LÀO CAI: ĐƯA CÔNG NGHỆ SINH HỌC TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP XANH, BỀN VỮNG
Phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên sinh học phong phú và những sản phẩm nông, lâm nghiệp đặc trưng, tỉnh Lào Cai xác định phát triển công nghiệp sinh học là một trong những hướng đi quan trọng nhằm nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng xanh và bảo vệ môi trường. Với tư duy phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và khai thác hiệu quả tiềm năng bản địa, Lào Cai hướng tới xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế và nâng cao đời sống Nhân dân.
Khơi dậy tiềm năng, tạo động lực tăng trưởng mới từ công nghệ sinh học
Trong xu thế chuyển đổi mô hình tăng trưởng, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò quyết định đối với năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với nông nghiệp, công nghệ sinh học không chỉ mở ra khả năng nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn góp phần giải quyết những thách thức về tài nguyên, môi trường, an toàn thực phẩm và biến đổi khí hậu.
Đối với tỉnh Lào Cai, phát triển công nghiệp sinh học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, xuất phát từ chính những tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của địa phương.
Là tỉnh miền núi có điều kiện địa hình, khí hậu và hệ sinh thái đa dạng, Lào Cai sở hữu nguồn tài nguyên sinh học phong phú, nhiều giống cây trồng, vật nuôi bản địa và sản phẩm nông nghiệp đặc trưng có giá trị kinh tế cao. Những vùng sản xuất lúa chất lượng cao, chè, quế, cây ăn quả ôn đới, dược liệu, cây lâm nghiệp, cùng các sản phẩm chăn nuôi và thủy sản đặc sản đã tạo nên bản sắc riêng của nông nghiệp Lào Cai.
Tuy nhiên, lợi thế tự nhiên chỉ thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh khi được kết hợp với khoa học, công nghệ, phương thức tổ chức sản xuất hiện đại và khả năng tiếp cận thị trường. Đây chính là yêu cầu đặt ra đối với quá trình chuyển đổi từ nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, lao động và sản lượng sang nền nông nghiệp dựa trên tri thức, công nghệ, chất lượng và giá trị gia tăng.
Từ nhận thức đó, Lào Cai xác định phát triển công nghiệp sinh học không đơn thuần là ứng dụng một số tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất mà phải từng bước hình thành nền tảng công nghệ quan trọng, phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp, bảo vệ môi trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Điểm đáng chú ý trong định hướng của tỉnh là phát triển công nghệ sinh học gắn chặt với những sản phẩm có lợi thế, nhu cầu thực tiễn của người sản xuất và khả năng thương mại hóa. Thay vì đầu tư nghiên cứu dàn trải, Lào Cai ưu tiên những công nghệ có thể giải quyết trực tiếp các vấn đề về giống, năng suất, chất lượng, phòng chống dịch bệnh, bảo quản, chế biến, xử lý chất thải và nâng cao giá trị sản phẩm.
Đây là sự chuyển biến quan trọng về tư duy phát triển: lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo, lấy doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất làm trung tâm tiếp nhận công nghệ, lấy thị trường làm động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu xây dựng, thử nghiệm và chuyển giao từ 5 đến 10 mô hình ứng dụng công nghệ sinh học có hiệu quả, có khả năng nhân rộng; nghiên cứu, tuyển chọn, phục tráng hoặc chuyển giao từ 5 đến 8 giống, nguồn giống có giá trị, phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương.
Giai đoạn 2031 - 2035, Lào Cai hướng tới phát triển từ 15 đến 20 mô hình ứng dụng công nghệ sinh học, hình thành từ 3 đến 5 chuỗi giá trị hoặc nhóm sản phẩm công nghiệp sinh học chủ lực, có khả năng cung ứng ổn định cho thị trường trong nước và từng bước tiếp cận thị trường xuất khẩu.
Xa hơn, đến năm 2045, tỉnh phấn đấu trở thành địa phương có hệ sinh thái ứng dụng và phát triển công nghiệp sinh học nông nghiệp, môi trường thuộc nhóm phát triển khá của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
Những mục tiêu này thể hiện quyết tâm đưa khoa học, công nghệ trở thành động lực phát triển thực chất, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, đồng thời tạo nền tảng cho một nền nông nghiệp hiện đại, có khả năng thích ứng và phát triển bền vững.
Phát triển công nghiệp sinh học trên nền tảng những giá trị đặc hữu của Lào Cai
Nét riêng trong định hướng phát triển công nghiệp sinh học của Lào Cai là sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại với bảo tồn, khai thác hợp lý tài nguyên sinh học bản địa. Trong đó, các ngành hàng đặc trưng như quế, chè, dược liệu, cây ăn quả ôn đới, cây lâm nghiệp và thủy sản nước lạnh được xác định là những lĩnh vực ưu tiên.
Đối với cây quế, một trong những sản phẩm lâm nghiệp có lợi thế của tỉnh, ứng dụng công nghệ sinh học không chỉ nhằm nâng cao chất lượng giống, khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh mà còn hướng tới phát triển các sản phẩm chế biến sâu, tinh dầu và sản phẩm sinh học có giá trị gia tăng cao.
Tương tự, đối với cây chè, lúa chất lượng cao và cây ăn quả ôn đới, tỉnh chú trọng ứng dụng công nghệ tế bào, nuôi cấy mô, vi nhân giống, chọn giống phù hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu điều kiện bất lợi và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đặc biệt, phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực dược liệu được xem là hướng đi có nhiều triển vọng. Với sự đa dạng về khí hậu, thổ nhưỡng và nguồn gen thực vật, Lào Cai có điều kiện phát triển những vùng dược liệu đặc trưng, gắn sản xuất nguyên liệu với chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.
Tỉnh định hướng ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo tồn, phục tráng, nhân giống các loài dược liệu quý, đồng thời phát triển sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, mỹ phẩm và những sản phẩm sinh học có giá trị kinh tế cao.
Một nội dung có ý nghĩa lâu dài là từng bước xây dựng dữ liệu đặc trưng di truyền, mã vạch ADN đối với một số nguồn gen lâm nghiệp, dược liệu bản địa, quý hiếm. Đây không chỉ là giải pháp phục vụ nghiên cứu, bảo tồn đa dạng sinh học mà còn tạo cơ sở khoa học cho việc giám định, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ và phát triển thương hiệu sản phẩm đặc trưng của Lào Cai.
Trong phát triển lâm nghiệp, tỉnh ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học đối với các loài cây chủ lực như quế, keo, bồ đề; nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh, phân bón sinh học, giải pháp cải tạo đất và phòng trừ sâu bệnh theo hướng thân thiện với môi trường.
Đến năm 2030, tại các khu vực, mô hình lâm nghiệp được lựa chọn triển khai, Lào Cai phấn đấu tỷ lệ sử dụng chế phẩm sinh học trong phòng trừ sâu bệnh hại rừng đạt khoảng 30 - 40%.
Cùng với đó, phát triển dược liệu dưới tán rừng được định hướng trên nguyên tắc bảo đảm hài hòa giữa lợi ích kinh tế và bảo tồn hệ sinh thái, không làm suy giảm diện tích, chất lượng, chức năng của rừng và đa dạng sinh học.
Đây là cách tiếp cận có ý nghĩa đối với một tỉnh miền núi: rừng không chỉ là tài nguyên cần bảo vệ mà còn có thể trở thành không gian phát triển sinh kế bền vững, nơi giá trị kinh tế được tạo ra từ việc gìn giữ và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
Đối với chăn nuôi và thủy sản, công nghệ sinh học được định hướng ứng dụng trong chọn lọc, nâng cao chất lượng giống bản địa, chẩn đoán nhanh, phòng chống dịch bệnh, quản lý môi trường và sử dụng vi sinh vật có lợi.
Riêng thủy sản nước lạnh, một lợi thế gắn với điều kiện sinh thái đặc thù của Lào Cai, việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất giống, kiểm soát chất lượng nước, phòng bệnh và bảo đảm an toàn sinh học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, giảm rủi ro và phát triển sản phẩm có sức cạnh tranh.
Có thể thấy, định hướng phát triển công nghiệp sinh học của Lào Cai không chạy theo những lĩnh vực công nghệ xa rời thực tiễn mà bắt đầu từ chính thế mạnh của địa phương, lấy giá trị bản địa làm nền tảng và công nghệ hiện đại làm phương tiện nâng tầm giá trị.
Chuyển từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang kinh tế sinh học, kinh tế tuần hoàn
Một trong những yêu cầu quan trọng đối với phát triển nông nghiệp Lào Cai là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Trong điều kiện sản xuất nông nghiệp còn phân tán ở một số địa bàn, chi phí đầu vào, nguy cơ dịch bệnh, phụ phẩm sau thu hoạch và chất thải chăn nuôi đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức sản xuất theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu.
Công nghệ sinh học mở ra hướng giải quyết những vấn đề này thông qua ứng dụng vi sinh vật có ích, phân bón hữu cơ - vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, chế phẩm xử lý phụ phẩm, chất thải và phục hồi môi trường.
Điểm cốt lõi là từng bước chuyển đổi tư duy từ xử lý chất thải sang khai thác giá trị của phụ phẩm, coi phụ phẩm nông nghiệp là nguồn nguyên liệu đầu vào cho một chu trình sản xuất mới.
Theo định hướng của tỉnh, phụ phẩm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và chế biến nông sản sẽ được khuyến khích tận dụng để sản xuất phân hữu cơ, chế phẩm vi sinh, khí sinh học và các sản phẩm có giá trị khác.
Đến năm 2030, Lào Cai phấn đấu xây dựng từ 2 đến 3 mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải chăn nuôi, phụ phẩm trồng trọt, chế biến nông sản và nước thải khu vực nông thôn.
Đáng chú ý, tỉnh yêu cầu các mô hình ứng dụng phải được theo dõi, đánh giá hiệu quả kinh tế, kỹ thuật và môi trường; những mô hình có tác động đến môi trường cần có số liệu quan trắc phù hợp trước, trong và sau quá trình triển khai. Chỉ những mô hình chứng minh được hiệu quả, phù hợp khả năng tiếp nhận của người sản xuất và có đầu ra thị trường mới được xem xét nhân rộng.
Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu phát triển công nghiệp sinh học không chỉ dừng ở mục tiêu ứng dụng công nghệ mà còn hướng tới hiệu quả thực chất, tránh đầu tư hình thức, lãng phí nguồn lực.
Trong chăn nuôi và thủy sản, tỉnh xác định 100% mô hình thuộc phạm vi triển khai phải áp dụng các biện pháp an toàn sinh học phù hợp; tăng cường sử dụng vi sinh vật có lợi, giải pháp phòng bệnh, xử lý chất thải nhằm hạn chế việc sử dụng hóa chất, kháng sinh không cần thiết.
Việc hình thành những mô hình nông nghiệp hữu cơ, an toàn sinh học, tuần hoàn và phát thải thấp sẽ góp phần cải thiện môi trường sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tạo thêm giá trị kinh tế.
Đối với Lào Cai, phát triển kinh tế sinh học còn có ý nghĩa mở rộng không gian tăng trưởng ở khu vực nông thôn, nơi người dân vừa là chủ thể sản xuất, vừa trực tiếp hưởng lợi từ những tiến bộ khoa học, công nghệ.
Lấy doanh nghiệp, hợp tác xã và chuỗi giá trị làm trung tâm phát triển
Để công nghiệp sinh học thực sự trở thành động lực tăng trưởng, một yêu cầu có tính quyết định là đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm, gắn với sản xuất hàng hóa và nhu cầu thị trường.
Lào Cai xác định phát triển công nghiệp sinh học phải được tổ chức theo chuỗi liên kết từ nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, sản xuất giống, phát triển vùng nguyên liệu đến sơ chế, chế biến, tiêu thụ và thương mại hóa sản phẩm.
Trong chuỗi liên kết đó, doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt thị trường, hợp tác xã tổ chức sản xuất và kết nối người dân, các viện nghiên cứu, trường đại học cung cấp giải pháp khoa học, công nghệ, còn Nhà nước giữ vai trò định hướng, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi.
Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu hỗ trợ phát triển khoảng 3 - 5 doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia nghiên cứu, tiếp nhận, ứng dụng hoặc thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sinh học; hình thành ít nhất 2 mô hình chuỗi giá trị gắn nghiên cứu với sản xuất, chế biến và tiêu thụ.
Cùng với đó, Lào Cai hướng tới chuẩn hóa, từng bước số hóa tối thiểu 5 vùng sản xuất tập trung ứng dụng công nghệ, ưu tiên các vùng dược liệu, quế, chè và cây trồng chủ lực.
Việc số hóa vùng nguyên liệu gắn với mã số vùng trồng, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và thông tin thị trường sẽ tạo điều kiện nâng cao năng lực quản lý, minh bạch quá trình sản xuất và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Đặc biệt, đối với các sản phẩm OCOP, nông sản chủ lực và sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu, ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo quản, chế biến, kiểm định chất lượng và an toàn thực phẩm được xác định là giải pháp quan trọng nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị gia tăng.
Tỉnh cũng chú trọng kết hợp công nghệ sinh học với chuyển đổi số, ứng dụng hệ thống thông tin địa lý, cảm biến, công nghệ giám sát và các nền tảng dữ liệu dùng chung trong quản lý vùng sản xuất.
Đây là hướng phát triển phù hợp với yêu cầu xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, trong đó giá trị sản phẩm không chỉ được quyết định bởi sản lượng mà còn bởi chất lượng, tính minh bạch, khả năng truy xuất nguồn gốc và mức độ đáp ứng tiêu chuẩn thị trường.
Hướng tới nền nông nghiệp xanh, hiện đại và sinh kế bền vững
Phát triển công nghiệp sinh học là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực, cơ chế hỗ trợ và phương thức tổ chức sản xuất.
Đối với Lào Cai, một trong những nhiệm vụ quan trọng là nâng cao năng lực tiếp nhận và ứng dụng công nghệ tại cơ sở, nhất là đối với cán bộ kỹ thuật, hệ thống khuyến nông, doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân.
Tỉnh chú trọng phát huy vai trò của các tổ khuyến nông cộng đồng, tăng cường đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật trực tiếp, xây dựng mô hình trình diễn và chuyển giao công nghệ phù hợp với điều kiện từng vùng sinh thái.
Đồng thời, đẩy mạnh liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài tỉnh nhằm tận dụng nguồn lực khoa học, từng bước nâng cao khả năng tiếp nhận, cải tiến và làm chủ công nghệ.
Một yêu cầu xuyên suốt là lựa chọn công nghệ phù hợp, dễ tiếp nhận, có hiệu quả kinh tế, khả năng nhân rộng và đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường. Phát triển công nghiệp sinh học không đồng nghĩa với đầu tư bằng mọi giá, mà phải hướng tới sử dụng hiệu quả nguồn lực và tạo ra giá trị thực tế.
Với đặc thù địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc đưa công nghệ sinh học vào sản xuất còn phải gắn với bảo đảm sinh kế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực.
Thành công của công nghiệp sinh học vì thế không chỉ được đo bằng số lượng công nghệ hay mô hình được chuyển giao, mà quan trọng hơn là mức độ thay đổi phương thức sản xuất, giá trị sản phẩm, thu nhập của người dân và chất lượng môi trường sống.
Từ những vùng quế, chè, dược liệu đến các khu vực sản xuất lúa chất lượng cao, chăn nuôi, thủy sản nước lạnh, công nghệ sinh học được kỳ vọng tạo nên những chuyển biến mới, góp phần hình thành các chuỗi sản xuất xanh, an toàn, có giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao.
Trong hành trình phát triển mới, Lào Cai đang hướng tới sự kết hợp hài hòa giữa tri thức khoa học hiện đại với giá trị tài nguyên bản địa, giữa tăng trưởng kinh tế với bảo tồn đa dạng sinh học, giữa phát triển sản xuất với nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đó không chỉ là hướng đi để nâng tầm những sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, mà còn là nền tảng quan trọng để Lào Cai từng bước xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, bền vững; phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo động lực tăng trưởng mới và đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nhanh, xanh, bền vững của tỉnh trong những thập niên tới.


