Quản lý nghề cá bằng dữ liệu, minh bạch từng tàu, từng hồ sơ
Sáng 6/11, tại TP. Đà Nẵng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với UBND TP. Đà Nẵng tổ chức hội nghị toàn quốc đánh giá tình hình triển khai các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC), xác định các nhiệm vụ trọng tâm, chuẩn hóa hồ sơ và dữ liệu kiểm chứng trong chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về IUU và Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng Trần Nam Hưng đồng chủ trì hội nghị.

Thứ trưởng Võ Văn Hưng đánh giá cao những chuyển biến tích cực trong công tác chống khai thác IUU, nhất là thay đổi về tư duy và phương thức quản lý. Ảnh: Lan Anh.
Quản lý nghề cá từng bước được số hóa
Đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, một trong những chuyển biến nổi bật thời gian qua là hệ thống quản lý nghề cá đang từng bước được số hóa, tạo cơ sở để kiểm soát đội tàu chặt chẽ hơn.
Tính đến ngày 31/10/2026, cả nước có 79.889 tàu cá từ 6 m trở lên được cập nhật trên cơ sở dữ liệu VNFishbase, trong đó 27.432 tàu có chiều dài từ 15 m trở lên. Khoảng 96,8% tàu cá có giấy phép khai thác còn hạn.
Đối với nhóm tàu từ 15 m trở lên, có 23.126/27.432 tàu đã lắp thiết bị giám sát hành trình VMS. Dữ liệu này giúp cơ quan chức năng theo dõi hoạt động của đội tàu, phát hiện trường hợp mất kết nối, di chuyển bất thường hoặc có nguy cơ vi phạm vùng biển nước ngoài.

Hội nghị toàn quốc triển khai các nhiệm vụ, chuẩn bị hồ sơ, dữ liệu phục vụ công tác chống khai thác IUU. Ảnh: Lan Anh.
Các khâu cập cảng, bốc dỡ và truy xuất nguồn gốc cũng đang được đưa lên nền tảng số. Hiện có 174 cảng cá cập nhật chuyến biển theo thời gian thực trên hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử (eCDT); 265 tài khoản được cấp cho các đồn, trạm biên phòng và 105 doanh nghiệp thực hiện báo cáo phân loại nguyên liệu tại nhà máy.
Việc liên thông dữ liệu từ tàu cá, cảng cá, lực lượng biên phòng đến doanh nghiệp được xem là nền tảng để kiểm soát chuỗi khai thác, cập cảng, bốc dỡ và tiêu thụ sản phẩm. Qua đó, mỗi lô hàng thủy sản phải có khả năng truy xuất nguồn gốc, còn từng tàu cá phải được nhận diện rõ tình trạng pháp lý và điều kiện hoạt động.
Là một trong những địa phương có số lượng tàu cá lớn nhất cả nước, tỉnh An Giang đang đẩy nhanh số hóa dữ liệu nghề cá. Ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cho biết, trước đây địa phương mới cập nhật hơn 7.000 tàu trên tổng số 10.896 tàu vào hệ thống eCDT. Sau khoảng 15 ngày triển khai quyết liệt, số tàu được đưa lên hệ thống tăng lên 10.849 chiếc, đạt 99,5%.
Tỉnh đã thành lập 26 tổ công tác xuống tận địa bàn, từng hộ dân để rà soát, hướng dẫn chủ tàu thực hiện đăng ký. Đồng thời, An Giang công bố 21 điểm đủ điều kiện lên cá nhằm tăng tỷ lệ tàu cập cảng, kiểm soát sản lượng và bổ sung dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc.
Ở khâu xử lý vi phạm, trong 520 vụ được rà soát, địa phương đã xử lý 422 vụ, đạt khoảng 81%; các trường hợp còn lại đang tiếp tục xác minh, hoàn thiện hồ sơ.

Đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư hướng dẫn các địa phương chuẩn hóa hồ sơ, dữ liệu kiểm chứng trong chống khai thác IUU. Ảnh: Lan Anh.
Tỉnh An Giang cũng đang đồng bộ dữ liệu nghề cá với hệ thống IOC của tỉnh, hướng tới công khai tình trạng từng tàu, như thời hạn đăng ký, đăng kiểm, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm và các điều kiện hoạt động khác.
“Việc công khai một số nhóm dữ liệu giúp chủ tàu chủ động kiểm tra tình trạng pháp lý của phương tiện, đồng thời tạo điều kiện để cộng đồng và cơ quan chức năng cùng giám sát. Khi dữ liệu được công khai, việc xác định một tàu còn thiếu điều kiện gì, giấy tờ nào đã hết hạn hay trách nhiệm thuộc về ai sẽ rõ ràng hơn. Đây cũng là cơ sở để xử lý vi phạm chặt chẽ, hạn chế tình trạng thông tin không thống nhất giữa chủ tàu và cơ quan quản lý”, ông Toàn cho hay.
Từ “gỡ thẻ vàng” đến xây dựng nền quản trị nghề cá minh bạch
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng đánh giá cao những chuyển biến tích cực trong công tác chống khai thác IUU, trong đó đáng chú ý là sự thay đổi về tư duy trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ.
Theo Thứ trưởng, trước đây có thể có cách hiểu rằng chống khai thác IUU chủ yếu nhằm đáp ứng yêu cầu của EC. Tuy nhiên, quan điểm hiện nay là không làm chỉ để phục vụ mục tiêu gỡ “thẻ vàng”, mà phải xem đây là giải pháp để quản trị nghề cá tốt hơn, quản lý nguồn lợi, đội tàu và hướng đến phát triển bền vững.
Cùng với thay đổi tư duy, việc quản lý dựa trên dữ liệu đã có chuyển biến rõ nét. Hiện cơ bản 22 tỉnh, thành đã hình thành hệ thống quản lý từ số lượng tàu, địa bàn đến các cấp thực hiện. Đối với 38 khuyến nghị của EC, theo báo cáo tại hội nghị, Việt Nam cơ bản đã xử lý 34 nội dung, còn 4 vấn đề cần tiếp tục tập trung giải quyết.

Lực lượng biên phòng Đà Nẵng tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn ngư dân quản lý tàu cá, duy trì thiết bị giám sát hành trình và khai thác đúng quy định. Ảnh: Lan Anh.
Thứ trưởng Võ Văn Hưng cho biết, kết quả chống IUU không thể chỉ được đo bằng số lượng văn bản, cuộc họp hay báo cáo. Kết quả phải thể hiện bằng việc từng tồn tại được xử lý, từng vụ vi phạm được khép hồ sơ, từng số liệu có thể kiểm tra, xác minh và đối chứng.
Theo đó, từng địa phương phải hoàn thiện hồ sơ, dữ liệu đầy đủ, bảo đảm số liệu báo cáo thống nhất với dữ liệu thực tế; đồng thời xác định rõ trách nhiệm, tiến độ và kết quả thực hiện của từng cơ quan, đơn vị. Việc quản lý tàu cá cũng phải đi đến từng trường hợp cụ thể. Các tàu không đủ điều kiện phải được nhận diện rõ trên hệ thống; các trường hợp mất kết nối VMS phải được cảnh báo, xác minh và xử lý; các vụ vi phạm phải có hồ sơ chứng minh kết quả giải quyết.

Ngư dân Đà Nẵng sử dụng thành thạo các chức năng của ứng dụng nhật ký điện tử và truy xuất nguồn gốc thủy sản (eCDT) trên điện thoại thông minh. Ảnh: Lan Anh.
Từ nay đến cuối năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu thực hiện “5 không”: không phát sinh tàu cá bị nước ngoài bắt giữ; không để tàu cá không đủ điều kiện tham gia khai thác; không để các vụ vi phạm VMS kéo dài mà không được xử lý; không để có lô hàng thủy sản không truy xuất được nguồn gốc; và không để số liệu báo cáo khác với dữ liệu, hồ sơ thực tế.
Cùng với đó, dữ liệu eCDT phải cơ bản được cập nhật hoàn chỉnh vào cuối năm 2026. Mọi cảnh báo liên quan đến thiết bị giám sát hành trình VMS phải được xử lý tối đa trong 60 ngày và có hồ sơ kiểm chứng. Đối với hoạt động thu mua, chế biến và xuất khẩu, nguyên liệu đưa vào doanh nghiệp phải chứng minh được nguồn gốc, số lượng và quá trình vào - ra. Việc kiểm tra không chỉ nhằm phát hiện vi phạm mà còn phải bảo đảm dữ liệu giữa doanh nghiệp, cảng cá và cơ quan quản lý thống nhất, đủ khả năng truy xuất.
“Mục tiêu trước mắt là chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, dữ liệu để làm việc với EC. Nhưng quan trọng hơn là xây dựng một nghề cá được quản lý chặt chẽ, vận hành đúng quy định và có năng lực kiểm soát hiệu quả. Gỡ cảnh báo “thẻ vàng” là nhiệm vụ cấp bách, nhưng xây dựng nền quản trị nghề cá dựa trên dữ liệu, minh bạch, có trách nhiệm và có khả năng kiểm chứng mới là mục tiêu lâu dài”, Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhấn mạnh.
Đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương chuẩn hóa hồ sơ, dữ liệu kiểm chứng trong chống khai thác IUU. Nội dung tập trung vào quy trình cập nhật, đối soát dữ liệu, khai thác cơ sở dữ liệu và thao tác trên hệ thống, nhằm bảo đảm thông tin, số liệu và bằng chứng thống nhất, có hệ thống, có khả năng kiểm tra, đối chứng và giải trình khi làm việc với EC. Đây cũng là dịp để các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp trao đổi những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai nhiệm vụ chống khai thác IUU. |


