Hà Tĩnh thúc đẩy công nghiệp sinh học, nâng giá trị nông nghiệp

Ảnh minh họa.
Từ thực tiễn sản xuất
Công nghệ sinh học đang được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp tại Hà Tĩnh, từ nhân giống, chăm sóc cây trồng, phòng chống dịch bệnh đến xử lý chất thải và tận dụng phụ phẩm.
Thực tiễn cho thấy, khi tiến bộ kỹ thuật gắn với nhu cầu thực tế của người dân và tổ chức sản xuất phù hợp, hiệu quả không chỉ thể hiện ở năng suất, thu nhập mà còn giảm chất thải, hạn chế tác động đến môi trường.
Một ví dụ là chuỗi chăn nuôi hữu cơ, tuần hoàn liên kết với Công ty cổ phần Tập đoàn Quế Lâm. Theo Cổng Thông tin điện tử tỉnh Hà Tĩnh, mô hình chăn nuôi theo tiêu chuẩn "5 không" được triển khai theo hướng không sử dụng kháng sinh, không dùng chất tạo nạc, kiểm soát dịch bệnh, không xả thải ra môi trường và tận dụng phụ phẩm. Người chăn nuôi được hướng dẫn sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý chất thải, khử mùi chuồng trại, kết hợp tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín.
Tại xã Cẩm Lạc, gia đình ông Võ Văn Thắng đã phát triển đàn lợn nái và lợn thương phẩm sau khi tham gia chuỗi liên kết. Quy trình chăn nuôi an toàn sinh học giúp giảm nguy cơ dịch bệnh, tiết kiệm nước vệ sinh chuồng trại và tạo nguồn phân hữu cơ phục vụ trồng trọt.
Tính đến tháng 4/2026, chuỗi chăn nuôi hữu cơ của Quế Lâm tại Hà Tĩnh có hàng trăm hộ tham gia, với tổng đàn lợn nái trên 250 con và đàn lợn thịt duy trì thường xuyên trên 2.500 con.
Kết quả triển khai hợp tác phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn giữa Hà Tĩnh và Tập đoàn Quế Lâm tiếp tục cho thấy khả năng mở rộng mô hình.
Theo thông tin của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, đến tháng 7/2026, có 68/69 xã, phường đã ký kết hợp tác với doanh nghiệp; 37 xã, phường đã có hộ dân triển khai liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Diện tích lúa hữu cơ Quế Lâm triển khai trong năm 2026 đạt 89,3 ha; việc xử lý rơm rạ sau thu hoạch bằng chế phẩm sinh học được hướng dẫn trên hơn 4.200 ha. Những hoạt động này góp phần tận dụng phụ phẩm, hạn chế đốt rơm rạ và tăng cường tái sử dụng nguồn hữu cơ trong sản xuất.
Trong lĩnh vực sản xuất giống và hoa cây cảnh, dự án xây dựng mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sản xuất hoa lan Hồ điệp tại Hà Tĩnh cũng là một dẫn chứng về vai trò của nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật trong nâng cao chất lượng sản phẩm.
Triển khai giai đoạn 2022–2025, dự án xây dựng mô hình trên diện tích 3.000 m², công suất 60.000 cây thương phẩm mỗi năm, với tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn trên 98%.
Dự án đồng thời chuyển giao quy trình công nghệ và tổ chức tập huấn kỹ thuật cho nông dân. Dù không phải mô hình công nghệ sinh học thuần túy, dự án cho thấy việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất giúp nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm nông nghiệp.
Những mô hình trên cho thấy công nghệ sinh học có thể tạo giá trị ở nhiều khâu của chuỗi nông nghiệp: từ giống, vật tư đầu vào, phòng chống dịch bệnh đến xử lý chất thải, chế biến, bảo quản nông sản. Tuy nhiên, để mở rộng hiệu quả, cần gắn ứng dụng công nghệ với quy trình kỹ thuật phù hợp, kiểm soát được chất lượng, có tổ chức sản xuất và đầu ra ổn định.

Ảnh minh họa
Gắn công nghệ sinh học với sản phẩm chủ lực
Yêu cầu phát triển này được cụ thể hóa trong Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2026–2035, tầm nhìn đến năm 2045 do UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành, nhằm triển khai Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 31/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ.
Kế hoạch xác định công nghệ sinh học là một trong những giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của nông sản; tăng cường an toàn sinh học, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Các lĩnh vực, sản phẩm được ưu tiên gồm lúa, cây ăn quả có múi, hươu sao, chăn nuôi lợn, bò, tôm, giống cây lâm nghiệp và các sản phẩm hữu cơ.
Trong trồng trọt, tỉnh định hướng ứng dụng công nghệ nhân giống vô tính, nuôi cấy mô để bảo tồn, phục tráng nguồn gen và nâng cao chất lượng giống cam, bưởi, hồng, keo cùng một số cây trồng khác.
Phân hữu cơ vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, bẫy và chất dẫn dụ sinh học được khuyến khích sử dụng nhằm cải thiện chất lượng đất, nông sản và giảm tác động bất lợi đến môi trường.
Trong chăn nuôi và thủy sản, các giải pháp trọng tâm gồm ứng dụng công nghệ sinh sản, chọn giống; sử dụng vaccine, bộ sinh phẩm chẩn đoán, enzyme và chế phẩm vi sinh trong phòng, chống dịch bệnh; phát triển công nghệ vi sinh, biofloc để xử lý nước, bùn thải và cải thiện môi trường nuôi.
Công nghệ sinh học được khuyến khích ứng dụng trong bảo quản, chế biến cam, bưởi, sản phẩm chăn nuôi và thủy sản, cũng như nghiên cứu sản phẩm có giá trị gia tăng từ phụ phẩm nông nghiệp, nhung hươu, cây dược liệu và nguyên liệu bản địa.
Đáng chú ý, giai đoạn 2026–2030, Hà Tĩnh phấn đấu thu hút từ 1 đến 3 doanh nghiệp đầu tư sản xuất quy mô công nghiệp các sản phẩm công nghệ sinh học như giống cây trồng, phân bón vi sinh, chế phẩm vi sinh xử lý môi trường và màng bảo quản tươi.
Giai đoạn 2031–2035, tỉnh định hướng nhân rộng các mô hình thành chuỗi nghiên cứu – sản xuất – chế biến – tiêu thụ gắn với sản phẩm chủ lực và đặc sản của tỉnh.
Đến năm 2045, Hà Tĩnh hướng tới phát triển công nghiệp sinh học thành một động lực góp phần nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông nghiệp địa phương…/.


