leftcenterrightdel
(Ảnh minh họa: Nguồn: thanhnien.vn).

Liên quan đến vụ việc, mới đây, cơ quan điều tra phát hiện trường hợp người có hành vi vi phạm làm giả một số tài liệu liên quan đến công ty, doanh nghiệp (tổ chức) nhằm mục đích chuyển đổi, thay đổi mục đích phương án kinh doanh, có biểu hiện trục lợi, chiếm đoạt tài sản Nhà nước. Cùng với đó, hành vi này còn gây khó khăn trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát của lực lượng thi hành nhiệm vụ. Như vậy, trường hợp cơ quan điều tra khi xác minh đầy đủ các điều kiện liên quan đến hành vi vi phạm này, trường hợp cấu thành tội phạm thì đối tượng vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm ra sao? Mức xử lý vi phạm dựa trên cơ sở điều, khoản nào của pháp luật?

 Về nội dung liên quan đến câu hỏi của bạn L.H.P, địa chỉ mail: levanphucxx@gmail.com nêu trên, phóng viên đã có cuộc trao đổi với luật sư để phân tích, giải đáp.

 Nhìn nhận vấn đề dưới góc độ pháp lý, luật sư Đặng Văn Tiến, đoàn luật sư TP Hà Nội cho biết: Hành vi giả hồ sơ, giả chữ ký là cơ quan, tổ chức, trường hợp cơ quan chức năng điều tra, làm rõ và chứng minh đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì đối tượng vi phạm có thể đối diện với việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định”. Đối chiếu quy định của pháp luật, hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức ngoài mức xử lý hành chính với mức tiền lên đến 100 triệu đồng; trường hợp chịu mức xử lý hình sự, hành vi này sẽ phải đối diện với mức phạt tù lên tới 07 năm (quy định tại Điều 341, Chương XXII, Bộ luật hình sự 2015; Khoản 126, Điều 1, Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2017). Cụ thể như sau:

 Sửa đổi, bổ sung Điều 341 như sau:

 “Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

 1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

 a) Có tổ chức;

 b) Phạm tội 02 lần trở lên;

 c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;

 d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

 đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;

 e) Tái phạm nguy hiểm.

 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

 a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;

 b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

 c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.

 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”.

 Như vậy, đối chiếu với quy định nêu trên, đối tượng vi phạm hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức ngoài việc bị cơ quan chức năng phạt tiền còn đối diện với mức xử phạt tù tương xứng.

 “Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, làm rõ các tình tiết liên quan hoặc những vấn đề phát sinh cần làm rõ hoặc bổ sung tài liệu, tư liệu thì cơ quan chức năng trên cơ sở xem xét, phân tích sẽ có giải pháp, biện pháp xử lý cụ thể. Trên đây là những ý kiến phân tích, giải đáp mang tính tham khảo, bởi tình huống pháp luật có thể thay đổi khi cơ quan chức năng điều tra, phát hiện thêm tình tiết khác, có thể làm thay đổi tội danh. Từ đó, cơ quan chức năng hoàn toàn có thể xem xét, xử lý sao cho phù hợp với quy định của pháp luật.” – luật sư Đặng Văn Tiến cho biết thêm./.

Trường Quân