Lào Cai: Để quyền lực được kiểm soát chặt chẽ, thực chất, hiệu quả – từ kết quả tự giám sát đến những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Kiểm soát quyền lực là một trong những yêu cầu quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, gắn chặt với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong điều kiện tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, yêu cầu đặt ra không chỉ là trao quyền đầy đủ để các cấp, các ngành chủ động thực hiện nhiệm vụ, mà đồng thời phải thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và tăng cường kiểm tra, giám sát đối với việc thực thi quyền lực.
Đối với Lào Cai, yêu cầu này càng có ý nghĩa trong bối cảnh tỉnh vừa thực hiện hợp nhất, sắp xếp lại tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Với diện tích trên 13.256 km², dân số trên 1,78 triệu người, 99 đơn vị hành chính cấp xã; Đảng bộ tỉnh có 105 đảng bộ trực thuộc, 1.864 tổ chức cơ sở đảng và trên 125 nghìn đảng viên, phạm vi quản lý rộng, khối lượng công việc lớn, nhiều nhiệm vụ, thẩm quyền và quan hệ phối hợp được điều chỉnh. Cùng với đó là yêu cầu xử lý tài sản công, các dự án tồn đọng, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền lực được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm, công khai, minh bạch và hiệu quả.
Nhận thức rõ yêu cầu đó, thời gian qua, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đồng bộ các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; gắn kiểm soát quyền lực với từng lĩnh vực, từng khâu công tác và trách nhiệm của người đứng đầu.
Từng bước hoàn thiện cơ chế để kiểm soát quyền lực ngay từ bên trong
Một trong những kết quả nổi bật là các quy định về kiểm soát quyền lực từng bước được cụ thể hóa phù hợp với tổ chức bộ máy, phân cấp quản lý và thực tiễn của tỉnh. Trên cơ sở các quy định của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành các quy định cụ thể về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ; kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán; điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; xây dựng pháp luật; quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.
Cùng với đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đã ban hành 622 văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện; rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới 200 quy định, quy chế, quy trình nội bộ. Trọng tâm là làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu; nhận diện những hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn và những khâu, lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Việc quán triệt cũng được triển khai rộng khắp, với 22.109 hội nghị, cuộc quán triệt, tuyên truyền, phổ biến và sinh hoạt chuyên đề; tập trung làm rõ nguyên tắc, nội dung, phương thức kiểm soát quyền lực, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu và cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ.
.png)
Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ
Công tác cán bộ được xác định là một trong những lĩnh vực trọng tâm cần kiểm soát chặt chẽ. Tỉnh đã cụ thể hóa trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu, cơ quan tham mưu và nhân sự trong từng khâu; tăng cường kiểm soát việc đề xuất, nhận xét, đánh giá, thẩm định nhân sự, hồ sơ nhân sự và việc bố trí cán bộ có quan hệ gia đình.
Việc đánh giá, quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, bố trí, sử dụng cán bộ được thực hiện theo nguyên tắc, thẩm quyền, tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình. Trong kỳ báo cáo, tỉnh đã thẩm định, ban hành kết luận tiêu chuẩn chính trị đối với 543 lượt cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; 42/42 đơn, thư liên quan đến nhân sự được xử lý, giải quyết, không để tồn đọng kéo dài ảnh hưởng đến công tác cán bộ.
Việc bố trí cán bộ không là người địa phương tiếp tục được thực hiện nhằm phòng ngừa cục bộ, khép kín. Hiện nay, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Chánh Thanh tra tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh không là người địa phương; 99/99 bí thư cấp ủy cấp xã, 97/99 chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, 99/99 chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp xã và 91/99 chỉ huy trưởng quân sự cấp xã không là người địa phương. Kiểm tra, giám sát công tác cán bộ được thực hiện thường xuyên. Cấp ủy, chi bộ và ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra, giám sát chuyên đề đối với 1.927 tổ chức đảng, 8.453 đảng viên; những sai sót được phát hiện qua kiểm tra được yêu cầu khắc phục, trong đó 12/12 trường hợp có sai sót trong quy trình tuyển dụng, tiếp nhận cán bộ, công chức, viên chức đã hoàn thành khắc phục.
.png)
Tăng kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực
Kiểm soát quyền lực được gắn chặt với công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán và trách nhiệm tự kiểm tra, tự rà soát của từng cơ quan, đơn vị. Trong kỳ, toàn tỉnh đã thực hiện 98 cuộc kiểm tra, 143 cuộc giám sát việc thực hiện các quy định về kiểm soát quyền lực và các nội dung có liên quan; qua đó kịp thời chấn chỉnh hạn chế, thiếu sót, yêu cầu khắc phục sơ hở trong quy định, quy chế, quy trình và xem xét trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân có vi phạm.
Riêng từ ngày 01/7/2025 đến nay, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra 437 tổ chức đảng, 4.207 đảng viên; giám sát 627 tổ chức đảng, 2.466 đảng viên; kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 03 tổ chức đảng, 12 đảng viên; thi hành kỷ luật 03 tổ chức đảng và 96 đảng viên.
Hoạt động thanh tra tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đồng thời chú trọng xử lý chồng chéo giữa thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Toàn tỉnh đã triển khai 92 cuộc thanh tra tại 214 cơ quan, đơn vị; qua thanh tra phát hiện sai phạm về kinh tế 32,318 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi 20,316 tỷ đồng, đã thu hồi 18,390 tỷ đồng, đạt 90,52%. Cùng với phát hiện, xử lý vi phạm, tỉnh chú trọng kiểm soát chính hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra; tăng cường giám sát đoàn thanh tra, thẩm định dự thảo kết luận và kiểm soát xung đột lợi ích, nhằm bảo đảm hoạt động kiểm tra, giám sát được thực hiện khách quan, đúng thẩm quyền, không bị can thiệp, tác động trái quy định.
Kiểm soát quyền lực xuyên suốt trong hoạt động tư pháp
Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, yêu cầu kiểm soát quyền lực được gắn với từng khâu của quá trình tố tụng; tập trung kiểm soát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, giải quyết kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm của người đứng đầu.
Công an tỉnh đã kiểm tra, hướng dẫn việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra tại 10 đơn vị Công an cấp xã, kiểm tra đột xuất 02 đơn vị; tiếp nhận, thẩm định 145 hồ sơ tố tụng; trực tiếp kiểm tra căn cứ trước khi ban hành quyết định tố tụng đối với 258 lượt vụ việc, vụ án. Việc ứng dụng công nghệ được đẩy mạnh, với trên 90% nhiệm vụ được theo dõi, giám sát trên môi trường điện tử; 100% trình tự, thủ tục trong điều tra hình sự được thực hiện trên môi trường điện tử.
.jpg)
Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tăng cường kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết các vụ án, vụ việc; qua công tác kiểm sát đã ban hành 07 kháng nghị, 258 kiến nghị, trong đó có 199 kiến nghị khắc phục vi phạm và 59 kiến nghị phòng ngừa.
Tòa án nhân dân tỉnh đã tổ chức 03 đợt kiểm tra đối với 837 hồ sơ đã có hiệu lực pháp luật tại 9/9 Tòa án nhân dân khu vực, đồng thời kiểm tra thường xuyên 7.631 bản án, quyết định. Trong hoạt động thi hành án dân sự, công tác kiểm tra, tự kiểm tra, điều động, chuyển đổi vị trí công tác và giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp tục được tăng cường.
Qua đó, việc thực hiện quyền lực trong các cơ quan tư pháp từng bước được đặt trong cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên, gắn trách nhiệm của từng chức danh tư pháp và người đứng đầu với tiến độ, chất lượng giải quyết vụ án, vụ việc.
Kiểm soát quyền lực ngay từ khâu xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
Cùng với các lĩnh vực cán bộ, kiểm tra, thanh tra và tư pháp, tỉnh chú trọng kiểm soát quyền lực trong công tác xây dựng pháp luật, nhất là trong bối cảnh phải đồng thời hoàn thiện hệ thống văn bản sau hợp nhất và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Việc kiểm soát được thực hiện ngay từ khâu xây dựng chính sách, dự thảo văn bản; chú trọng đánh giá sự cần thiết, tính hợp pháp, hợp lý của thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh và chi phí tuân thủ. 100% sở, ngành được giao xây dựng dự thảo văn bản có quy định thủ tục hành chính đã thực hiện đánh giá tác động thủ tục hành chính.
Hội đồng nhân dân tỉnh đã thông qua 33 nghị quyết quy phạm pháp luật; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 63 quyết định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 02 quyết định. Tỉnh đã tự kiểm tra 65/65 quyết định do Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành; kiểm tra 26/26 nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã và 38/38 quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã. Đồng thời, công tác rà soát hệ thống văn bản được đẩy mạnh để kịp thời phát hiện, xử lý những quy định không còn phù hợp, chồng chéo, bất cập; qua đó vừa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, vừa phòng ngừa nguy cơ lợi ích nhóm, cục bộ hoặc lãng phí nguồn lực ngay từ quá trình xây dựng và tổ chức thi hành chính sách.
Siết chặt quản lý tài chính, tài sản công, khơi thông nguồn lực đang bị tồn đọng
Quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công là lĩnh vực được tỉnh đặc biệt chú trọng kiểm soát. Việc phân cấp, giao quyền được gắn với xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, đơn vị và người đứng đầu; tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý ngân sách, đầu tư công, mua sắm, đất đai và tài sản công.
Sau sắp xếp tổ chức bộ máy, toàn tỉnh đã xử lý, khai thác 559/604 cơ sở nhà, đất dôi dư, đạt 92,5%; 45 cơ sở còn lại đang tiếp tục xử lý. Đối với các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài, tỉnh đã rà soát 583 dự án, xử lý, tháo gỡ 402 dự án, đạt 69%; 181 dự án còn lại tiếp tục được rà soát, xử lý. Công tác quản lý đầu tư công được kiểm soát từ khâu phân bổ, giao vốn đến thực hiện, giải ngân; thường xuyên rà soát để điều chỉnh, điều chuyển vốn đối với những dự án không bảo đảm tiến độ. Đến ngày 06/9/2026, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt 57,3% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Đáng chú ý, tỉnh đang từng bước chuyển phương thức kiểm soát từ chủ yếu dựa trên báo cáo, hồ sơ sang khai thác dữ liệu. Việc thí điểm “giám sát trên dữ liệu số” đối với quản lý tài sản công và quỹ đất công đang được nghiên cứu, chuẩn bị triển khai, hướng tới khả năng theo dõi, đối chiếu và cảnh báo sớm những bất cập, nguy cơ vi phạm, thất thoát, lãng phí.
Trước yêu cầu đó, thời gian tới cần tập trung thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu và cán bộ, đảng viên về kiểm soát quyền lực. Kiểm soát quyền lực phải được thực hiện thường xuyên trong từng cơ quan, đơn vị, từng khâu công tác; gắn với trách nhiệm nêu gương, kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm công vụ. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm không chỉ đối với việc thực hiện quyền hạn của mình mà còn đối với việc tổ chức cơ chế kiểm soát trong phạm vi được giao quản lý.
Hai là, tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy chế, quy định, quy trình nội bộ sau sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Phân cấp, phân quyền phải đi đôi với kiểm tra, giám sát; bảo đảm rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ quy trình và rõ cơ chế kiểm soát. Đối với những khâu có nguy cơ phát sinh lợi ích nhóm, xung đột lợi ích, lợi dụng hoặc lạm dụng quyền lực phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ ngay từ bên trong.
Ba là, tăng cường tự kiểm tra, tự rà soát, chủ động nhận diện và phòng ngừa nguy cơ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từ sớm, từ xa. Kiểm tra, giám sát cần tập trung vào những lĩnh vực, vị trí và khâu công tác dễ phát sinh vi phạm; đồng thời tăng cường phối hợp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, nội chính, tư pháp và các cơ quan có liên quan, hạn chế khoảng trống trong kiểm soát quyền lực.
Bốn là, tập trung giải quyết dứt điểm các kết luận, kiến nghị sau kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán. Đối với từng nội dung còn tồn đọng phải xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm, tiến độ và thời hạn hoàn thành; tập trung vào những vấn đề liên quan đến đất đai, đầu tư xây dựng, tài chính, tài sản công, bồi thường, giải phóng mặt bằng và các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài. Kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị phải trở thành một căn cứ để xem xét trách nhiệm của tập thể, cá nhân và người đứng đầu.
Năm là, tiếp tục siết chặt kiểm soát trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công và đầu tư công; đẩy nhanh xử lý nhà, đất, tài sản dôi dư và các dự án tồn đọng, đưa nguồn lực vào khai thác, sử dụng hiệu quả. Việc phòng, chống lãng phí phải gắn với kiểm soát quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực, không để tài sản công bỏ trống, vốn chậm đưa vào sử dụng hoặc dự án kéo dài làm giảm hiệu quả nguồn lực của Nhà nước.
Sáu là, đẩy mạnh chuyển đổi số, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ kiểm soát quyền lực. Từng bước triển khai phương thức “giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu”, trước hết trong quản lý tài sản công, quỹ đất công và những lĩnh vực có dữ liệu đủ điều kiện kết nối; qua đó chuyển dần từ phát hiện vi phạm sau khi xảy ra sang theo dõi, nhận diện, cảnh báo nguy cơ ngay trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Kiểm soát quyền lực hiệu quả không chỉ nằm ở việc phát hiện và xử lý vi phạm, mà quan trọng hơn là xây dựng được cơ chế để quyền lực được thực hiện đúng ngay từ đầu, phòng ngừa nguy cơ lợi dụng, lạm dụng quyền lực ngay trong từng quy trình, từng khâu công tác. Thực hiện đồng bộ giữa hoàn thiện cơ chế, tăng cường kiểm tra, giám sát, đề cao trách nhiệm người đứng đầu và ứng dụng dữ liệu sẽ là cơ sở để Lào Cai tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đồng thời bảo đảm phân cấp, phân quyền thực sự gắn với trách nhiệm và kiểm soát quyền lực.


