Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân - VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM

Cập nhật lúc 15h54  -  Ngày 12/10/2016

share facebookgửi emailin bài này

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM

1. Phát động và tổ chức toàn dân kháng chiến

Nắm vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, am hiểu sâu sắc truyền thống kinh nghiệm đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc: “Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, “trăm họ ai cũng là binh”, “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đúng vai trò quyết định của nhân dân trong vận động cách mạng giành chính quyền cũng như trong chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Người cho rằng, chiến tranh giải phóng hay chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam đều là chiến tranh nhân dân, một cuộc chiến tranh cách mạng thực sự “của dân, do dân và vì dân”.

Ngày 22-12-1944, trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã viết: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân…”1. Tư tưởng của Người về động viên toàn dân, vũ trang toàn dân tham gia hai lực lượng chính trị và lực lượng quân sự, thực hiện kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, đã đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trên phạm vi cả nước và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á.

Cách mạng thành công chưa được bao lâu, quân và dân ta lại phải đương đầu với sự trở lại xâm lược của thực dân phản động Pháp. Chưa đầy một tháng rưỡi sau ngày thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn (23-9-1945), ngày 5-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài viết nhan đề Toàn dân kháng chiến. Phân tích quy mô và ảnh hưởng của cuộc chiến đấu, Người cho rằng: “...muốn kháng chiến lâu dài để tới thắng lợi cuối cùng, cần phải động viên hết thảy lực lượng... Cậu bé chăm chỉ học hành trong nhà trường cũng là kháng chiến. Anh dân cày cày cuốc ngoài đồng ruộng, anh thợ cặm cụi trong nhà máy, chị bán hàng buôn bán ngược xuôi, ông già xách giỏ đi câu cũng là kháng chiến. Các công chức, các nhà văn, nhà báo mải miết trước bàn giấy, cạnh tủ sách cũng là kháng chiến. Các y sinh, khán hộ lăn lộn bên giường bệnh cũng là kháng chiến. Các nhà giàu có đem hết tài lực mở mang xưởng thợ, khai thác ruộng đất cũng là kháng chiến. Đó là toàn dân kháng chiến”2.

Nhằm làm rõ hơn quan điểm và nội dung toàn dân kháng chiến, cũng trong bài viết này Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “…muốn thực hiện toàn dân kháng chiến, ngoài việc động viên quân sự, chính trị, ngoại giao, còn phải động viên cả tinh thần lẫn kinh tế. Động viên tinh thần là phải tập trung hết thảy lực lượng tinh thần, ý chí, tư tưởng của từng cá nhân và của toàn quốc dân đều hướng về một chiều để cùng đi tới một mục đích kháng chiến. Như vậy, một mặt phải chấn khởi (phát động) tinh thần kháng chiến của toàn dân và một mặt làm cho họ tin tưởng ở chỗ thế nào cũng thắng lợi”3. Hơn nữa, còn phải làm thế nào cho tất cả các tầng lớp nhân dân đều chung đúc tâm trí vào lợi ích của dân tộc mà phấn đấu. Dù đau khổ đến đâu mặc lòng, ai cũng phải trổ hết tài năng, làm hết nhiệm vụ để sáng tạo tất cả cái gì có thể giúp ích cho sự kháng chiến...”4. Động viên kinh tế, Người chỉ rõ: “…là làm cho nước được giàu thêm, dân được no ấm... Vậy cấp vụ (nhiệm vụ) cấp bách của chúng ta ngày nay là phải động viên nhân lực, động viên công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, giao thông, tài chính. Bao nhiêu trai tráng phải chịu huấn luyện vũ trang để chờ đưa ra mặt trận. Còn bao nhiêu ở lại phải gắng công, gắng sức ở đồng ruộng cũng như ở nhà máy để sản xuất ra thật nhiều thóc gạo, quân nhu, đồ dùng giúp cho chiến sĩ ngoài tiền phương, và cứu dân nghèo đói ở hậu phương”5.

Trong khi tập trung vào xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân các cấp, chuẩn bị về mặt ngoại giao, pháp lý, thể chế cho nhà nước Việt Nam mới, xây dựng thực lực kinh tế để đối phó với giặc đói, từng bước giải quyết có hiệu quả nạn thất học và các vấn đề về văn hóa, xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đồng thời luôn quan tâm đến củng cố quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang, chuẩn bị cho toàn dân có thể chủ động bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc. Người đã viết một loạt bài giới thiệu về Binh pháp Tôn Tử, nêu lên các phương pháp tác chiến, những vấn đề về chiến lược, chiến thuật, quân nhu, hậu cần, nắm địch... coi đó là tài liệu tham khảo bổ ích khi lâm trận. Các bài viết của Người đều toát lên tinh thần quyết tâm chiến đấu, dựa vào sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân để đánh thắng kẻ thù xâm lược.

Trước dã tâm gây chiến tranh của thực dân Pháp ngày càng bộc lộ rõ vào những ngày cuối tháng 12-1946 và nhận định cuộc chiến không thể tránh khỏi, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chủ động phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước để giành thế có lợi nhất trong điều kiện có thể. Sáng ngày 20-12-1946, Người đã ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”. Trong đó một lần nữa, tư tưởng chiến tranh nhân dân về kháng chiến toàn dân của Hồ Chí Minh được thể hiện rất rõ ràng, cụ thể: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”6.

Ngay sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, trong bài viết nhan đề Hỏi và trả lời ngày 23-12-1946, Người đã giải thích một cách cụ thể: “Toàn dân kháng chiến nghĩa là toàn cả dân, ai cũng đánh giặc. Bất kỳ đàn ông, đàn bà, người già con trẻ, ai cũng tham gia kháng chiến. Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập, thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước, thì ai cũng phải làm nô lệ... Vậy thì ai cũng phải kháng chiến. Có người lo rằng: Mình không có tài, sức lại yếu, không có súng, không biết bắn, thì tham gia kháng chiến thế nào? Tưởng như vậy là sai. Tôi nói một cái thí dụ rõ rệt cho bà con nghe: các chị em cô đâu có súng đâu, biết bắn đâu. Thế mà khi bộ đội lo đánh giặc thì chị em người lo nấu cơm nấu nước, người giúp chuyên chở đạn dược, người thì băng bó săn sóc cho anh em bị thương. Thế là chị em cũng cùng tham gia kháng chiến, cũng làm tròn nghĩa vụ quốc dân”7.

Ngay từ ngày đầu tiên, tư tưởng toàn dân kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh phản ánh quyết tâm của cả dân tộc đoàn kết một lòng, cùng chung sức đánh bại kẻ thù xâm lược. Tư tưởng này một lần nữa thể hiện rất rõ và tập trung trong chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Trung ương Đảng ngày 22-12-1946, là nội dung chủ yếu và đầu tiên của đường lối kháng chiến của Đảng.

Đường lối chung chỉ đạo toàn bộ cuộc kháng chiến là: Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh.

Chiến lược kháng chiến toàn dân là sự kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới truyền thống toàn dân đánh giặc, trăm họ ai cũng là binh của ông cha. Chiến lược đó được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định vận dụng, triển khai trong điều kiện, hoàn cảnh mới, nhằm đánh thắng đối tượng tác chiến mới. Chỉ đạo thực hiện chiến lược này, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra các giải pháp lớn nhằm tổ chức toàn dân, đưa cả dân tộc vào cuộc chiến đấu quyết liệt với quân thù. Thực tế, kẻ xâm lược đã phải đương đầu không chỉ với một quân đội mà là với cả một dân tộc đoàn kết, được tổ chức chặt chẽ, dưới sự lãnh đạo của một tập thể dày dạn kinh nghiệm đấu tranh cách mạng là Đảng Cộng sản, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào chiến lược kháng chiến toàn dân, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp tất cả các lực lượng, các tầng lớp xã hội có thể tập hợp được; đưa họ vào các đoàn thể kháng chiến trong Mặt trận dân tộc thống nhất, từng bước xây dựng một lực lượng chính trị hùng hậu và lực lượng vũ trang nhân dân lớn mạnh gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Ta đã xây dựng được hệ thống chỉ huy điều hành kháng chiến từ trung ương tới địa phương một cách tập trung thống nhất, chủ yếu dựa trên cơ sở chính quyền nhân dân các cấp tại các địa phương.

Cũng căn cứ vào chiến lược này, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định “...mỗi công dân là một chiến sĩ. Mỗi làng là một chiến hào. Hai mươi triệu đồng bào Việt Nam quyết đánh tan mấy vạn thực dân phản động”8.. Trong Lời kêu gọi nhân kỷ niệm 6 tháng kháng chiến,Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định sức kháng chiến của ta ngày càng mạnh, bởi vì: “Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ. Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước. Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”9.

Cụ thể hóa hơn nữa đường lối toàn dân kháng chiến, trong Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và ngày Độc lập (1950), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nhiệm vụ cần kíp của cuộc kháng chiến: “Toàn dân đại đoàn kết đã chặt chẽ phải chặt chẽ hơn nữa. Toàn dân đại đoàn kết trong việc thi đua thực hiện lệnh Tổng động viên... Trước nhất là động viên nhân lực và lương thực. Toàn thể chiến sĩ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích cùng nhau thi đua giết giặc lập công. Toàn thể công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất. Toàn thể thanh niên thi đua xung phong trong mọi công việc: tòng quân, sản xuất, vận tải, học tập, v.v.. Toàn thể cán bộ chính quyền và đoàn thể thi đua thực hành cần, kiệm, liêm chính. Toàn thể đồng bào trong vùng tạm bị địch chiếm, phải thi đua chuẩn bị sẵn sàng để đấu tranh chống địch...”10.

Đề cập đến vai trò, nhiệm vụ và sự phối hợp giữa các lực lượng trong kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi. Muốn thế phải bảo vệ, giúp đỡ, giáo dục nhân dân... phải vận động nhân dân để dân tự nguyện, tự giác, nếu bắt buộc thì chỉ có thể có kết quả tạm thời ngay lúc đó thôi, còn sau đó thì không thấm...

Theo Hồ Chí Minh: “Bộ đội chủ lực trong địch hậu có nhiệm vụ giúp đỡ bộ đội địa phương và dân quân du kích về tổ chức, huấn luyện mọi mặt, giúp đỡ chứ không bao biện. Hơn nữa phải giúp đỡ cả nhân dân... Phương ngôn có câu “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, thế nghĩa là dựa vào vùng địch đánh du kích, phải biết chiến thuật du kích chứ không chính quy như ở ngoài... Mục đích của du kích chiến cũng không phải là ăn to đánh lớn mà phải tỉa dần, đánh làm cho nó ăn không ngon, ngủ không yên, không thở được, bị hao mòn về tinh thần và vật chất rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt. Phải làm sao cho địch đi đến đâu cũng có du kích đánh, ít nhất cũng bị quả mìn, bị vài phát súng”11.

Bàn về cách đánh của chiến tranh nhân dân, của cuộc kháng chiến toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “…Về phương pháp tác chiến, chúng ta áp dụng vận động chiến song song với du kích chiến. Vận động chiến có mục đích trừ diệt một số lớn địch quân. Còn du kích chiến là huy động dân quân ở địa phương vừa quấy rối vừa làm hao mòn lực lượng của chúng. Chúng ta không cố chiếm hoặc cố giữ trận địa, trừ khi nào cần và có lợi. Để tiến hành vận động chiến một cách có lợi, có khi chúng ta rút lui ở một nơi nào, để làm phân tán binh lực của địch quân. Thế có nghĩa là chúng ta chia ra mà đánh. Chúng ta nhất định không bị thất bại, nếu chúng ta còn bảo toàn thực lực. Để thực hiện du kích chiến, chúng ta tổ chức ra đội cảm tử, đội phá hoại, đội đánh úp, đội đánh mai phục, đội cướp lương thực súng đạn, đội trinh sát. Kế hoạch tiêu thổ vườn không nhà trống, kế hoạch bất hợp tác phải được đem áp dụng một cách triệt để. Trong thành phố, ngoài những hầm hố, những chướng ngại vật, chúng ta phải biến mỗi nhà thành một ổ kháng chiến, phải đào hầm thông từ phố nọ sang phố kia. Trên các ngả đường quan lộ đã đành đắp nhiều ụ đất làm chướng ngại vật, nhưng trên dọc đường còn phải đặt nhiều địa lôi, nhất là ở những chỗ có cầu cống... Chúng ta phải dùng đủ mọi phương pháp để cản trở quân địch, địch đến một chỗ nào cũng không thể tiến quân được...”12.

Theo tư tưởng chiến tranh nhân dân Hồ Chí Minh, vấn đề chủ yếu về phương thức tiến hành chiến tranh của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là toàn dân kháng chiến, là lấy nhỏ trong lớn. Bởi vì, để có thể đánh bại kẻ thù, ta không chỉ dựa vào lực lượng vũ trang mà dựa vào sức mạnh của toàn dân, không tiến hành một cuộc chiến tranh thông thường giữa các quân đội, mà tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng, trong đó toàn thể nhân dân, toàn dân tộc đã đứng lên sát cánh chiến đấu cùng các lực lượng vũ trang nhân dân, chống lại kẻ thù xâm lược để bảo vệ thành quả cách mạng. Trong cuộc kháng chiến này, bên cạnh lực lượng vũ trang ba thứ quân trực tiếp đánh địch trên các chiến trường, các mặt trận, còn có lực lượng của các tầng lớp, đoàn thể nhân dân lâm thời vũ trang, chủ động tham gia chiến đấu bằng mọi phương tiện vũ khí có trong tay, với nhiều cách đánh phong phú, sáng tạo.

Một trong những vấn đề nổi bật của tư tưởng chỉ đạo phương thức tiến hành chiến tranh là tư tưởng tiến công và giành quyền chủ động, mặc dù ta phải lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều. Điều này chẳng những thể hiện rõ trong thực tế cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà còn được chứng tỏ khi quân dân ta tiến hành kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Trong suốt 30 năm chiến tranh, nhìn chung, để đương đầu và đánh bại đội quân xâm lược có quân số đông và trang bị vũ khí hiện đại hơn gấp nhiều lần, quân và dân ta dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển đã tích cực chủ động tìm mọi cách tiến công địch, nhằm vào những nơi chúng sơ hở, mỏng yếu nhưng hiểm yếu, để tiến công từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ lên đến toàn cục bằng cách tập trung ưu thế binh lực hơn địch trên địa bàn đã chuẩn bị sẵn nhằm thay đổi cục diện chiến trường, tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn...

Việc huy động toàn dân tham gia đánh giặc với tinh thần tích cực, chủ động tiến công ở mọi lúc, mọi nơi, bằng mọi phương tiện và vũ khí có trong tay vừa là kết quả vừa là điều kiện của thế trận chiến tranh độc đáo theo kiểu cài răng lược, không phân chiến tuyến rõ ràng, và chính thực tế đó khiến cho kẻ thù luôn lo sợ, và bị động chống đỡ, đề phòng; khiến cho chúng lâm vào tình thế đầy mâu thuẫn giữa tập trung lực lượng cơ động và phân tán lực lượng để đối phó ở khắp mọi nơi. Đó là chưa kể, với một thế trận như thế, địch không thể phát huy đầy đủ và tối đa ưu thế về hỏa lực và sức cơ động. Đây là kiểu chiến tranh mà thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ đều xem là “xa lạ” với kiểu chiến tranh quy ước; bởi chúng bị đánh liên tục bất kể ngày đêm, đi đến đâu dù cơ động có nhanh đến mấy cũng không thể đến nước lực lượng tại chỗ của các lực lượng vũ trang và nhân dân trong cuộc kháng chiến toàn dân. Kẻ địch đã bị sa vào thiên la địa võng của chiến tranh nhân dân Việt Nam, càng đánh càng thua đau, càng hao tổn lực lượng. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cho đến sau thất bại ở Chiến dịch Biên giới đông bắc Bắc Bộ, cuối năm 1950, nhiều người trong Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương và chính giới Pháp ở Pari đã phải thừa nhận không thể thắng nổi trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Sự thất bại liên tiếp sau đó của quân Pháp trên chiến trường, mà đỉnh cao là sự đại bại của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cố gắng chiến lược cao nhất và cuối cùng của thực dân Pháp, trước sức kháng chiến của quân và dân ta, đã là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân, làm sụp đổ ý chí xâm lược, tiếp tục chiến tranh xâm lược của những kẻ thực dân hiếu chiến.

Nói về nguyên nhân thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thắng lợi đó là do lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần đấu tranh anh dũng của quân và dân ta, do toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận dân tộc thống nhất và chính quyền nhân dân ta dựa trên nền tảng liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng”13.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tư tưởng chiến tranh nhân dân Hồ Chí Minh được nâng lên một tầm cao mới, trong điều kiện, hoàn cảnh mới, trước kẻ thù mới là đế quốc Mỹ xâm lược có binh hùng tướng mạnh gấp nhiều lần so với thực dân Pháp. Đề cao tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc, đề cao ưu thế tuyệt đối về chính trị, tinh thần của cả một dân tộc giàu lòng yêu hòa bình, yêu tự do, độc lập và vì vậy sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm và lòng tin vào sức mạnh của toàn dân. Người kêu gọi: “31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”14.

Người đã đưa ra một ví dụ cụ thể, sinh động về sức mạnh và sức sáng tạo của quần chúng nhân dân ta trong những tháng năm đánh máy bay, tàu chiến Mỹ: “...Vừa rồi trên báo Nhân dân có đăng câu chuyện về phòng không. Có mấy đồng chí cán bộ xã ngồi bàn với nhau. Phòng không là phải đào hầm, xây hầm tốn mấy vạn viên gạch, mấy nghìn cây tre và mấy trăm đồng nữa. Chi phí lớn quá và khó thực hiện. Nhưng có một cô kỹ sư có ý kiến là cần đưa ra quần chúng bàn bạc tham gia. Sau đó mời quần chúng lại, nói rõ âm mưu của địch là hiện nay nó bắn lung tung như thế, ta phải đào hầm hố để ẩn nấp. Vậy ta nên đào như thế nào? Thế là quần chúng giơ tay hưởng ứng, người thì xin góp mấy tấm ván, người thì xin góp mấy chục viên gạch, người thì xin góp mấy cây tre... Chỉ trong hai ngày là họ làm xong tất cả các hầm trú ẩn. Ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, do đi theo đường lối quần chúng mà nhân dân đào được hàng nghìn cây số hào, hàng chục vạn hầm. Cho nên việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt. Các đồng chí ở Quảng Bình nói rất đúng: Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”15.

Với tinh thần chiến đấu hy sinh Không có gì quý hơn độc lập tự do, trong lúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đang diễn ra quyết liệt ở cả hai miền Nam, Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi “Đồng bào và chiến sĩ miền Bắc dũng cảm tiến lên hăng hái thi đua sản xuất và chiến đấu. Các lực lượng vũ trang nhân dân hãy anh dũng chiến đấu, giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa... Công nhân và nông dân hãy hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, “một người làm việc bằng hai” và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc, ủng hộ miền Nam. Anh chị em trí thức hãy cống hiến nhiều nhất cho Tổ quốc... Các cháu thanh niên gái cũng như trai hãy thực hiện tốt “ba sẵn sàng”, xung phong dâng tất cả tinh thần và lực lượng của tuổi trẻ cho sự nghiệp chống Mỹ... Chị em phụ nữ hãy thực hiện tốt “ba đảm đang”... Đồng bào các dân tộc, các tôn giáo hãy đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà...”16.

Kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới thành quả và kinh nghiệm đánh giặc trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các sáng kiến đánh giặc của quân và dân miền Nam ngày càng nở rộ, thể hiện tính sáng tạo, muôn màu muôn vẻ của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh mà tựu trung, đó vừa là cách đánh chính quy của chủ lực quân giải phóng, vừa là cách đánh độc lập hoặc phối hợp của bộ đội địa phương tỉnh, huyện và cách đánh của dân quân du kích thôn, xã; đánh cả bằng vũ khí hiện đại và vũ khí thô sơ, tự tạo, bằng cả cỏ cây, ong, kiến, thậm chí tay không; đánh bằng quân sự kết hợp với chính trị, binh vận, ngoại giao; đánh cả ở nông thôn, đồng bằng, thành thị, miền núi, đánh cả trên đất liền, trên không, trên sông, biển và phối hợp với quân dân hai nước Lào, Campuchia chiến đấu, thực hiện Đông Dương một chiến hào đánh Mỹ... Kiểu chiến tranh độc đáo này của ta đã khiến cho đế quốc Mỹ và tay sai kinh hoàng, khiếp sợ, thường xuyên ở trong tình trạng căng thẳng đối phó. Kiểu chiến tranh này đã vô hiệu hóa, tiến tới làm thất bại các chủ trương, chiến lược, các biện pháp chiến thuật của kẻ thù.

Nhìn chung lại, có thể thấy, quan điểm toàn dân kháng chiến là cốt lõi của tư tưởng chiến tranh nhân dân Hồ Chí Minh và tư tưởng này được quân dân ta quán xuyến, vận dụng sáng tạo vào hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm toàn dân kháng chiến vào thực tiễn, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất đưa tới thắng lợi hoàn toàn, vĩ đại của hai cuộc kháng chiến kéo dài 30 năm (1945 1975).

2. Kháng chiến toàn diện

Theo tư tưởng chiến tranh nhân dân Hồ Chí Minh, muốn huy động được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia kháng chiến thì phải thực hiện kháng chiến toàn diện. Chưa đầy một tháng rưỡi sau khi quân Pháp nổ súng ở Sài Gòn, khi đề cập đến hình thức chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trên báo Cứu quốc ngày 5-11-1945: “... muốn thắng quân địch, chỉ trông vào sức chiến đấu ở tiền phương chưa đủ. Tại sao? Vì ngày nay, một khi chiến tranh đã bùng nổ ở nơi nào, ảnh hưởng của nó sẽ lan tràn khắp các nơi khác. Chẳng những thế, nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả các ngành hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa (...) chiến tranh không những chỉ phát động trong địa hạt quân sự ở tiền phương, mà còn phát động cả trong các địa hạt khác ở hậu phương. Vì vậy, muốn kháng chiến lâu dài để tới thắng lợi cuối cùng, cần phải động viên hết thảy mọi lực lượng mới mong đi tới thắng lợi cuối cùng... Nói tóm lại, muốn thực hiện toàn dân kháng chiến, ngoài việc động viên quân sự, chính trị, ngoại giao, còn phải động viên cả tinh thần lẫn kinh tế”17.

Cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân đang lan rộng ra cả nước, bên cạnh một loạt các bài giới thiệu Binh pháp Tôn Tử viết về chiến lược, chiến thuật, cách đánh; về chức huấn luyện bộ đội, một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến hình thức cuộc chiến tranh sắp tới để qua đó thống nhất nhận thức, chuẩn bị hành động cho toàn quân toàn dân: “…chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được”18.

Cũng trong bài viết này, Người đã chỉ rõ các lĩnh vực, các khía cạnh thuộc về hoặc liên quan tới một cuộc chiến tranh toàn diện. Theo đó, về quân sự, ngày nay, khi chiến tranh nổ ra, tất có đánh nhau trên mặt đất, đánh nhau trên mặt bể, đánh nhau trên không và trong từng lĩnh vực này lại có nhiều nội dung cụ thể như dã chiến, hóa học chiến, gián điệp chiến, v.v.. Về mặt kinh tế của cuộc chiến tranh cũng vậy. Trên lĩnh vực này, cũng có các nội dung cụ thể về phá hoại, bao vây, cô lập địch về kinh tế, xây dựng nền kinh tế kháng chiến đủ sức duy trì cuộc chiến đấu lâu dài và từng bước cải thiện đời sống nhân dân. Về chính trị, ngoại giao, tuyên truyền, Người yêu cầu toàn dân, toàn quân ta phải thực hiện cho được việc nêu cao tính chất chính nghĩa của cuộc chiến đấu, kêu gọi dư luận tán đồng và ủng hộ ta, đồng thời cô lập kẻ địch trên trường quốc tế, lên án cuộc chiến tranh phi nghĩa của chúng cũng như sử dụng các biện pháp ngoại giao để tạo nên sức mạnh, tiến tới giành thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp kháng chiến. Về tư tưởng, cần hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của địch, gây được một phong trào phản chiến ở ngay trong lòng nước đi xâm lược, khiến kẻ thù bị chia rẽ nội bộ, tê liệt không còn đủ sức tiếp tục chiến tranh. Tóm lại: “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến”19Đấy là một điều kiện thiết yếu bảo đảm cho sự nghiệp kháng chiến của quân dân ta ngày càng phát triển.

Hơn nữa, trong thực tế, kẻ thù của dân tộc đều đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược một cách toàn diện. Chúng không chỉ đánh ta về mặt quân sự, tìm cách tiêu diệt chủ lực và các lực lượng vũ trang mà còn nhằm làm cho ta suy kiệt về kinh tế, cướp bóc thóc lúa, phá hoại mùa màng, đánh phá các cơ sở công nghiệp, các công trình giao thông, đường sá, cầu cống, hủy hoại đê điều... Chúng tiến hành chiến tranh tâm lý tinh vi, hiểm độc để đánh phá ta trên mặt trận văn hóa, tư tưởng, hòng phân hóa, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm xói mòn lòng tin vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến, làm lung lạc ý chí và quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta. Phối hợp với chiến tranh chính trị, tâm lý, kẻ địch còn sử dụng các thủ đoạn ngoại giao và thậm chí còn cả với một số nước lớn trên lưng nhân dân ta một cách rất thâm độc hòng cô lập để tiến tới “bóp nghẹt” sự nghiệp kháng chiến của quân và dân Việt Nam... Nói tóm lại, kẻ thù xâm lược không từ một thủ đoạn nào dù tàn bạo và độc ác đến đâu, để đạt mục đích cuối cùng là làm ta suy yếu toàn diện, tiến tới áp đặt ách thống trị của chúng.

Cùng với các sắc lệnh, chỉ thị, nghị quyết của Nhà nước, Đảng lãnh đạo toàn dân kháng chiến toàn diện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những nhận định, hướng dẫn, cụ thể hóa các nội dung cơ bản của kháng chiến toàn diện. Bên cạnh hoạt động đánh địch về quân sự, ngoại giao, là thực hiện vận động chính trị, kinh tế nhằm huy động toàn dân dốc toàn lực tham gia kháng chiến. Theo Người, “Nhiều sức, giàu của, mới có thể kháng chiến lâu dài. Thế thì ở hậu phương làm sao góp được nhiều sức, làm được nhiều của, đó là kháng chiến, chứ không phải chỉ ra mặt trận mới là kháng chiến”20.

Người đã có một bài viết riêng về Động viên kinh tế, tức là xây dựng nền kinh tế kháng chiến đủ mạnh sao cho có thể đánh lâu dài và cuối cùng giành thắng lợi. Người viết: “…chúng ta không thể không chú ý đến vấn đề động viên kinh tế. Chúng ta phải thu góp tất cả lực lượng của toàn quốc, khiến cho người có sức giúp sức, có tiền giúp tiền, có của giúp của. Những vật nhu cầu cho cuộc kháng chiến, chúng ta phải hết sức tăng gia sản xuất... Tóm lại, chúng ta phải tập trung hết thảy nhân lực, vật lực, tài lực vào công cuộc kháng chiến thì thực lực kháng chiến của ta mới được đầy đủ, mạnh mẽ để đạt tới thắng lợi cuối cùng”21Động viên kinh tế còn có nghĩa là phải luôn luôn tìm mọi biện pháp nhằm bồi dưỡng sức dân, làm cho nước giàu, dân mạnh... Có như thế, dân và quân đội mới có đủ lương ăn, vật dùng, mới bảo đảm cho kháng chiến ngày càng tiến bộ, ngày càng thắng lợi. Người chỉ ra 6 phương pháp cụ thể để tiến hành động viên kinh tế, bao gồm: động viên lao động, động viên giao thông, động viên công nghệ, động viên nông nghiệp, động viên tài chính và tiết kiệm.

Về lĩnh vực Chiến tranh tư tưởng, Người khẳng định: “Chiến tranh về mặt văn hóa hay tư tưởng so với những mặt khác cũng không kém quan trọng. Mục đích của nó là làm ly gián quân địch, làm nhụt ý chí chiến đấu của bên địch”22. Sau khi dẫn ra 6 thủ đoạn thực hiện chiến tranh tư tưởng trong Binh pháp Tôn Tử, Người kết luận: “Nói tóm lại, phải vận dụng phương pháp tuyên truyền cho địch quân trước sau không bằng lòng, trên dưới không bảo được nhau, không muốn tập trung, không cứu giúp nhau trong khi nguy hiểm... Đối với nước địch, phải tuyên truyền cho dân chúng hoang mang, rối loạn, mất hẳn nhuệ khí, không tin tưởng ở sự thắng trận. Ngoài ra lại tìm hết cách khiêu khích quân địch, hoặc xúi giục dân chúng nổi lên bạo động để phá hoại những tổ chức kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa của chúng”23.

Ở Người, quan điểm toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến luôn hoà quyện với nhau, gắn bó hữu cơ với nhau. Trong Lời kêu gọi Thi đua ái quốc ngày 11-6-1948, Người động viên: “Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc,

Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn,

Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp. Đồng bào công nông thi đua sản xuất,

Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh,

Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân,

Bộ đội và dân quân thi đua đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng.

Nói tóm lại, ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc”24.

Tiến hành cuộc kháng chiến toàn diện, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy và phát huy tối đa sức mạnh tiềm tàng của cải để kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công.

Mỗi mặt trận đều có vai trò, vị trí quan trọng, song điều cần thiết là phải kết hợp chặt chẽ các mặt đấu tranh với nhau để tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, hoàn chỉnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “trong kháng chiến, quân sự là việc chủ chốt”25, là hình thức cơ bản của chiến tranh, trong đó đấu tranh vũ trang giữ vai trò quyết định. Nếu chỉ có đánh địch trên chiến trường thôi thì chưa đủ mà còn phải biết kết hợp với các mặt đấu tranh khác nữa. Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, giữa bộn bề công việc và chồng chất phức tạp, khó khăn, để xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân mới thành lập, chuẩn bị kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần phải cùng đồng thời tiến hành mà trọng tâm là diệt giặc đói (thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội), diệt giặc dốt (văn hóa giáo dục) và diệt giặc ngoại xâm (lĩnh vực quân sự, quốc phòng). Khi bước vào kháng chiến toàn quốc, Người kêu gọi vừa tiến hành kháng chiến vừa thực hiện kiến quốc, vừa xây dựng hậu phương, vừa chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, vừa tiến hành đấu tranh ngoại giao, vừa thực hiện binh địch vận, vừa xây dựng nền văn hóa, giáo dục kháng chiến, bồi dưỡng nhân dân, vừa động viên, tổ chức nhân dân tham gia các đoàn thể kháng chiến, xây dựng khối đoàn kết toàn dân.

Có thể thấy rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về kháng chiến toàn dân, toàn diện ngày càng được hoàn chỉnh trong thực tiễn chiến đấu và xây dựng của quân dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc trong suốt cuộc đấu tranh 30 năm (1945 1975) và cũng chính thực tế lịch sử chứng tỏ rằng, đó là một nội dung rất quan trọng, rất đúng đắn và sáng tạo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân Việt Nam.

3. Kháng chiến trường kỳ

Giải thích thế nào là trường kỳ và vì sao phải tiến hành kháng chiến trường kỳ, Người cho rằng: “Trường là dài, tức là đánh bao giờ địch bại, địch “cút”, thế mới là trường”26. Vì địch âm mưu đánh chớp nhoáng. Chúng muốn đánh mau, thắng mau, giải quyết mau, thì Đảng và Chính phủ ta nêu lên khẩu hiệu: Trường kỳ kháng chiến. Địch âm mưu chia rẽ, thì ta nêu lên khẩu hiệu: Đoàn kết toàn dân. Thế là ngay từ lúc đầu, chiến lược ta đã thắng chiến lược địch”27. Kháng chiến phải trường kỳ, vì đất ta hẹp, dân ta ít, nước ta nghèo, ta phải chuẩn bị lâu dài và phải có sự chuẩn bị về toàn diện, của toàn dân... Giặc Pháp là vỏ quýt dày”, ta phải có thời gian để mà mài “móng tay nhọn”, rồi mới xé toang xác chúng ra”28.

Người khẳng định quyết tâm chiến đấu đến cùng vì độc lập tự do của Tổ quốc: “Cuộc kháng chiến rất lâu dài và đau khổ. Dù phải hy sinh bao nhiêu và thời gian kháng chiến đến bao giờ, chúng ta cũng nhất định chiến đấu đến cùng, đến bao giờ nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập và thống nhất. Chúng ta 20 triệu chống lại 10 vạn thực dân. Cuộc thắng lợi của chúng ta rất được bảo đảm”29.

Phân tích lợi hại của ta và địch khi ta thực hiện chiến lược “trường kỳ kháng chiến”, Người viết: “Nếu chiến tranh kéo dài, hao binh tổn tướng, chúng sẽ thất bại. Vậy ta dùng chiến lược trường kỳ kháng chiến, để phát triển lực lượng, tăng thêm kinh nghiệm. Ta dùng chiến thuật du kích, để làm cho địch hao mòn, cho đến ngày ta sẽ tổng phản công để quét sạch lũ chúng. Thế địch như lửa. Thế ta như nước. Nước nhất định thắng lửa. Hơn nữa trong cuộc trường kỳ kháng chiến, mỗi công dân là một chiến sĩ. Mỗi làng là một chiến hào”30.

Trường kỳ kháng chiến là một nội dung rất quan trọng trong đường lối kháng chiến của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một chiến lược đúng đắn, là bí quyết để giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều. Vì so sánh lực lượng có sự chênh lệch rất lớn nên ta cần phải có thời gian để tập hợp, tổ chức, xây dựng, chuyển hóa lực lượng ngày càng lớn mạnh, có lợi cho ta, hạn chế những lợi thế và khoét sâu yếu điểm của kẻ địch. Theo thời gian, ta càng đánh càng mạnh cả về thế và lực. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự kiến cuộc kháng chiến sẽ trải qua ba giai đoạn, kết thúc bằng cuộc tổng phản công ở giai đoạn thứ ba. Tuy quan điểm lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là đánh lâu dài nhưng không phải kéo dài vô thời hạn cuộc chiến đấu mà là vận dụng nhân tố thời gian một cách khoa học. Theo đó, xét về toàn bộ cuộc kháng chiến thì cần phải có thời gian tương đối dài để từng bước làm chuyển hóa lực lượng ngày càng có lợi cho ta, nhưng ở mỗi giai đoạn cụ thể thì cần phải tranh thủ thời gian để đánh bại các chủ trương, biện pháp của địch, nắm thời cơ thúc đẩy cuộc kháng chiến phát triển với những bước nhảy vọt, sớm giành thắng lợi cuối cùng.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn quân, toàn dân đương đầu với kẻ thù xâm lược lớn mạnh bậc nhất lúc bấy giờ, tiếp tục thực hiện phương thức chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, trường kỳ... Quan điểm đánh lâu dài của Người được thể hiện trong Lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước ngày 17-7-1966. Người viết: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do”31.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tuy kéo dài tới 21 năm (1954 1975), nhưng vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân cả nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã đánh cho quân Mỹ phải “cút”, và khi có thời cơ, đã tập trung toàn lực đánh cho ngụy “nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là một bước nhảy vọt về chiến lược của chiến tranh nhân dân, là kết quả của cả một quá trình lâu dài huy động sức mạnh vật chất tinh thần của cả dân tộc để đánh địch từng bước, đánh đổ từng bộ phận tiến lên đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của tên đế quốc hùng mạnh bậc nhất và tay sai của chúng.

4. Kháng chiến dựa vào sức mình là chính

Từ những năm còn hoạt động ở nước ngoài, tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin và kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của nhiều nước, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được rằng các dân tộc muốn được giải phóng, trước tiên chỉ có thể dựa vào lực lượng của bản thân dân tộc mình, vào giai cấp vô sản trong nước và thế giới. Người cho rằng: “...muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”32. Sau đó, khi về nước trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đấu tranh giành chính quyền, Người tiếp tục kêu gọi đồng bào cả nước “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, bởi theo Người sự nghiệp giải phóng dân tộc phải do chính nhân dân thực hiện chứ không phải ai khác. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi nhanh chóng trên phạm vi cả nước chính là do Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân ra sức chuẩn bị lực lượng mọi mặt và khi thời cơ tới, đã rất kiên quyết và kịp thời phát động quần chúng đứng lên giành chính quyền. Bài học thắng lợi này tiếp tục được quán triệt và áp dụng trong điều kiện, hoàn cảnh mới khi chính quyền nhà nước kiểu mới phải đương đầu với sự trở lại xâm lược của thực dân Pháp. Để bảo vệ thành quả cách mạng trong hoàn cảnh nhà nước dân chủ cộng hòa chưa được công nhận trên trường quốc tế, cuộc kháng chiến bị bao vây bốn bề, không có sự trợ giúp từ bên ngoài, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân đứng lên kháng chiến với phương châm: Tự lực cánh sinh là chính vì có tự lập thì mới có độc lập, có tự cường mới có tự do, có độc lập tự chủ mới có sáng tạo. Người viết: “Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời lại phải tự lực cánh sinh. Trông vào sức mình nhất là ở sau lưng địch thì lại càng phải đặc biệt chú ý. Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”33. Người cho rằng, thực lực của bản thân có mạnh, cuộc kháng chiến có phát triển thì mới có thể tranh chủ được ngày càng rộng rãi sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế. Để xây dựng thực lực cho chính quyền, quân đội, chuẩn bị kháng chiến, ta đã có các cuộc vận động “Tuần lễ vàng”, lập “Quỹ độc lập”, phong trào ủng hộ đồng bào miền Nam chiến đấu. Bước vào kháng chiến toàn quốc, ta có cuộc vận động “Hũ gạo khao quân”, phong trào “Thi đua ái quốc” có lời kêu gọi bán gạo cho Hồ Chủ tịch khao quân, có phong trào thu mua, góp nhặt sắt đồng và các kim loại khác để sản xuất vũ khí, tất cả cho tiền tuyến. Ngay trước khi bùng nổ kháng chiến toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài Động viên kinh tế (ngày 13-12-1946) đã viết: “Nền thực nghiệp nước ta vốn lạc hậu. Chúng ta đặt kế hoạch cụ thể để phát triển nền thực nghiệp ấy mới có thể cung cấp đủ quân nhu, lương thực cho cuộc kháng chiến lâu dài. Để đạt mục đích này, một mặt Chính phủ, một mặt tư nhân đều bỏ vốn mở mang ở vùng xa thành thị nghề làm ruộng, nghề tiểu công nghệ, nghề làm mỏ, v.v.. Có như thế, dân và quân đội mới có đủ lương ăn, vật dùng để cầm cự với quân địch lâu dài. Lương ăn đủ, vật dùng thừa, kháng chiến nhất định thắng lợi”34.

Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng quyết liệt, nhu cầu ngày càng lớn, để tăng cường khả năng tự cấp tự túc, góp phần làm thất bại âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, Người kêu gọi “...sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai già trẻ, toàn thể quốc dân ta, vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc Thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất. Như thế thì:

Kháng chiến nhất định thắng lợi,

Kiến quốc nhất định thành công”35.

Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính; với phương châm vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa kháng chiến, vừa xây dựng hậu phương, bồi dưỡng sức dân, từng bước giải quyết vấn đề cơ bản của nông dân, lực lượng chủ yếu của kháng chiến, là ruộng đất, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo quân dân cả nước từng bước huy động được sức mạnh của dân tộc vào cuộc chiến đấu. Chính vì thế, đến cuối năm 1950, sau 5 năm chiến đấu trong vòng vây của địch, tuy không hề nhận được bất cứ sự trợ giúp vật chất nào từ bên ngoài, song cuộc kháng chiến của quân và dân ta ngày càng phát triển, càng đánh càng mạnh. Điều này chứng tỏ tinh thần quyết tâm chiến đấu, ý chí tự lực cánh sinh, vượt mọi khó khăn gian khổ của quân và dân ta.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tuy không còn phải chiến đấu đơn độc vì nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, lực lượng mọi mặt đã lớn mạnh, cơ sở vật chất kỹ thuật khá vững chắc, dồi dào, nhưng trước hoàn cảnh mới, kẻ thù mới có tiềm lực kinh tế, quân sự hơn ta rất nhiều lần, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn xác định chỉ có thực lực của ta mới là yếu tố quyết định thắng lợi. Lúc này trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế xuất hiện sự bất hòa giữa Trung Quốc và Liên Xô, là hai nước ủng hộ và viện trợ vật chất nhiều nhất cho cuộc kháng chiến của Việt Nam. Mặc dầu vậy, giương cao lá cờ của chủ nghĩa Mác Lênin và kiên định đường lối độc lập, tự chủ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn khẳng định quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trên cơ sở tự lực, tự cường. Chúng ta cảm ơn nước bạn đề nghị đưa lực lượng sang cùng chiến đấu, nhưng chủ trương sự nghiệp kháng chiến sẽ do quân và dân Việt Nam tự đảm đương nên đã từ chối.

Nhằm huy động sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “…nhân dân miền Bắc chúng ta cần phải thi đua “mỗi người làm việc bằng hai”, để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt”36. Đối với nông dân và sản xuất nông nghiệp, Người yêu cầu đồng thời nêu khẩu hiệu: “Ruộng rẫy là chiến trường, Cuốc cày là vũ khí, Nhà nông là chiến sĩ, Hậu phương thi đua với tiền phương”37. Các phong trào thi đua yêu nước như thanh niên “Ba sẵn sàng”, phụ nữ “Ba đảm đang”, “Chiếc gậy Trường Sơn”, “Người tốt việc tốt”... đã diễn ra sôi nổi và mạnh mẽ với hiệu quả rất to lớn là biểu hiện rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam thời thắng Mỹ. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng đó được xây dựng và không ngừng bồi đắp trên nền tảng của chế độ xã hội mới một chế độ đã chứng tỏ trên thực tế, kể cả trong điều kiện khốc liệt của một cuộc chiến tranh kéo dài đằng đẵng hơn 20 năm, tính ưu việt và sức sống mãnh liệt của nó. Chế độ xã hội đó, cộng với lòng yêu nước, tính chất chính nghĩa của cuộc chiến đấu, của xu thế thời đại, cùng với sự giúp đỡ quốc tế to lớn đã góp phần tạo nên sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai.

 

Nguồn: Bộ Quốc phòng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh,

Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr.257-270.

 

 ____________________

* Bài viết của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.3, tr.507

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.84.

3, 4, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.84-85, 85, 85-86.

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.480.

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, tr.485-486.

8,9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr.151, 150-151.

10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.82-83.

11,12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.525; t.4, tr.475.

13,14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.9, tr.583; t.12, tr.323.

15,16. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, tr.212; t.11, tr.471.

17,18. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, tr.84-85; t.5, tr. 298.

19. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr.444.

20. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, tr.86.

21,22,23. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, tr.477, 319, 319-320.

24,25. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr.445.

26. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.522.

27,28,29,30. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.162; t.6, tr.164-165; t.4, tr.484; t.5, tr.108.

31. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, tr.108.

32. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, tr.293.

33. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.522.

34,35. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, tr.47, t.5, tr.419.

36,37. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, tr.257; t.6, tr.178.