng giảm bớt hai phần ba số đảng viên, chỉ tuyển lại những đồng chí trung kiên và có năng lực hoạt động trong tù. Mạng lưới cứu tế tù nhân vẫn được củng cố dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chi bộ"19. "Trong tình hình đó, Bác Tôn lại được tổ chức bố trí ra làm Sở Lưới"20.

Trong tình hình địch khủng bố ác liệt và bệnh tật phát sinh nhiều, chi bộ đặt trọng tâm công tác vào việc cứu tế, đoàn kết, tương trợ giữa các tù nhân, bảo vệ cán bộ của Đảng.

Vẫn ở trong cấp uỷ, lại ở Sở Lưới, đặc biệt có một tấm lòng yêu thương vô hạn đối với con người, Tôn Đức Thắng có điều kiện giúp đỡ các tù nhân khác trong việc chữa bệnh hoặc kiếm thêm thực phẩm (cá) để bồi dưỡng cho anh em. Với tinh thần cách mạng triệt để và phẩm chất cao đẹp của người cộng sản "thương người hơn cả thương thân", Tôn Đức Thắng đã góp phần quan trọng cùng chi uỷ chỉ đạo mạng lưới cứu tế tù nhân. Ban cứu tế được tổ chức rộng khắp trong quy mô toàn đảo, chăm lo phong trào cứu tế từ việc lớn đến việc nhỏ. Những việc làm đó đã cứu được mạng sống của nhiều người. Theo hồi ký Bốn năm cấm cố hầm của Tô Thúc Rịch hồi đó là tù chính trị bị giam ở Banh I, Khám Vagông (khám giam những người tù "cứng đầu'' ở Banh I, có nhiệm vụ chuyên san cồn cát, lấp ao hồ dưới ngọn roi của những tên gác ngực tàn ác khét tiếng): "... Tôi bị bệnh ghẻ hầm, một chứng bệnh rất nguy hiểm... Giữa lúc tôi đang lo lắng về bệnh tật thì tôi nhận được một lọ thuốc nước và một bức thư của đồng chí Tôn Đức Thắng gửi vào. Tôi vội mở thư ra xem: đồng chí Tôn Đức Thắng giới thiệu tác dụng của chất a xít pha với nước trong việc chữa bệnh ghẻ hầm và hướng dẫn cách sử dụng… Sở dĩ tôi còn sống được sau 10 năm ở Côn Đảo và sau 4 năm cấm cố hầm đầy khổ cực và thiếu thốn không những là nhờ ở nghị lực, ở sức mạnh của lòng ham sống và yêu đời, ở chí khí và tinh thần cách mạng của bản thân, mà còn nhờ ở sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí và các bạn bè, nhất là của đồng chí Tôn Đức Thắng''21.

Từ năm 1943, diễn biến của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai và tình hình Đông Dương có nhiều bất lợi cho quân Nhật ở Đông Dương. Côn Đảo cũng không nằm ngoài tình hình chung đó, Quản đốc nhà tù chủ trương đưa cả tù chính trị ra cùng tham gia lao động trên khắp các vùng của đảo để giải quyết nạn đói. Nhân cơ hội này, tổ chức Đảng bố trí đưa đảng viên và cán bộ ra làm việc ở các Sở Bản chế, Sở Lưới, Nhà đèn, Nhà thương, Văn phòng xếp chánh, Văn phòng quản đốc, Sở Dây thép, "Chi bộ đặc biệt đã hình thành được Trung tâm lãnh đạo bên ngoài trại giam"22. “Bác Tôn vẫn tham gia lãnh đạo chi bộ như trước"23.

Mùa hè năm 1944, khi tù chính trị ở Sơn La và Hoả Lò bị đày ra Côn Đảo thì Chi uỷ của đoàn tù này đã nhanh chóng bắt liên lạc với Trung tâm lãnh đạo. Hai bên đã trao đổi thông tin và kinh nghiệm cho nhau. Qua đó, Trung tâm lãnh đạo (lúc đó được xem như Đảo uỷ hoặc Đảng uỷ Côn Đảo) nắm được tinh thần cơ bản của Nghị quyết Trung ương 8 (5-1941), Mười chính sách của Việt Minh, tình hình chuẩn bị vũ trang giành chính quyền và kinh nghiệm 8 tháng đánh du kích ở Bắc Sơn Vũ Nhai. Đây là giai đoạn Trung tâm lãnh đạo tiếp tục giữ được vị trí chỉ đạo của mình trong việc khẳng định mục tiêu cơ bản của cách mạng lúc này là giải phóng dân tộc, giành độc lập, chủ quyền. Đồng thời tăng cường sự đoàn kết nhất trí giữa Chi uỷ, chi bộ Sơn La Hoả Lò với Đảo uỷ.

"Ở Sở Lưới, Bác Tôn chấp hành Nghị quyết của tổ chức Đảng xây dựng lại đường dây bí mật liên lạc giữa các banh, các sở công tác, tích cực vận động binh lính và "gác dăng'' để họ ủng hộ hoặc không ngăn trở công việc của những người cộng sản. Việc gấp rút chuẩn bị cho cán bộ, đảng viên vượt đảo được giao cho Bác Tôn và một số đồng chí khác đang làm việc ở các sở ngoài"24.

Tối ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp trừ mối hậu hoạ và độc chiếm Đông Dương.

Sáng ngày 10-3, hai tàu chiến Nhật đã đưa thêm một trung đội lính lên Côn Đảo, phối hợp với 20 tên lính Nhật đã có mặt ở đảo từ ngày 6-2-1945, tước vũ khí toàn bộ đại đội bộ binh thuộc địa và bọn gác dăng Pháp. Công chức Pháp bị quản thúc. Bộ máy nhà tù vẫn giữ nguyên như cũ dưới quyền chỉ huy của Lê Văn Trà, một công chức thân Nhật.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng uỷ Côn Đảo thời gian này là theo dõi sát tình hình, gấp rút tổ chức vượt ngục đưa cán bộ về đất liền hoạt động. Phạm Hùng và một đồng chí khác vượt ngục. Nhưng thuyền vừa hạ thuỷ thì bị phát hiện và bắt giữ.

Từ giữa năm 1945, Đồng Minh ngày càng thắng thế. Tình hình ở đảo ngày càng sôi động, nhất là sau khi tàu bay Đồng Minh bắn phá vào đảo. Trước tình hình đó, Đảng uỷ Côn Đảo ra một chỉ thị phân tích tình hình nêu cao cảnh giác, khẳng định lấy nhân dân làm chỗ dựa để giành thắng lợi. Chỉ thị cũng xác định nhiệm vụ cho cán bộ, đảng viên quyết tâm vượt ngục trở về chớp lấy thời cơ cướp chính quyền. Bản chỉ thị được phổ biến đến từng cơ sở Đảng trên đảo.

Ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông hơn một triệu lính tinh nhuệ của Nhật. Ngày 15-8-1945, phát xít Nhật chính thức đầu hàng Liên Xô và các nước Đồng Minh không điều kiện. Đảng ta kịp thời chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân cả nước vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sau khi nắm được tình hình Xứ uỷ Nam Kỳ sẽ ra đón tù chính trị ở Côn Đảo về, Đảng uỷ Côn Đảo chủ trương đoàn kết các lực lượng tù chính trị trên đảo, giành chính quyền bằng phương pháp hoà bình. Tuy nhiên cũng có một số đồng chí trẻ muốn bạo động cướp chính quyền Đảng uỷ cử các đồng chí Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Võ Sĩ... đi giải thích và bảo vệ chủ trương của Đảng uỷ. Cuối cùng ý kiến của Đảng uỷ được chấp hành một cách nghiêm túc.

Thực hiện chủ trương giành chính quyền bằng phương pháp hoà bình, Trung tâm lãnh đạo cử một đoàn đại biểu gồm Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Trần Ngọc Danh, Lã Vĩnh Lợi đến gặp Quản đốc Lê Văn Trà25.

Những yêu cầu của ta không được Lê Văn Trà chấp nhận. Nhưng trước áp lực của tù chính trị, Trà phải đồng ý một số vấn đề khác như tổ chức chính quyền liên hiệp trên đảo, sửa chữa vô tuyến điện, sửa rađiô để nghe tin tức, sửa canô để đưa đại biểu về đất liền xin ý kiến của Chính phủ.

Sau mấy phiên họp bàn giữa Quản đốc Lê Văn Trà và đại diện tù chính trị, cuối cùng cuộc bầu cử chính quyền liên hiệp trên đảo đã kết thúc mà thắng lợi thuộc về chúng ta. Hội đồng Liên hiệp quốc dân Côn Đảo ra đời với phần lớn là tù cộng sản, trong đó có Tôn Đức Thắng. Với kết quả này, tuy Lê Văn Trà có phản ứng, nhưng cuối cùng đã phải nộp súng cho những người cộng sản. Từ đây, trên thực tế, chính quyền trên đảo đã thuộc về những người cộng sản.

Trong tình hình mới, một mặt Đảng uỷ tổ chức lực lượng vũ trang, lập Đoàn Phòng thủ Côn Đảo; mặt khác, phân công một số đồng chí làm một số công việc cụ thể đón đợi ngày chiến thắng hoàn toàn. Tôn Đức Thắng cùng một số thợ giỏi được phân công sửa chiếc canô bị hỏng nặng và chiếc rađiô cũ để liên lạc với đất liền. Sau khoảng một tuần canô chạy thử sang Hòn Cau, vòng qua Hòn Bảy Cạnh, rồi trở về Sở Lưới.

Một buổi sáng, mọi người lắng nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập do một đài nước ngoài phát lại. Toàn đảo mừng vui khôn xiết. Đảng uỷ Côn Đảo tổ chức một cuộc míttinh chào cờ đỏ sao vàng, mừng nước nhà độc lập... Cùng với việc thành lập các đoàn thể quần chúng, ra báo Độc lập, Đảng uỷ cử một số đồng chí về đất liền liên lạc với Đảng và với chính quyền cách mạng. Trong khi đoàn đang chuẩn bị về đất liền thì đêm 16-9-1945, tàu Phú Quốc và 2 chiếc thuyền đi đầu trong đoàn thuyền 32 chiếc do Xứ uỷ Nam Kỳ cử ra đón các chiến sĩ cách mạng ở Côn Đảo đã cập bãi Cỏ Ống (Côn Đảo). Một số thuyền bị dạt do giông to, sóng lớn cũng tới Côn Đảo trong những ngày sau đó.

Sáng 17-9-1945, Tôn Đức Thắng cùng La Vĩnh Lợi được Đảng uỷ cử sang Cỏ Ống đưa đoàn tàu thuyền và phái đoàn của Chính phủ về cầu tàu trong tiếng reo hò vang dậy.

Chiều 17-9, cuộc míttinh chính thức được tổ chức trọng thể tại sân banh trên đảo. Đồng chí Tưởng Dân Bảo đọc quyết định của Uỷ ban hành chính Nam Bộ về việc đón chính trị phạm Côn Đảo và tuyên bố: Từ giờ phút này, Côn Đảo là một mảnh đất của Tổ quốc ta được hoàn toàn tự do và độc lập. Cùng với nhiều công việc được khẩn trương tiến hành như đi viếng mộ, tạc bia cho các đồng chí của mình đã hy sinh, thành lập Ban Vận động quyên góp tiền vàng đóng góp cho nước nhà hưởng ứng Tuần lễ vàng và xây dựng Quỹ độc lập của Chính phủ..., Tôn Đức Thắng cùng Đảng ủy bàn bạc với đoàn đại biểu Chính phủ lập danh sách toàn bộ tù chính trị để đưa về đất liền; lập danh sách những đảng viên trung kiên đã được thử thách trong cuộc đấu tranh ở nhà tù để giới thiệu với Đảng.

Sáng 23-9-1945, tàu Phú Quốc cùng 25 chiếc thuyền bầu đã nhổ neo đưa 1.800 tù chính trị trở về đất liền. Chiếc canô vừa được sửa lại được mang tên Giải phóng do chính Tôn Đức Thắng lái đưa một số đồng chí trong Ban lãnh đạo trở về. Tuy gian nan, vất vả vì sóng gió lớn giữa biển, nhưng chiều ngày 23-9-1945, tàu Phú Quốc và những chiếc thuyền đầu tiên đã cập bến Đại Ngãi, tỉnh Sóc Trăng trong sự đón tiếp nồng nhiệt của Đảng bộ và nhân dân địa phương. Chiếc canô Giải phóng được Tôn Đức Thắng điều khiển chạy vào cửa biển Mỹ Thanh an toàn trong khung cảnh tưng bừng rợp cờ hoa, khẩu hiệu và những giọt nước mắt sung sướng.

Gần mười bảy năm ở ngục tù Côn Đảo, Tôn Đức Thắng và nhiều chiến sĩ cộng sản khác xứng đáng với nhận xét của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Biến cái rủi thành cái may, các đồng chí ta đã lợi dụng những ngày tháng ở tù để hội họp và học tập lý luận. Một lần nữa, việc đó lại chứng tỏ rằng chính sách khủng bố cực kỳ dã man của kẻ thù chẳng những không ngăn trở được bước tiến của cách mạng, mà trái lại nó đã trở nên một thứ lửa thử vàng, nó rèn luyện cho người cách mạng càng thêm cứng rắn. Mà kết quả là cách mạng đã thắng đế quốc đã thua"26.

___________

1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (Nhóm biên soạn: Nguyễn Đình Thống Hồ Sĩ Hành Nguyễn Linh): Nhà tù Côn Đảo (1862-1975), tái bản có bổ sung, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003, tr. 98.

2. Travaux Forcés: Lao dịch khổ sai.

3. Nguyễn Vũ Hương Mai: "Bác Tôn Đức Thắng với việc tổ chức và lãnh đạo hội tù nhân Côn Đảo'', trong Tỉnh uỷ An Giang Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Chủ tịch Tôn Đức Thắng với cách mạng Việt Nam và quê hương An Giang, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 86.

4, 5. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu: Nhà tù Côn Đảo (1862-1975) Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2003, tr. 103, 195.

6. Con đường cách mạng (Hồi ký nhiều tác giả). Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1970, tr. 52-53.

* Nguyễn Đình Thống: "Bác Tôn Người cộng sản kiên cường trong nhà tù Côn Đảo'', trong Tôn Đức Thắng - Người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết, Sđd, tr. 431. (Có tài liệu lại cho rằng không có Phạm Hùng, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Công Khuông. Mà có Phạm Văn Khuông tên chính là Nguyễn Công Hiên - sau này lấy tên là Lê Văn Lương. Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 7-2003, bài của Nguyễn Thành).

7. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu: Nhà tù côn Đảo (1862-1975), Sđd, tr. 117.

8. Nguyễn Đình Thống: "Bác Tôn Người cộng sản kiên cường trong nhà tù Côn Đảo", trong Tôn Đức Thắng – Người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết", (Hồi ký), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 431.

9. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu: Nhà tù Côn Đạo (1862-1975), Sđd, tr. 157.

10. Sđd, tr. 159.

11. Sđd, tr 167.

12. Sđd, tr. 167.

13. Nguyễn Linh: "Mười lăm năm ở ngục tù Côn Đảo", trong Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ An Giang: Bác Tôn (1888-1980) - Cuộc đời và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1988, tr. 109-110.

14. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu: Nhà tù Côn Đảo (1862-1975), Sdđ, tr.171.

15. Sdđ, tr. 173.

16. Nguyễn Văn Hoan: "Bác Tôn sống ở nhà tù Côn Lôn những năm 1930'', trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một con người bình thường - vĩ đại nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20-8-1888 - 20-8-1988), Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An Giang, 1988, tr. 97.

17. Sđd, tr. 97.

18. Xem: Ban Chấp hành Đảng bộ Bà Rịa Vũng Tàu: Nhà tù Côn Đảo (1862-1975), Sđd, tr. 178.

19. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu: Nhà tù Côn Đảo (1862-1975). Sđd, tr .190.

20. Ban Chấp hành Đảng bộ An Giang: Bác Tôn (1888-1980) - Cuộc đời và sự nghiệp, Sđd, tr.126.

21, 23. Xem: Nguyễn Linh: "Mười lăm năm ở ngục tù Côn Đảo", trong Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ An Giang: Bác Tôn (1888-1980) – Cuộc đời và sự nghiệp, Sđd, tr.128, 130.

22. Ban Chấp hành Đảng bộ Bà Rịa Vũng Tàu: Nhà tù Côn Đảo (1862-1975), Sđd, tr. 203.

24. Sđd, tr 130-131.

25. Xem: Nguyên Linh. "Mười lăm năm ở ngục tù Côn Đảo'' trong Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ An Giang: Bác Tôn (1888- 1980) – Cuộc đời và sự nghiệp, Sđd, tr. 134-135.

26. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.10, tr. 3-4.