Bài 12: Giáo dục nghề nghiệp - mạch nối đào tạo và thị trường lao động
Nhiệm kỳ Đại hội XIII đánh dấu bước chuyển quan trọng của giáo dục nghề nghiệp (GDNN) khi hệ thống được sắp xếp tinh gọn, chất lượng đào tạo từng bước nâng cao, gắn kết với doanh nghiệp ngày càng thực chất, qua đó cải thiện rõ rệt khả năng có việc làm của người học và chất lượng cung ứng lao động cho thị trường. Những kết quả này đang tạo nền tảng để GDNN đi trước một bước trong chuẩn bị nguồn nhân lực kỹ năng cao cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%
Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nhấn mạnh yêu cầu: Phát triển mạnh GDNN, nhất là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Tinh thần này tiếp tục được kế thừa, phát triển và cụ thể hóa trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng qua nhiều nhiệm kỳ, đặc biệt là trong nhiệm kỳ Đại hội XIII.
Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng lần thứ XIV cho thấy bức tranh thị trường lao động Việt Nam đang có sự chuyển dịch rõ nét: Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 33,1% năm 2020 xuống còn khoảng 25,8% năm 2025. Chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 64,5% năm 2020 lên 70% năm 2025, trong đó, tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 24,1% năm 2020 lên khoảng 29,2% năm 2025. GDNN có nhiều chuyển biến, chất lượng đào tạo nghề từng bước được nâng lên. Quan tâm phát triển nhân lực chất lượng cao, nhất là trong lĩnh vực sản xuất chip và bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin... Những số liệu và đánh giá này phản ánh sự dịch chuyển có tính cấu trúc của thị trường lao động, từ chỗ dựa vào lao động giản đơn sang nhu cầu ngày càng cao đối với lao động có kỹ năng, có trình độ nghề nghiệp và khả năng thích ứng công nghệ.

Ảnh minh họa: VGP
Trong bối cảnh đó, phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành giáo dục và khai giảng năm học 2025-2026 đã một lần nữa nhấn mạnh yêu cầu tạo đột phá trong GDNN, hình thành các cơ sở đào tạo nghề hiện đại để đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao, phục vụ phát triển khoa học-công nghệ, công nghiệp hóa và chuyển đổi số. Chỉ đạo này cho thấy GDNN không chỉ được nhìn nhận như công cụ giải quyết việc làm mà đã được đặt vào vị trí chiến lược trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại.
Trong nhiệm kỳ XIII của Đảng, GS, Tiến sĩ Khoa học Dương Quý Sỹ, Ủy viên Hội đồng Quốc gia giáo dục và phát triển nhân lực Việt Nam (nhiệm kỳ 2022-2026) đánh giá GDNN đã đạt nhiều kết quả nổi bật. Trước hết là việc củng cố, sắp xếp lại mạng lưới cơ sở GDNN theo hướng tinh gọn, hiệu quả và bền vững. Đến đầu năm 2025, cả nước có khoảng 1.850 cơ sở GDNN, số cơ sở GDNN công lập giảm gần 15%. Việc rà soát, quy hoạch lại mạng lưới không chỉ khắc phục tình trạng dàn trải mà còn hạn chế tình trạng đào tạo không gắn với việc làm. Một dấu ấn rõ nét của nhiệm kỳ là chất lượng đào tạo nghề được nâng lên và tiệm cận chuẩn khu vực châu Á, thể hiện ở sự thay đổi căn bản từ tư duy đến cách tiếp cận.
Chương trình đào tạo được rà soát, chuẩn hóa theo năng lực thực hiện, lấy yêu cầu của thị trường lao động làm trung tâm; đào tạo theo chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, ASEAN và quốc tế được đẩy mạnh. Thực tế thị trường lao động cho thấy tỷ lệ người học có việc làm sau đào tạo đạt mức cao, nhiều ngành nghề đạt trên 80-90%, không ít học sinh, sinh viên được doanh nghiệp tuyển dụng ngay trong quá trình thực tập. Trong nhiệm kỳ qua, doanh nghiệp cũng đã tham gia ngày càng sâu vào toàn bộ quá trình đào tạo, từ xây dựng chương trình, tổ chức giảng dạy, đánh giá kỹ năng đến tiếp nhận người học thực tập và làm việc. Các mô hình đào tạo kép, đào tạo theo đơn đặt hàng, theo chuỗi cung ứng lao động được mở rộng, giúp rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động, từng bước hình thành mối liên thông chặt chẽ giữa nhà trường và thị trường lao động.
Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng lần thứ XIV cũng nêu rõ, trong nhiệm kỳ vừa qua, công tác quản lý nhà nước về giáo dục tiếp tục được đổi mới theo hướng bảo đảm chất lượng, hiệu quả, đồng bộ, thống nhất, gắn với phân công, phân cấp, phân quyền hợp lý. Quản trị các cơ sở giáo dục được đổi mới theo hướng tăng cường quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình, đặc biệt đối với GDNN và giáo dục đại học; cơ chế, chính sách tài chính và đầu tư cho giáo dục, đào tạo từng bước được đổi mới theo hướng căn bản hơn. Trên cơ sở đó, khi được trao quyền chủ động trong xây dựng chương trình, hợp tác với doanh nghiệp và huy động nguồn lực xã hội, các cơ sở GDNN có điều kiện điều chỉnh hoạt động đào tạo sát hơn với biến động của thị trường lao động, nâng cao hiệu quả đào tạo và khả năng đáp ứng nhu cầu nhân lực của nền kinh tế.
Từ góc nhìn thực tiễn của cơ sở đào tạo, trao đổi với chúng tôi, TS Phạm Xuân Khánh, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội cho biết: “Những con số về chuyển dịch cơ cấu lao động và tỷ lệ lao động qua đào tạo trong dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV phản ánh sự dịch chuyển có tính cấu trúc của thị trường lao động Việt Nam. GDNN hiện nay không còn là “tầng đào tạo bổ trợ” mà đã trở thành trụ cột chiến lược trong phát triển nguồn nhân lực. Vai trò của GDNN là trực tiếp hình thành đội ngũ nhân lực kỹ thuật và nhân lực trung gian trình độ cao. Nếu không có lực lượng này, nhiều định hướng lớn rất dễ dừng lại ở chủ trương”.
TS Phạm Xuân Khánh cho rằng chất lượng GDNN phải được đo bằng khả năng người học làm chủ công nghệ, thích ứng nhanh với biến đổi của sản xuất, kinh doanh và có năng lực học tập suốt đời. Việc làm của sinh viên không phải kết quả ngẫu nhiên sau tốt nghiệp mà phải được “thiết kế trước” trong suốt quá trình đào tạo. Khi doanh nghiệp tham gia từ khâu xây dựng chương trình, giảng dạy, đánh giá kỹ năng đến tuyển dụng, thị trường lao động sẽ dịch chuyển từ tình trạng thiếu lao động kỹ năng sang cạnh tranh bằng chất lượng nhân lực, qua đó nâng cao năng suất và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp
Trong bối cảnh chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trên nền tảng khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực đã trở thành yếu tố quyết định năng lực tự chủ, tự cường và sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Thị trường lao động vì thế không đơn thuần là nơi “tiêu thụ” lao động sau đào tạo mà phản ánh trực tiếp trình độ phát triển, năng lực cạnh tranh cùng khả năng làm chủ công nghệ của nền kinh tế. Vì vậy, GDNN giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lực lượng lao động kỹ năng cao.
Thực tiễn thị trường lao động thời gian qua cho thấy, bên cạnh những chuyển biến tích cực, vẫn tồn tại những “điểm nghẽn” lớn về chất lượng và cơ cấu lao động. Chất lượng đào tạo giữa các cơ sở GDNN chưa đồng đều; một số chương trình chất lượng cao chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về ngoại ngữ, kỹ năng mềm, tác phong công nghiệp và khả năng thích ứng công nghệ. Đáng chú ý, cả nước hiện vẫn còn khoảng 38 triệu lao động chưa được đào tạo bài bản tạo ra sự lệch pha cung-cầu trên thị trường lao động, khiến nhiều doanh nghiệp thiếu lao động có kỹ năng trong khi một bộ phận người lao động khó tiếp cận việc làm ổn định.
Nhiệm kỳ tới, dự thảo xác định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới. Tăng cường định hướng nghề nghiệp ngay từ bậc học phổ thông. Phát triển các trường đào tạo nghề chất lượng cao ngang tầm khu vực và thế giới. Điều này đòi hỏi đào tạo nghề phải đi trước một bước trong dự báo và chuẩn bị nguồn nhân lực cho thị trường lao động tương lai, đặc biệt ở các ngành công nghiệp công nghệ cao, kinh tế số và các lĩnh vực chiến lược.
GDNN cần tiếp tục đổi mới chương trình, đẩy mạnh chuyển đổi số trong đào tạo, hoàn thiện cơ chế liên thông và công nhận kỹ năng, tạo điều kiện để người lao động học tập suốt đời và dịch chuyển linh hoạt trên thị trường lao động. Cùng với đó, việc gắn kết giữa Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp phải được nâng lên thành cơ chế đồng hành có trách nhiệm. Theo đó, các tổ chức doanh nghiệp không chỉ tham gia xây dựng chương trình đào tạo mà còn tiếp nhận đào tạo, đào tạo lại người học, tài trợ học bổng và tuyển dụng sau khi ra trường. Nhà trường cũng thiết lập đội ngũ tư vấn việc làm, hỗ trợ các em rèn kỹ năng mềm, khởi nghiệp và lập nghiệp, tạo cầu nối bền chặt giữa đào tạo và thị trường lao động.
Về lâu dài, GDNN cần được đặt trong tổng thể xây dựng thị trường lao động linh hoạt, đồng bộ, hiện đại và hội nhập, tạo điều kiện để người lao động học tập suốt đời, nâng cao trình độ và dịch chuyển linh hoạt giữa các ngành nghề, lĩnh vực. Khi đào tạo nghề thực sự gắn với nhu cầu phát triển của nền kinh tế và thị trường lao động, GDNN sẽ không chỉ góp phần giải quyết việc làm mà còn trực tiếp nâng cao năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh quốc gia, củng cố nền tảng tự chủ của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.
(còn nữa)
Huyền Trang (Báo Quân đội Nhân dân)



