Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

2.814 lượt ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân cả nước gửi đến kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI

(Mặt trận) - Chuẩn bị cho kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp với Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân cả nước từ sau kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đến nay. Qua nắm bắt tình hình cử tri và Nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận; thông qua tiếp xúc cử tri và Nhân dân của các Đoàn đại biểu Quốc hội, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi tới kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI cụ thể như sau:

Bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam trình bày Báo cáo một số nội dung chủ yếu tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân cả nước gửi tới Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Quang Vinh

Chuẩn bị cho kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp với Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân cả nước từ sau kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đến nay. Qua nắm bắt tình hình cử tri và Nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận; thông qua tiếp xúc cử tri và Nhân dân của các Đoàn đại biểu Quốc hội. Gồm 2.814 lượt ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân cả nước tổng hợp từ 34/34 báo cáo của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố và báo cáo của các tổ chức thành viên của Mặt trận, các ban, đơn vị của cơ quan Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam; ý kiến của các vị Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; báo cáo tổng hợp kiến nghị của cử tri của 16 Đoàn Đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố; bản tập hợp về ý kiến, kiến nghị của Nhân dân là 150 trang; phản ánh, kiến nghị của Nhân dân trên nền tảng Mặt trận số là 2.805 ý kiến.

Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi tới kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI cụ thể như sau:

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1. Cử tri và Nhân dân đánh giá cao quyết tâm chính trị, tư duy đột phá, mang tầm chiến lược của Đảng, Nhà nước và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong lãnh đạo, chỉ đạo, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Ngay sau thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIV và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, sự đồng hành của Quốc hội, sự linh hoạt, quyết liệt trong điều hành của Chính phủ. Cùng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân đất nước ta đã vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giữ vững ổn định chính trị, chủ quyền quốc gia, tập trung triển khai hoàn thành khối lượng lớn các nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và hoàn thiện thể chế. Kết quả trong 9 tháng của năm 2026 tăng trưởng kinh tế của nước ta đạt 9,01% (quý 3 là 9,95%) trong đó có nhiều tỉnh, thành phố đạt tăng trưởng kinh tế trên 10%. Quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, đời sống Nhân dân tiếp tục được cải thiện.

Đặc biệt, ngay tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thực hiện công tác lập pháp, xem xét, quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước, thể hiện tinh thần chủ động, quyết liệt ngay từ đầu nhiệm kỳ. Cử tri và Nhân dân ghi nhận những chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật, tạo động lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời chuyển mạnh trọng tâm sang tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm các luật, nghị quyết và chính sách được triển khai kịp thời, đồng bộ, thống nhất, thực sự đi vào cuộc sống, mang lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp.

Cử tri và Nhân dân ghi nhận những chuyển biến tích cực trong sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Tình hình tư tưởng, dư luận xã hội nhìn chung ổn định; niềm tin, sự đồng thuận trong các tầng lớp Nhân dân tiếp tục được củng cố. Cử tri và Nhân dân kỳ vọng các nghị quyết, chủ trương lớn của Đảng tiếp tục được thể chế hóa đồng bộ, tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả, tạo chuyển biến rõ nét trong đời sống Nhân dân và sự phát triển của đất nước.

2. Cử tri và Nhân dân quan tâm theo dõi, đánh giá cao kết quả các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đặc biệt là Hội nghị lần thứ ba và Hội nghị lần thứ tư, với những quyết sách quan trọng về xây dựng Đảng, hoàn thiện hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội, ghi nhận tinh thần khẩn trương của các cấp, các ngành trong việc học tập, quán triệt, xây dựng chương trình hành động và từng bước thể chế hóa các nghị quyết, kết luận của Trung ương. Nhiều ý kiến đồng tình với định hướng hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình phát triển, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, gắn tăng trưởng với bảo đảm an sinh và nâng cao đời sống Nhân dân. Cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận những nỗ lực tháo gỡ rào cản đối với đầu tư, sản xuất, kinh doanh; hội viên, nông dân kỳ vọng các chính sách mới tạo thêm điều kiện cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và tiếp cận thành quả phát triển.

Cùng với sự đồng tình, điều cử tri và Nhân dân quan tâm là hiệu quả thực hiện. Các chủ trương, nghị quyết cần được cụ thể hóa bằng chính sách đồng bộ, dễ tiếp cận, có mục tiêu, nguồn lực, trách nhiệm và tiến độ rõ ràng; những khó khăn nảy sinh tại cơ sở phải được kịp thời tiếp nhận, giải thích và tháo gỡ. Đối với vùng miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nông thôn và các địa bàn mới sắp xếp, nhiều ý kiến mong muốn chính sách tính đến điều kiện về địa hình, hạ tầng, nhân lực và khả năng tiếp cận dịch vụ công. Người dân và doanh nghiệp kỳ vọng kết quả cải cách được thể hiện qua thủ tục thuận tiện hơn, thời gian giải quyết ngắn hơn, chi phí thấp hơn và quyền, lợi ích hợp pháp được bảo đảm tốt hơn; qua đó tiếp tục củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội.

3. Cử tri và Nhân dân đánh giá cao tinh thần đổi mới, trách nhiệm, khẩn trương và hành động của Quốc hội khóa XVI trong việc tổ chức Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất ngay từ đầu nhiệm kỳ để kịp thời xem xét, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, cấp thiết của đất nước.

Bên cạnh sự đồng tình, cử tri và Nhân dân cho rằng hiệu quả của công tác lập pháp không chỉ được đánh giá qua tiến độ, số lượng văn bản được ban hành mà quan trọng hơn là khả năng tổ chức thực hiện và tác động thực chất trong đời sống. Các luật, nghị quyết sau khi được Quốc hội thông qua cần sớm được quy định chi tiết, hướng dẫn và tổ chức thi hành thống nhất; chính sách phải rõ ràng, khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế ở cơ sở, không làm phát sinh thêm thủ tục, chi phí không cần thiết đối với người dân và doanh nghiệp. Một số ý kiến phản ánh vẫn còn tình trạng quy định đã có hiệu lực nhưng văn bản hướng dẫn, quy trình phối hợp hoặc các điều kiện bảo đảm thực hiện chưa đồng bộ, dẫn đến lúng túng, cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất, làm chậm quá trình giải quyết công việc. Cộng đồng doanh nghiệp đề nghị tăng cường theo dõi, giám sát việc thực hiện các luật, nghị quyết của Quốc hội, kịp thời khắc phục tình trạng cùng một chính sách nhưng có sự khác biệt trong cách áp dụng giữa các địa phương.

Cử tri và Nhân dân mong muốn Quốc hội tiếp tục nâng cao chất lượng xây dựng và hoàn thiện pháp luật, chú trọng đánh giá đầy đủ tác động của chính sách, mở rộng việc lấy ý kiến các nhóm chịu tác động trực tiếp và tiếp thu ý kiến phản biện xã hội ngay từ giai đoạn xây dựng chính sách. Hoạt động giám sát cần gắn chặt hơn với việc theo dõi kết quả thực hiện sau giám sát, nhất là đối với những chính sách tác động trực tiếp đến đời sống Nhân dân như đất đai, nhà ở, đầu tư, việc làm, y tế, giáo dục và an sinh xã hội; kịp thời phát hiện, xử lý những quy định chồng chéo, văn bản hướng dẫn chậm ban hành, cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất cũng như những vấn đề mới phát sinh sau sắp xếp tổ chức bộ máy. Nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục làm rõ tiến độ, trách nhiệm và kết quả giải quyết các kiến nghị của cử tri và Nhân dân đã gửi đến các kỳ họp trước; tăng cường theo dõi đến cùng việc thực hiện các nội dung đã được trả lời, hạn chế tình trạng kiến nghị đã được cơ quan có thẩm quyền trả lời nhưng vấn đề thực tế chưa được giải quyết dứt điểm.

4. Trước diễn biến phức tạp, khó lường của thiên tai, mưa bão trong 9 tháng năm 2026, cử tri và Nhân dân ghi nhận sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và sự chủ động của các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang trong phòng ngừa, ứng phó, cứu hộ, cứu nạn và khắc phục hậu quả. Việc huy động lực lượng, phương tiện, hỗ trợ người dân tại các khu vực bị ảnh hưởng đã góp phần hạn chế thiệt hại, từng bước ổn định đời sống và sản xuất.

Tuy nhiên, Nhân dân vẫn lo lắng trước mức độ ngày càng cực đoan của khí hậu, thiên tai, nhất là tại các địa bàn miền núi, ven sông, ven biển và những khu vực có nguy cơ cao; đề nghị tiếp tục nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, ứng phó, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản và các điều kiện thiết yếu của người dân. Công tác khắc phục hậu quả cần được triển khai kịp thời, gắn với phục hồi hạ tầng, sinh kế, sản xuất và ổn định đời sống Nhân dân; đồng thời quan tâm hoàn thiện cơ chế phối hợp, bố trí nguồn lực và nâng cao năng lực ứng phó ngay từ cơ sở, phù hợp với đặc điểm từng địa bàn.

Cùng với phòng, chống thiên tai, cử tri và Nhân dân ghi nhận việc triển khai các chính sách chăm lo người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật và các nhóm có hoàn cảnh khó khăn. Cử tri và Nhân dân, đông đảo hội viên phụ nữ, nông dân, đoàn viên, người lao động, quan tâm việc làm, thu nhập, bảo hiểm, nhà ở, tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục; mong muốn chính sách hỗ trợ đến đúng đối tượng, đúng thời điểm, nhất là tại địa bàn mới sắp xếp và vùng khó khăn.

5. Bên cạnh những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, cử tri và Nhân dân vẫn còn nhiều băn khoăn trước những áp lực trực tiếp đến đời sống, sinh kế và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Giá một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, chi phí nhà ở, đi lại, học tập và khám, chữa bệnh tiếp tục tạo sức ép đối với một bộ phận người dân, nhất là người có thu nhập thấp, công nhân, lao động tự do và các hộ gia đình còn nhiều khó khăn.

Cử tri và Nhân dân còn băn khoăn trước những khó khăn về sản xuất, kinh doanh, việc làm, thu nhập và đầu ra sản phẩm; đồng thời phản ánh người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế trong tiếp cận hạ tầng thiết yếu, y tế, giáo dục và các chính sách an sinh xã hội. Sau quá trình sắp xếp, kiện toàn và tinh gọn tổ chức bộ máy, cử tri và Nhân dân cũng đặc biệt quan tâm đến hiệu quả vận hành của chính quyền địa phương hai cấp, nhất là việc giải quyết thủ tục hành chính, khả năng tiếp nhận và xử lý công việc tại cơ sở, điều kiện làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; đồng thời đề nghị tiếp tục rà soát, tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình chuyển tiếp, bảo đảm bộ máy hoạt động thông suốt, gần dân, sát dân và không làm gián đoạn việc giải quyết các nhu cầu chính đáng của Nhân dân.

6. Cử tri và Nhân dân, trong đó có đồng bào ta ở nước ngoài, bày tỏ sự đồng tình đối với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đánh giá cao các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và kết quả mở rộng quan hệ với các đối tác. Nhiều ý kiến cho rằng việc kết hợp đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân đã góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tăng cường quan hệ hữu nghị, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam. Cử tri và Nhân dân kỳ vọng các kết quả đối ngoại tiếp tục phục vụ thiết thực mục tiêu phát triển đất nước và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.

Cộng đồng doanh nghiệp quan tâm đến khả năng mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và tiếp cận công nghệ thông qua hợp tác quốc tế. Hội viên, nông dân mong muốn ngoại giao kinh tế nhằm hỗ trợ tiêu thụ nông sản, giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu. Ở các địa phương, cử tri và Nhân dân kỳ vọng tăng cường hợp tác về khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa và du lịch, đồng thời tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp tri thức, kinh nghiệm và nguồn lực xây dựng quê hương. Đối với địa bàn biên giới, sự phối hợp giữa đối ngoại và phát triển hạ tầng, sinh kế, tuyên truyền pháp luật được Nhân dân quan tâm như một điều kiện để củng cố quan hệ láng giềng hữu nghị và giữ vững ổn định ở cơ sở.

7. Cùng với niềm tin vào triển vọng phát triển của đất nước, cử tri và Nhân dân bày tỏ lo ngại trước diễn biến phức tạp của tình hình địa chính trị, xung đột vũ trang, cạnh tranh chiến lược và những biến động trong quan hệ thương mại quốc tế. Các rủi ro về chuỗi cung ứng, vận tải, giá nguyên vật liệu và chính sách thuế quan của một số thị trường lớn được người dân, người lao động và doanh nghiệp quan tâm vì có thể ảnh hưởng đến sản xuất, xuất khẩu, việc làm, giá cả và sức mua trong nước.

Cộng đồng doanh nghiệp, nhất là các ngành phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu, quan tâm rủi ro tăng chi phí đầu vào, thay đổi đơn hàng và yêu cầu kỹ thuật, thương mại của đối tác. Người lao động lo ngại khả năng việc làm, tiền lương chịu sức ép khi doanh nghiệp thu hẹp sản xuất. Cử tri và Nhân dân mong muốn công tác dự báo, điều hành và thông tin thị trường được thực hiện chủ động, góp phần giữ ổn định kinh tế vĩ mô, nguồn cung các mặt hàng thiết yếu và đời sống Nhân dân.

Cử tri và Nhân dân cũng quan tâm các thách thức an ninh phi truyền thống như thiên tai cực đoan, dịch bệnh, tấn công mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao, việc kiểm soát các phim ngắn do trí tuệ nhân tạo tạo ra tác động tiêu cực đến nhận thức, hành vi của giới trẻ. Một số ý kiến đề nghị nâng cao năng lực dự báo, xây dựng phương án ứng phó theo từng tình huống, chủ động cung cấp thông tin chính thống để người dân nhận diện đúng nguy cơ và chuẩn bị phù hợp. Sự chủ động trong điều hành, bảo đảm an sinh và duy trì môi trường hòa bình, ổn định là những điều cử tri và Nhân dân tiếp tục quan tâm trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động.

II. VỀ MỘT SỐ LĨNH VỰC CỤ THỂ

1. Về phát triển kinh tế

Cử tri và Nhân dân ghi nhận nỗ lực điều hành của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương trong ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, thu hút đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng. Hoạt động công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch tại nhiều địa phương tiếp tục có chuyển biến; các chủ trương phát triển kinh tế tư nhân, cải cách thủ tục hành chính và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp tạo thêm niềm tin vào triển vọng phát triển giai đoạn 2026 -2030. Tuy nhiên, cử tri và Nhân dân mong muốn kết quả tăng trưởng được thể hiện rõ hơn ở việc làm, thu nhập và sức chống chịu của doanh nghiệp, hộ sản xuất trước biến động của thị trường thế giới. Đề nghị Chính phủ tiếp tục điều hành linh hoạt, nâng cao năng lực dự báo, đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng, đồng thời cụ thể hóa các chính sách hỗ trợ thành giải pháp dễ tiếp cận tại cơ sở.

Cử tri và Nhân dân quan tâm đến biến động giá xăng dầu, điện, nguyên vật liệu, cước vận tải và các mặt hàng thiết yếu; lãi suất vay quá cao, lại khó tiếp cận tín dụng và sức mua đang thị trường bất động sản sụt giảm. Chi phí sản xuất tăng trong khi sức mua ở một số thời điểm còn hạn chế; người lao động thu nhập thấp, hộ kinh doanh nhỏ và người dân vùng sâu, vùng xa chịu áp lực lớn hơn về chi tiêu sinh hoạt. Nông dân, ngư dân còn gặp tình trạng giá vật tư, nhiên liệu tăng nhưng giá bán sản phẩm không ổn định; có ý kiến phản ánh giá hàng hóa tăng theo giá nhiên liệu song giảm chậm khi giá nhiên liệu hạ. Cử tri và Nhân dân đề nghị theo dõi sát diễn biến giá, bảo đảm nguồn cung, công khai và giám sát việc điều hành giá điện; kiểm tra, xử lý hành vi đầu cơ, tăng giá bất hợp lý, hàng giả và vật tư sản xuất kém chất lượng; có biện pháp hỗ trợ phù hợp với nhóm chịu tác động trực tiếp.

Cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận một số ngân hàng đã triển khai sản phẩm tín dụng với thủ tục linh hoạt hơn và kỳ vọng vào các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dù vậy, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất và hộ kinh doanh vẫn khó vay vốn do yêu cầu về tài sản bảo đảm, hồ sơ chứng minh dòng tiền, thời gian xét duyệt và chi phí vốn. Có trường hợp đã có đơn hàng nhưng thiếu vốn lưu động để duy trì sản xuất; các cơ sở kinh doanh quy mô nhỏ càng hạn chế về nguồn lực. Cử tri và Nhân dân đề nghị công khai điều kiện, lãi suất và đầu mối tiếp nhận; đánh giá phương án kinh doanh, hợp đồng đầu ra, dòng tiền và khả năng trả nợ phù hợp với đặc điểm từng nhóm vay; tài chính chuỗi cung ứng và các chương trình vốn ưu đãi để chính sách đến được với doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất.

Cử tri, Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao việc đối thoại, phân cấp và số hóa thủ tục trong đầu tư, kinh doanh, song phản ánh quy định giữa các lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng và quản lý chuyên ngành còn giao thoa; một số hướng dẫn, quy định chuyển tiếp ban hành chậm, dữ liệu chưa liên thông khiến doanh nghiệp phải kê khai, nộp lại thông tin. Vướng mắc về hoàn thuế, nghĩa vụ thuế, mặt bằng, năng lượng và chi phí logistics làm giảm nguồn vốn quay vòng và khả năng mở rộng sản xuất; doanh nghiệp nhỏ còn chịu sức ép đáp ứng tiêu chuẩn mới về truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Cử tri và Nhân dân đề nghị rà soát quy định chồng chéo, xác định một đầu mối xử lý và thời hạn trả lời kiến nghị; đơn giản hóa thủ tục thuế, hoàn thuế, giảm kiểm tra trùng lặp; hỗ trợ doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và liên kết với khu vực đầu tư nước ngoài.

Cử tri và Nhân dân phấn khởi khi nhiều công trình giao thông quan trọng, hạ tầng năng lượng mang tầm chiến lược của đất nước được khởi công, khánh thành, đặc biệt ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tạo điều kiện kết nối vùng và mở rộng không gian phát triển. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân và triển khai một số dự án còn chậm do vướng thủ tục chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, điều chỉnh thiết kế, biến động giá vật liệu, giá nhân công, năng lực tổ chức thi công và sự phối hợp giữa các cơ quan. Việc kéo dài dự án ảnh hưởng đến nhà thầu, doanh nghiệp cung ứng, lao động và hiệu quả sử dụng vốn; cử tri và Nhân dân cũng lo ngại việc dồn tiến độ giải ngân vào cuối năm có thể tác động đến chất lượng công trình. Đề nghị rà soát từng dự án để xử lý đúng điểm nghẽn, công khai tiến độ và trách nhiệm của chủ đầu tư, cơ quan có thẩm quyền; đẩy nhanh giải ngân đi đôi với kiểm soát chất lượng, hiệu quả đầu tư và xử lý các dự án chậm triển khai kéo dài.

Cử tri và Nhân dân ghi nhận việc sửa chữa, mở rộng một số tuyến đường và đầu tư điện, nước, thủy lợi tại cơ sở, nhưng phản ánh nhiều đường liên thôn, đường vào vùng sản xuất, kênh mương và công trình cấp nước vẫn xuống cấp hoặc thiếu đồng bộ. Qua Cổng Mặt trận số, cử tri và Nhân dân phản ánh liên quan đường giao thông nông thôn xuống cấp, công trình thi công kéo dài. Các địa phương miền núi, biên giới và vùng sản xuất hàng hóa đề nghị ưu tiên đường kết nối vùng, cầu dân sinh, điện lưới, thủy lợi, viễn thông; vùng cảng biển và cửa khẩu quan tâm kết nối đa phương thức, kho bãi, logistics để giảm chi phí vận chuyển. Cử tri và Nhân dân đề nghị lựa chọn công trình theo nhu cầu thực tế, bố trí vốn tập trung, bảo đảm duy tu sau đầu tư và công khai tiến độ để Nhân dân giám sát.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, cử tri và Nhân dân ghi nhận nỗ lực tổ chức sản xuất, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi và hình thành một số mô hình liên kết, song giá phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, giống và nhiên liệu còn cao; dịch bệnh, hạn hán, mưa lũ làm tăng rủi ro, trong khi giá thu mua lúa, chè, dừa, rau quả, sầu riêng và một số sản phẩm thủy sản thiếu ổn định. Tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, hợp đồng bao tiêu chưa bền vững, thiếu kho bảo quản và năng lực chế biến khiến nông dân dễ gặp cảnh “được mùa, mất giá”. Cử tri và Nhân dân đề nghị tăng dự báo, cung cấp thông tin thị trường; kiểm soát chất lượng vật tư, xử lý việc ép giá và gian lận thương mại; hỗ trợ hợp tác xã, liên kết nông dân với doanh nghiệp, phát triển bảo quản, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc và thị trường tiêu thụ ổn định. Người dân vùng cao mong muốn được hỗ trợ giống, vốn, kỹ thuật, sản xuất dưới tán rừng và tiêu thụ sản phẩm đặc trưng; ngư dân quan tâm chi phí nhiên liệu, hạ tầng cảng cá, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi nghề phù hợp; lao động nông thôn, nhất là thanh niên và phụ nữ, cần thêm cơ hội việc làm tại chỗ. Một số làng nghề truyền thống và tiểu thương ở chợ, tuyến phố thương mại khó khăn về đầu ra và sức cạnh tranh của sản phẩm. Cử tri và Nhân dân đề nghị gắn hỗ trợ vốn với đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật và kết nối thị trường; phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã, cụm công nghiệp phù hợp; hỗ trợ làng nghề đổi mới sản phẩm, hộ kinh doanh thích ứng với phương thức bán hàng mới, qua đó nâng thu nhập và giảm phụ thuộc vào hỗ trợ ngắn hạn.

2. Về lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, an sinh xã hội, đất đai, nhà ở, tư pháp

Cử tri và Nhân dân đặc biệt phấn khởi, xúc động trước các hoạt động kỷ niệm, tri ân và giáo dục truyền thống được tổ chức trong thời gian qua. Công tác tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, nhất là việc triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm”, xây dựng cơ sở dữ liệu về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và thân nhân liệt sĩ được đánh giá có ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Các hoạt động chăm lo người có công, thăm hỏi gia đình chính sách và các hoạt động nhân dịp kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7 tiếp tục góp phần bồi đắp truyền thống, củng cố sự gắn kết cộng đồng. Cử tri và Nhân dân ghi nhận, đánh giá cao việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội kịp thời ban hành Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16 ngày 08/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, thể hiện sự quan tâm, tri ân sâu sắc đối với người có công và thân nhân. Đồng thời, đề nghị Chính phủ khẩn trương ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, bảo đảm chính sách được triển khai đồng bộ, thống nhất từ ngày 01/01/2027; tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách chăm lo người có công và thân nhân, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thụ hưởng chính sách, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/2027).

Nhân dân phấn khởi, hân hoan trước không khí sôi nổi của các hoạt động kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, thể thao được tổ chức phong phú, có sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và tinh thần đoàn kết trong các tầng lớp Nhân dân .

Cử tri và Nhân dân cũng quan tâm công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, giữ gìn sự trang nghiêm, chuẩn mực đối với các biểu tượng văn hóa, lịch sử của quốc gia. Việc lấy ý kiến về chuẩn hóa sử dụng Quốc ca trong đời sống và trên môi trường số nhận được sự quan tâm; Nhân dân mong muốn quy định rõ về nghi thức, bản nhạc chuẩn, trách nhiệm sử dụng và phổ biến Quốc ca, bảo đảm sự thống nhất, trang nghiêm, đồng thời hạn chế việc sử dụng sai lệch, tùy tiện hoặc không phù hợp.

Cử tri và Nhân dân ghi nhận những nỗ lực trong gìn giữ, bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết, lễ hội, nghề truyền thống, đồng thời phát triển các hoạt động văn hóa gắn với du lịch và đời sống cộng đồng. Tuy nhiên, tại một số địa bàn, nhà văn hóa, sân chơi và công trình di tích bị xuống cấp; quy mô, địa bàn khu dân cư sau sắp xếp, sáp nhập có nhiều thay đổi nhưng điều kiện, thiết chế phục vụ sinh hoạt cộng đồng chưa được bổ sung tương xứng. Đội ngũ văn nghệ sĩ, nghệ nhân mong muốn Đảng, Nhà nước tiếp tục có những chính nhằm bảo tồn và truyền dạy di sản; có chính sách phù hợp đối với văn nghệ sĩ, nghệ nhân có hoàn cảnh khó khăn, đồng thời tăng cường bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường số. Vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín, nghệ nhân, chức sắc và những người trực tiếp truyền dạy văn hóa truyền thống cần tiếp tục được phát huy. Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Nhân dân quan tâm việc bảo tồn bản sắc văn hóa phải gắn với phát triển sinh kế, giáo dục thế hệ trẻ và tăng cường các thiết chế văn hóa tại cộng đồng.

Cử tri và Nhân dân đồng thời băn khoăn trước nguy cơ mai một một số giá trị văn hóa truyền thống, không gian sinh hoạt cộng đồng, công trình kiến trúc và di tích có giá trị lịch sử trong quá trình đô thị hóa, sắp xếp đơn vị hành chính và triển khai các dự án phát triển. Thực tiễn tại một số dự án cho thấy việc di dời cơ sở tôn giáo, nghĩa trang hoặc cộng đồng dân cư không chỉ liên quan đến tài sản mà còn tác động đến đời sống tinh thần, sinh hoạt tín ngưỡng và các giá trị kiến trúc, lịch sử gắn bó lâu dài với cộng đồng. Cử tri và Nhân dân đề nghị các dự án có liên quan phải công khai quy hoạch, thiết kế, tiến độ; quan tâm bảo tồn các kỷ vật, giá trị kiến trúc, lịch sử, duy trì điều kiện sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người dân.

Về giáo dục, đào tạo, Cử tri và Nhân dân ghi nhận Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 nhìn chung được tổ chức nghiêm túc, an toàn và công tác chuẩn bị năm học 2026 - 2027 được triển khai tại các địa phương. Tuy nhiên, thông tin về dấu hiệu tiêu cực, gian lận tại một số điểm thi, cùng những thay đổi trong phương án tuyển sinh, tiếp tục gây băn khoăn về tính công bằng và sự ổn định của các kỳ thi. Cử tri và Nhân dân đề nghị xác minh, công khai kết quả xử lý vi phạm theo thẩm quyền; tăng cường kiểm tra chéo, giám sát cán bộ coi thi, ứng dụng công nghệ phù hợp để phòng ngừa gian lận và thông báo sớm, rõ ràng các phương án tuyển sinh cho học sinh, phụ huynh.

Việc sắp xếp mạng lưới trường, lớp sau sáp nhập được nhiều địa phương đồng tình về chủ trương, song cần tính một số yếu tố như: khoảng cách phải di chuyển của học sinh, điều kiện giao thông, sĩ số lớp, phòng học, nhà vệ sinh, nước sạch và cơ sở bán trú. Đồng thời, cần quan tâm lắng nghe, giải quyết kịp thời tâm tư, nguyện vọng của cán bộ quản lý ở các cơ sở giáo dục trong diện thực hiện sắp xếp. Một số địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa còn thiếu giáo viên, thiết bị dạy học, nhà bếp và điều kiện tổ chức bữa ăn cho học sinh; tại khu vực đô thị, khu công nghiệp, nhu cầu trường lớp tăng theo dân số. Cử tri và Nhân dân đề nghị bố trí đủ nhân lực, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất theo nhu cầu thực tế; bảo đảm quyền học tập của học sinh dân tộc thiểu số, học sinh khuyết tật và học sinh có hoàn cảnh khó khăn, đồng thời quan tâm các cơ sở đào tạo, phục hồi chức năng chuyên biệt.

Tình trạng thiếu sách giáo khoa cục bộ sau khai giảng được phản ánh tại nhiều địa phương, ảnh hưởng đến việc dạy, học và ôn tập. Phụ huynh còn băn khoăn về chi phí mua sách, khả năng dùng lại sách, các khoản thu đầu năm học, chi phí bán trú và học thêm. Cử tri và Nhân dân đề nghị dự báo sát nhu cầu, cung ứng đủ sách trước năm học mới; rà soát nội dung sách, mở rộng thư viện và hình thức cho mượn, sử dụng lại sách, tạo điều kiện tiếp cận bản điện tử hợp pháp. Các cơ sở giáo dục cần công khai căn cứ, mức thu và việc sử dụng từng khoản đóng góp; tăng cường kiểm tra để ngăn ngừa lạm thu, quản lý dạy thêm, học thêm và hỗ trợ học sinh thuộc hộ thu nhập thấp.

Cùng với chất lượng dạy học, Nhân dân quan tâm an toàn chất lượng bữa ăn bán trú, bạo lực học đường, thuốc lá điện tử, tác động của nội dung độc hại trên mạng, (nhóm hội kín) và áp lực học tập đối với học sinh. Cử tri và Nhân dân đề nghị tăng phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, kỹ năng số; kiểm soát nguồn gốc thực phẩm, chất lượng suất ăn; phát triển giáo dục nghề nghiệp và chính sách hỗ trợ để học sinh, sinh viên ở vùng khó khăn có thêm cơ hội tiếp tục học tập.

Cử tri và Nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới đề nghị quan tâm hoàn thiện chính sách đối với học sinh và giáo viên tại các trường phổ thông dân tộc bán trú, trường có học sinh ở bán trú. Đề nghị nghiên cứu để học sinh học tập, sinh hoạt tập trung tại trường từ thứ Hai đến thứ Sáu được hưởng chính sách hỗ trợ phù hợp, tương đương với học sinh nội trú; đồng thời có chế độ phụ cấp đối với giáo viên trực tiếp quản lý, tổ chức sinh hoạt, hoạt động ngoài giờ cho học sinh bán trú. Thực tế tại nhiều địa bàn miền núi, biên giới, giáo viên đang thực hiện nhiệm vụ tương tự giáo viên trường dân tộc nội trú nhưng chưa được hưởng chính sách hỗ trợ tương xứng.

Cử tri và Nhân dân phấn khởi, ghi nhận, đánh giá cao việc thực hiện kịp thời, đồng bộ chủ trương đầu tư xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới, trong đó nhiều công trình đã được khánh thành và đưa vào sử dụng đúng dịp khai giảng năm học 2026 - 2027, góp phần cải thiện điều kiện học tập, sinh hoạt của học sinh vùng biên giới. Đồng thời, đề nghị tiếp tục bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời sách giáo khoa, nhất là tại vùng sâu, vùng xa; triển khai hiệu quả việc sử dụng một bộ sách giáo khoa thống nhất trên toàn quốc và chính sách miễn phí sách giáo khoa theo lộ trình đã quy định.

Về y tế. Cử tri và Nhân dân vui mừng và rất phấn khởi với chủ trương tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí đã nhanh chóng được triển trong cả nước, tạo lập sổ sức khỏe điện tử với hơn 52 triệu người dân đã được khám, ghi nhận nỗ lực chăm sóc sức khỏe ban đầu và việc đưa một số cơ sở khám, chữa bệnh khu vực đi vào hoạt động, tạo thuận lợi cho người dân và góp phần giảm tải tuyến trên. Cử tri và Nhân dân mong muốn việc khám, sàng lọc được tổ chức thường xuyên, thuận tiện, chú trọng phát hiện sớm bệnh và theo dõi sức khỏe sau khám, nhất là đối với người cao tuổi, người có bệnh mạn tính và người ở vùng khó khăn; tránh thực hiện theo đợt mà thiếu điều kiện quản lý, chăm sóc tiếp theo.

Tình trạng thiếu cục bộ thuốc thuộc phạm vi bảo hiểm y tế, vật tư và trang thiết bị vẫn được phản ánh tại một số bệnh viện, trạm y tế; người bệnh có trường hợp phải tự mua thuốc, vật tư hoặc đi xa để điều trị. Cử tri và Nhân dân còn băn khoăn về danh mục, phạm vi thanh toán bảo hiểm y tế, thủ tục chuyển cơ sở khám, chữa bệnh và các khoản chi phí ngoài phạm vi được hưởng, lo lắng trước một số vụ việc sử dụng chất cấm Salbutamol trong chăn nuôi. Đề nghị tháo gỡ vướng mắc trong đấu thầu, mua sắm, bảo đảm cung ứng thuốc và vật tư thiết yếu; rà soát quyền lợi bảo hiểm y tế, đơn giản hóa thủ tục, kiểm soát công khai giá thuốc, vật tư và dịch vụ khám, chữa bệnh, giảm gánh nặng cho người bệnh có thu nhập thấp hoặc phải điều trị dài ngày.

Sau sắp xếp, một số trạm y tế còn khó khăn về nhân lực, trang thiết bị, địa điểm phục vụ và điều kiện vận hành; khoảng cách đi lại tiếp tục là trở ngại đối với người dân vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới. Cử tri và Nhân dân đề nghị đầu tư cơ sở vật chất, có chính sách đào tạo, thu hút và giữ chân bác sĩ, nhân viên y tế; nâng cao năng lực y tế dự phòng, chủ động giám sát và ứng phó dịch bệnh theo mùa. Bên cạnh đó, cần tăng cường kiểm soát chất lượng thuốc, thực phẩm chức năng, an toàn thực phẩm tại trường học và bếp ăn tập thể; quan tâm chăm sóc sức khỏe tinh thần cho người lao động, học sinh và các nhóm cần hỗ trợ.

Về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Cử tri và Nhân dân đồng tình với chủ trương phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ghi nhận việc mở rộng dịch vụ công trực tuyến, định danh điện tử và ứng dụng dữ liệu trong giải quyết công việc. Tuy nhiên, kết nối giữa một số cơ sở dữ liệu và phần mềm chuyên ngành chưa đồng bộ, hệ thống có lúc bị nghẽn hoặc cập nhật chậm, khiến cán bộ phải đối chiếu thao tác trên nhiều hệ thống và người dân phải cung cấp lại thông tin đã có. Cử tri và Nhân dân đề nghị chuẩn hóa, làm sạch, liên thông và tái sử dụng dữ liệu; nâng cấp đường truyền, thiết bị, nền tảng dùng chung; xác định rõ trách nhiệm xử lý khi hệ thống gặp lỗi hoặc hồ sơ bị chậm, lấy thời gian và chi phí thực tế của người dân làm thước đo hiệu quả.

Vẫn còn khoảng cách trong khả năng tiếp cận công nghệ đối với đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, đối với người cao tuổi, người khuyết tật, người ít có điều kiện sử dụng thiết bị số. Cử tri và Nhân dân đề nghị mở rộng hạ tầng viễn thông, hướng dẫn kỹ năng số bằng hình thức dễ tiếp cận và tiếp tục bố trí hỗ trợ trực tiếp đối với người cao tuổi, người khuyết tật, người dân vùng sâu, vùng xa và những người hạn chế về thiết bị, kỹ năng số, không để chuyển đổi số trở thành rào cản mới trong tiếp cận dịch vụ công. Việc chia sẻ dữ liệu cần đi cùng bảo vệ thông tin cá nhân, bảo đảm an toàn hệ thống và phòng ngừa hành vi lợi dụng môi trường mạng để lừa đảo, xâm phạm quyền lợi người dân.

Cử tri và Nhân dân mong muốn thành tựu khoa học, công nghệ được ứng dụng rõ hơn vào các nhu cầu dân sinh: quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử và theo dõi người bệnh; mở rộng khả năng tiếp cận sách, học liệu số; giám định ADN, đối chiếu dữ liệu để xác định danh tính liệt sĩ; hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận thông tin và việc làm. Hội viên, nông dân và người lao động đề nghị tăng chuyển giao kỹ thuật, công nghệ bảo quản, chế biến nông sản, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng số để thích ứng với thay đổi trong sản xuất. Đồng thời, cử tri và Nhân dân quan tâm hiệu quả sử dụng ngân sách cho nghiên cứu, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm chứng trong giáo dục, phổ biến pháp luật và bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm trên môi trường số.

Về an sinh xã hội, việc làm và thu nhập. Cử tri và Nhân dân ghi nhận, đánh giá tích cực việc thực hiện chính sách chăm lo người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng bảo trợ xã hội. Việc điều chỉnh tiền lương, mức phụ cấp công vụ mới cho cán bộ, công chức cấp xã, lương hưu và trợ cấp góp phần cải thiện đời sống của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người thụ hưởng chính sách. Các chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát, giảm nghèo, hỗ trợ sinh kế tiếp tục được triển khai; được cử tri, Nhân dân và thân nhân liệt sĩ trân trọng, đánh giá cao. Nhân dân mong muốn tiếp tục hoàn thiện dữ liệu về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và thân nhân; đẩy mạnh thu nhận mẫu, giám định ADN để sớm xác định danh tính các liệt sĩ còn thiếu thông tin. Tuy nhiên, đời sống của một bộ phận hộ nghèo, hộ mới thoát nghèo, người cao tuổi không có lương hưu và người dân ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn khó khăn.

Việc làm, tiền lương và thu nhập tiếp tục là mối quan tâm lớn của cử tri và Nhân dân, đoàn viên và người lao động. Biến động đơn hàng, chi phí sản xuất và khó khăn của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến việc giữ việc làm, nhất là trong các ngành sử dụng nhiều lao động; lao động tự do, lao động nông thôn, người bị thu hồi đất và một bộ phận lao động trên nền tảng số còn có thu nhập thiếu ổn định. Giá hàng hóa, nhà ở và các dịch vụ thiết yếu tăng khiến mức cải thiện thu nhập thực tế chưa tương xứng. Tình trạng nợ, chậm trả lương, chậm đóng hoặc trốn đóng bảo hiểm tại một số doanh nghiệp cũng làm người lao động lo lắng về quyền lợi khi mất việc, doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc phá sản.

Nhiều ý kiến của cử tri và nhân dân tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn biên giới phản ánh thực trạng hiện nay phần lớn lực lượng lao động ở địa phương chưa qua đào tạo nghề và thiếu việc làm ổn định, phải rời quê đi làm việc ở các khu công nghiệp, khu chế xuất. Cử tri bày tỏ lo lắng về tình trạng lao động ly hương kéo dài không chỉ ảnh hưởng đến sự gắn kết gia đình, nguy cơ gia tăng các vấn đề xã hội và còn tác động lâu dài đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Cử tri và Nhân dân mong muốn Nhà nước đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông thôn, phát triển các mô hình sản xuất và chế biến nông - lâm sản, thuỷ sản hỗ trợ người dân khởi nghiệp tại chỗ nhằm tạo việc làm bền vững cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số.

Cử tri và Nhân dân đề nghị gắn chính sách phát triển kinh tế với tạo và giữ việc làm bền vững; tiếp tục rà soát chính sách tiền lương trong tương quan với giá cả và năng suất lao động; tăng cường đào tạo nghề, đào tạo lại, dự báo nhu cầu tuyển dụng và kết nối thị trường lao động. Đồng thời, cần mở rộng khả năng tham gia bảo hiểm đối với lao động có thu nhập thấp; gắn hỗ trợ nhà ở, đào tạo nghề, tín dụng và trợ giúp xã hội với tạo việc làm, sinh kế bền vững, bảo đảm chính sách đến đúng người, kịp thời, giúp người dân ổn định cuộc sống và hạn chế tái nghèo.

Về đất đai, nhà ở. Cử tri và Nhân dân đồng tình với chủ trương tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển; đồng thời mong muốn các quy định mới được hướng dẫn đồng bộ, thống nhất, dễ thực hiện, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Cử tri và Nhân dân tại nhiều địa phương đặc biệt quan tâm việc xây dựng và áp dụng bảng giá đất, cơ chế xác định giá đất. Có nơi phản ánh giá đất để tính bồi thường còn thấp so với thực tế thị trường, trong khi tại một số địa bàn, việc áp dụng bảng giá đất mới làm tăng nghĩa vụ tài chính của người dân, doanh nghiệp hoặc gây khó khăn cho đấu giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng. Cử tri và Nhân dân đề nghị tiếp tục hoàn thiện phương pháp xác định giá đất, công khai dữ liệu, căn cứ xác định giá, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người có đất bị thu hồi và nhà đầu tư.

Đối với việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thuộc các dự án, cử tri và Nhân dân đề nghị việc xác định giá bồi thường, kiểm đếm, chi trả và bố trí tái định cư phải công khai, minh bạch, kịp thời; khu tái định cư cần được chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng và các dịch vụ thiết yếu, bảo đảm điều kiện sống của người dân sau di dời. Đối với người bị thu hồi đất sản xuất, đất kinh doanh, cần quan tâm thực hiện tốt chính sách đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm và phục hồi sinh kế, không chỉ dừng ở bồi thường bằng tiền. Việc triển khai các dự án có phạm vi thu hồi đất lớn cần tăng cường đối thoại, công khai phương án và phát huy giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân.

Cử tri và Nhân dân tiếp tục phản ánh tình trạng quy hoạch kéo dài, dự án chậm triển khai, dự án “treo”, ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất và gây lãng phí nguồn lực. Cộng đồng doanh nghiệp cũng phản ánh một số dự án bị đình trệ do vướng mắc, chồng chéo giữa thủ tục đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, xác định giá đất và nghĩa vụ tài chính. Một số ý kiến đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định về gia hạn sử dụng đất, tháo gỡ vướng mắc đối với đất sau cổ phần hóa và có quy định chuyển tiếp phù hợp, bảo đảm công khai, minh bạch, ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai. Cử tri và Nhân dân tiếp tục đề nghị rà soát, công khai tiến độ, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài; đồng thời tháo gỡ những dự án bị đình trệ do vướng mắc về cơ chế, thủ tục pháp lý.

Về nhà ở, cử tri và Nhân dân, đoàn viên và người lao động mong muốn tiếp tục đẩy nhanh phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và nhà ở cho thuê với giá phù hợp, nhất là tại các khu công nghiệp, khu vực tập trung đông người lao động. Nguồn cung nhà ở phù hợp với khả năng chi trả còn hạn chế, trong khi giá đất, giá nhà và chi phí sinh hoạt tạo áp lực đối với người có thu nhập trung bình, thấp. Cử tri và Nhân dân đề nghị tăng nguồn cung nhà ở cho người có thu nhập thấp, đơn giản hóa thủ tục mua, thuê mua, phát triển thêm nhà cho thuê dài hạn, nhà lưu trú công nhân, phát triển các gói tín dụng phù hợp; đồng thời quy hoạch nhà ở đồng bộ với trường học, nhà trẻ, y tế, giao thông và các thiết chế phục vụ đời sống.

Đối với định hướng điều chỉnh Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng và triển khai Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng tại Hà Nội, đa số ý kiến đồng thuận với chủ trương phát triển, chỉnh trang không gian đô thị hai bên sông Hồng. Qua Cổng Mặt trận số 24/7, nhiều ý kiến đề nghị trong quá trình triển khai cần tăng cường công khai thông tin, đối thoại và sự tham gia thực chất của người dân ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án. Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng tại Hà Nội, người dân đồng tình với chủ trương phát triển Thủ đô nhưng đề nghị nghiên cứu giữ lại, chỉnh trang, tích hợp các khu dân cư hiện hữu, làng cổ; hạn chế tối đa việc di dời, ưu tiên tái định cư tại chỗ; công khai phạm vi thu hồi đất, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và tổ chức đối thoại trực tiếp trước khi quyết định những nội dung có ảnh hưởng lớn đến nơi ở và sinh kế của Nhân dân. Cử tri và Nhân dân đề nghị đối với các dự án lớn có thu hồi nhiều đất ở cần thực hiện đầy đủ thực chất việc lấy ý kiến, công khai phương án và giải trình việc tiếp thu ý kiến của người dân, tăng cường giám sát của Mặt trận Tổ quốc, cơ quan dân cử và cộng đồng dân cư nhằm tạo đồng thuận và hạn chế phát sinh khiếu nại, khiếu kiện kéo dài.

Về tư pháp, cử tri và Nhân dân quan tâm, băn khoăn trước tình trạng chậm thi hành một số bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, khiếu kiện kéo dài, nhất là trong lĩnh vực đất đai. Đề nghị nâng cao chất lượng xét xử, tranh tụng, phòng ngừa oan sai, giải quyết án tồn đọng, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự, giám định tư pháp và trợ giúp pháp lý, nhất là đối với các nhóm yếu thế; phát huy vai trò của luật sư, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, công khai, minh bạch và tăng cường giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng, thi hành pháp luật.

3. Về an ninh, trật tự, an toàn xã hội

Cử tri và Nhân dân ghi nhận, đánh giá cao tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội cơ bản được giữ vững; tại nhiều địa phương không phát sinh điểm nóng phức tạp, góp phần tạo môi trường an toàn, ổn định cho đời sống Nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tiếp tục được triển khai quyết liệt, nhất là qua các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm ma túy, tội phạm đường phố; nhiều vụ án, đường dây, ổ nhóm được phát hiện, xử lý nghiêm, góp phần kéo giảm tội phạm và củng cố an ninh trật tự, an toàn xã hội. Cử tri và Nhân dân cũng đánh giá cao kết quả đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, nhất là tại khu vực biên giới, cửa khẩu, qua đó góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường kinh doanh lành mạnh.

Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và khu vực biên giới, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững, không để hình thành “điểm nóng”; phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới và các mô hình tự quản về an ninh, trật tự ở cơ sở được Nhân dân đồng tình, hưởng ứng. Một số địa phương ghi nhận hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ trong bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, nhất là hệ thống camera giám sát, phạt nguội. Nhân dân đồng thời ủng hộ việc lực lượng Công an triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh với tội phạm ma túy, lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, “tín dụng đen”, bảo kê và các băng nhóm, góp phần giữ gìn môi trường sống an ninh, an toàn.

Bên cạnh những kết quả đạt được, cử tri và Nhân dân còn băn khoăn, lo lắng trước tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy tiếp tục diễn biến phức tạp, có xu hướng trẻ hóa và xâm nhập vào địa bàn nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, tuyến biên giới; tình trạng tội phạm đường phố, trộm cắp, cờ bạc, cá độ trực tuyến vẫn xảy ra. Đáng chú ý, tình trạng trẻ hóa tội phạm và bạo lực đường phố trong thanh thiếu niên có biểu hiện đáng lo ngại, một số nhóm thanh thiếu niên tụ tập, mang theo hung khí, giải quyết mâu thuẫn phát sinh từ mạng xã hội, có hành vi manh động, mang tính băng nhóm, ảnh hưởng đến tâm lý và cảm giác an toàn của người dân. Tình trạng sản xuất hàng hóa bằng hóa chất độc hại đối với sức khỏe con người diễn ra phổ biến và rất nghiêm trọng.

Đặc biệt, cử tri và Nhân dân vẫn lo lắng trước tình trạng lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Các đối tượng giả danh cơ quan công an, viện kiểm sát, cơ quan nhà nước, ngân hàng, nhà trường hoặc người thân; sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ Deepfake để giả mạo hình ảnh, giọng nói, tài khoản mạng xã hội; dụ dỗ đầu tư, tuyển dụng, môi giới việc làm, vay tiền trực tuyến; thu thập, đánh cắp, mua bán trái phép dữ liệu cá nhân, mã OTP để chiếm đoạt tài sản. Đáng lo ngại, các thủ đoạn lừa đảo ngày càng hướng tới những nhóm có nguy cơ bị tổn thương hoặc hạn chế về kỹ năng số như người cao tuổi, phụ nữ, người dân nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, công nhân, người lao động và người ít có điều kiện cập nhật kiến thức công nghệ; học sinh, sinh viên cũng trở thành mục tiêu của thủ đoạn giả danh cơ quan tố tụng, thao túng tâm lý, “bắt cóc online” để tống tiền gia đình. Cử tri và Nhân dân quan tâm, lo ngại trước tình trạng một số cá nhân phát trực tiếp trên mạng xã hội, sử dụng phát ngôn giật gân, phản cảm nhằm thu hút lượt xem, người theo dõi và trục lợi, qua đó tác động tiêu cực đến môi trường văn hóa, đạo đức xã hội, nhất là đối với thanh thiếu niên. Đề nghị các cơ quan chức năng tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường trách nhiệm của các nền tảng mạng xã hội, kịp thời nhận diện, ngăn chặn và xử lý các nội dung vi phạm, đồng thời có giải pháp hạn chế việc biến những hành vi lệch chuẩn thành lợi ích và tạo sức ảnh hưởng trên không gian mạng.

Cử tri và Nhân dân đề nghị các cơ quan chức năng tiếp tục tăng cường phòng ngừa, đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, nhất là ma túy, tội phạm đường phố, trộm cắp, cờ bạc, cá độ, “tín dụng đen”, cho vay nặng lãi; chú trọng phòng ngừa tình trạng trẻ hóa tội phạm, bạo lực trong thanh thiếu niên, tăng cường giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, kỹ năng số và sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Cử tri và Nhân dân băn khoăn trước nguy cơ cháy, nổ tại các khu nhà trọ, nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh và khu dân cư tập trung đông người, nhất là những nơi có mật độ xây dựng cao, hệ thống điện quá tải, lối thoát nạn hạn chế hoặc chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận của lực lượng chữa cháy. Cử tri và Nhân dân đề nghị tăng cường kiểm tra, hướng dẫn khắc phục các vi phạm về phòng cháy, chữa cháy; rà soát hệ thống điện, lối thoát nạn, phương tiện chữa cháy tại chỗ; đồng thời nâng cao kỹ năng phòng ngừa, thoát nạn và xử lý tình huống cháy, nổ cho người dân.

Cử tri và Nhân dân phản ánh nguy cơ tai nạn còn cao tại một số tuyến đường, nút giao phức tạp, khu vực trường học, chợ dân sinh; đồng thời lo ngại tình trạng mất an toàn giao thông đường thủy và đuối nước trẻ em tại sông, suối, ao, hồ, nhất là trong mùa mưa, lũ và dịp nghỉ hè. Cử tri và Nhân dân đề nghị rà soát, xử lý các điểm tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông; tăng cường kiểm tra bến đò, phương tiện và điều kiện an toàn đường thủy; bố trí biển cảnh báo, rào chắn tại khu vực nguy hiểm, đồng thời đẩy mạnh phổ cập kỹ năng bơi, cứu hộ và phòng, chống đuối nước cho trẻ em.

Cử tri và Nhân dân đề nghị tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm về phòng cháy, chữa cháy tại nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh, nhà trọ, cơ sở lưu trú và khu dân cư đông người; chú trọng bảo đảm lối thoát nạn, an toàn hệ thống điện, trang bị phương tiện và hướng dẫn kỹ năng thoát nạn; đồng thời tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và bảo đảm nguồn lực cho công tác phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.

4. Về bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu

Cử tri và Nhân dân ghi nhận những chuyển biến trong công tác vệ sinh môi trường, thu gom, xử lý rác thải và mở rộng mạng lưới cấp nước sinh hoạt tại một số địa phương; đánh giá cao sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và sự chủ động của cấp ủy, chính quyền trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Việc huy động lực lượng, phương tiện cứu hộ, cứu nạn, sơ tán người dân, hỗ trợ nhu yếu phẩm, nhà ở và khôi phục hạ tầng thiết yếu đã góp phần hạn chế thiệt hại, sớm ổn định đời sống, sản xuất. Tinh thần trách nhiệm của lực lượng quân đội, công an, sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng trong hỗ trợ đồng bào vùng thiên tai được Nhân dân trân trọng.

Tuy nhiên, cử tri và Nhân dân tiếp tục băn khoăn, lo lắng trước tình trạng ô nhiễm không khí tại các đô thị, nhất là thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; bụi, khói từ hoạt động giao thông, xây dựng, khu, cụm công nghiệp và cơ sở sản xuất gần khu dân cư. Ô nhiễm nguồn nước, kênh mương, mùi hôi và chất thải từ chăn nuôi, làng nghề ảnh hưởng đến sinh hoạt, sản xuất của người dân. Một số điểm ô nhiễm kéo dài, đã được phản ánh nhiều lần nhưng chưa được giải quyết dứt điểm. Cử tri và Nhân dân đề nghị tăng cường kiểm tra, xác định nguồn gây ô nhiễm, công khai kết quả và xử lý nghiêm vi phạm; kiểm tra việc khắc phục sau xử lý, làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý, tổ chức, cá nhân liên quan và phối hợp giữa các địa phương đối với nguồn ô nhiễm liên vùng.

Về rác thải sinh hoạt, cử tri và Nhân dân phản ánh thu gom còn chậm, rác tồn đọng, thiếu điểm tập kết phù hợp và bất cập trong tổ chức thu gom sau sắp xếp đơn vị hành chính. Tại nông thôn, miền núi, còn tình trạng xả rác bừa bãi, thiếu phương án thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật. Cử tri và Nhân dân đề nghị đồng bộ việc phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý rác, tránh trộn chung rác đã phân loại; xử lý các điểm tồn đọng, thu gom riêng bao bì thuốc bảo vệ thực vật; đầu tư công nghệ xử lý tiên tiến, hạn chế ô nhiễm thứ cấp và nhân rộng mô hình tái chế, xử lý rác hữu cơ, đầu tư xây dựng những trung tâm xử lý rác thải theo hướng hiện đại và thân thiện với môi trường, đồng thời đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về thu gom, phân loại và xử lý rác thải.

Về nước sạch, cử tri và Nhân dân còn lo lắng trước tình trạng thiếu nước sinh hoạt, cấp nước gián đoạn hoặc chất lượng nước chưa ổn định tại một số khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và địa bàn mới sắp xếp. Có nơi mạng lưới cấp nước chưa được kết nối đồng bộ; công trình xuống cấp, quản lý, bảo dưỡng chưa hiệu quả; nguồn nước bị ô nhiễm, nhiễm mặn hoặc thiếu vào mùa khô. Cử tri và Nhân dân đề nghị ưu tiên đầu tư hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung, sửa chữa công trình xuống cấp, mở rộng mạng lưới đến các khu dân cư còn thiếu nước, chú trọng vùng cao, các thôn, bản đặc biệt khó khăn và khu tái định cư. Cần gắn đầu tư với phương án quản lý, vận hành lâu dài; bảo vệ nguồn nước, kiểm tra, công khai chất lượng nước và chủ động phương án cấp nước an toàn khi xảy ra thiên tai.

Về thiên tai, cử tri và Nhân dân lo ngại trước diễn biến thời tiết ngày càng cực đoan, khó lường, nhất là lũ quét, sạt lở đất tại miền núi; sạt lở bờ sông, bờ biển, xâm ngập mặn và ngập úng tại các khu dân cư. Mưa lũ gây hư hỏng nhà ở, đường giao thông, trường học, công trình cấp nước, ảnh hưởng đến đất sản xuất và sinh kế. Một số vị trí sạt lở chưa được xử lý dứt điểm; công trình thoát nước, thủy lợi còn xuống cấp. Cử tri và Nhân dân cũng băn khoăn về an toàn hồ đập, hồ chứa thủy điện và tiến độ một số dự án kè chống sạt lở, nâng cấp hồ chứa còn chậm, có nguy cơ không hoàn thành trước cao điểm mùa mưa bão.

Cử tri và Nhân dân đề nghị nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo sớm; hiện đại hóa mạng lưới quan trắc, ứng dụng công nghệ, xây dựng bản đồ nguy cơ lũ quét, sạt lở, ngập úng. Thông tin cảnh báo cần kịp thời, dễ hiểu, đến được từng thôn, bản, hộ gia đình trong vùng nguy hiểm. Thường xuyên rà soát các điểm xung yếu, hoàn thiện phương án sơ tán, di dời; chuẩn bị lực lượng, phương tiện, vật tư, hậu cần theo phương châm “bốn tại chỗ”. Ưu tiên nguồn lực sửa chữa, nâng cấp đê điều, hồ đập, kè chống sạt lở, cầu dân sinh, công trình thoát lũ và hệ thống thoát nước đô thị; tăng cường kiểm tra an toàn hồ chứa, chủ động phương án vận hành, cảnh báo và sơ tán dân khi có nguy cơ mất an toàn.

Công tác khắc phục hậu quả cần gắn với phục hồi sản xuất, bảo đảm an sinh và sinh kế bền vững. Cử tri và Nhân dân đề nghị kịp thời sửa chữa hạ tầng thiết yếu bị hư hỏng; hỗ trợ nhà ở, tín dụng, vật tư, cây trồng, vật nuôi phù hợp với mức độ thiệt hại. Các khu tái định cư cần bảo đảm đồng bộ giao thông, điện, nước sinh hoạt, đất sản xuất và điều kiện sinh kế. Việc cứu trợ, hỗ trợ phải kịp thời, công khai, đúng đối tượng, quan tâm hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn; giải quyết các khoản hỗ trợ còn chậm, hạn chế nguy cơ tái nghèo sau thiên tai.

5. Về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí

Cử tri và Nhân dân tiếp tục bày tỏ sự tin tưởng, đồng tình đối với quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; đánh giá cao việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Cử tri và Nhân dân mong muốn công tác này tiếp tục được thực hiện kiên trì, thường xuyên, đồng bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, tăng cường kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của người đứng đầu.

Vấn đề được cử tri và Nhân dân rất quan tâm là tình trạng lãng phí tài sản công sau sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính. Nhiều trụ sở, cơ sở nhà, đất, trang thiết bị dôi dư ở các cấp chưa được rà soát, xử lý, điều chuyển hoặc chuyển đổi công năng kịp thời; có nơi bỏ trống, thiếu bảo quản, duy tu dẫn đến xuống cấp, hư hỏng. Cử tri và Nhân dân phản ánh nghịch lý “nơi thừa, nơi thiếu”, khi nhiều trụ sở, công trình còn khả năng sử dụng chưa được khai thác trong khi một số cơ sở giáo dục, y tế, thiết chế văn hóa và đơn vị hành chính mới lại thiếu không gian, cơ sở vật chất.

Bên cạnh đó, cử tri và Nhân dân còn băn khoăn về nguy cơ tham nhũng, thất thoát, lãng phí trong quản lý đất đai, tài nguyên, đầu tư công, đầu tư xây dựng cơ bản, tài chính, ngân sách, đấu thầu, mua sắm và quản lý tài sản công; tình trạng một số dự án tồn đọng, chậm tiến độ, đất đai và công trình chậm được đưa vào khai thác, hoặc đầu tư nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Cử tri và Nhân dân đề nghị tiếp tục siết chặt kỷ luật đầu tư, nâng cao trách nhiệm quản lý, khai thác nguồn lực công và tăng cường hậu kiểm đối với các dự án, công trình sau khi hoàn thành.

Cử tri và Nhân dân đề nghị Chính phủ, tiếp tục tập trung chỉ đạo thực hiện các phương án quản lý, sử dụng hiệu quả đất và tài sản công sau sáp nhập theo quy định; công khai hiện trạng, tiến độ, phương án xử lý và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi gây thất thoát, lãng phí và phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân.

6. Về lĩnh vực nội vụ, quốc phòng, an ninh

Cử tri và Nhân dân ghi nhận, đánh giá tích cực kết quả bước đầu sau một năm sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp; bộ máy từng bước đi vào nền nếp, giảm tầng nấc trung gian, tăng phân cấp, phân quyền và tính chủ động của chính quyền cơ sở; tại nhiều địa phương, việc giải quyết thủ tục hành chính cơ bản được thực hiện thông suốt, chính quyền gần dân, sát dân hơn. Tuy nhiên, kết quả vận hành chưa đồng đều; tại một số nơi vẫn còn lúng túng trong phân định nhiệm vụ, thẩm quyền, phối hợp giữa cấp tỉnh và cấp xã, trong khi việc rà soát, sửa đổi các quy định, hướng dẫn về phân cấp, phân quyền chưa theo kịp yêu cầu của mô hình tổ chức mới. Cử tri và Nhân dân mong muốn việc kiện toàn bộ máy phải tiếp tục hướng vào chất lượng phục vụ Nhân dân, bảo đảm rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, không để phát sinh khoảng trống trong quản lý.

Cử tri và Nhân dân đặc biệt băn khoăn về áp lực công việc tại cấp xã sau phân cấp, phân quyền. Nhiều nhiệm vụ trước đây thuộc cấp huyện được chuyển trực tiếp về cấp xã, khối lượng hồ sơ tăng trong khi biên chế, năng lực chuyên môn và điều kiện bảo đảm chưa tương xứng; cán bộ, công chức phải kiêm nhiệm nhiều việc và đồng thời triển khai nhiều nhiệm vụ cao điểm về đất đai, thống kê, thuế, định danh điện tử, chuyển đổi số. Sau sắp xếp, nhiều xã, thôn, tổ dân phố có địa bàn rộng hơn, dân số đông hơn, khoảng cách đến trung tâm hành chính xa hơn; khó khăn càng rõ tại miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi dân cư phân tán, giao thông khó khăn. Trong khi đó, một số nơi còn thiếu trang thiết bị, kinh phí hoạt động, phương tiện đi lại và hạ tầng công nghệ thông tin. Cử tri và Nhân dân đề nghị phân cấp, phân quyền phải đồng thời với bố trí đủ nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất và hạ tầng số, phù hợp với quy mô địa bàn và khối lượng nhiệm vụ thực tế.

Việc sắp xếp, sáp nhập thôn, tổ dân phố và kiện toàn đội ngũ người hoạt động không chuyên trách cơ sở tiếp tục nhận được nhiều sự quan tâm. Cử tri và Nhân dân cơ bản đồng tình với chủ trương tinh gọn đầu mối, song phản ánh khối lượng công việc của Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban Công tác Mặt trận, chi hội trưởng các đoàn thể tăng đáng kể khi quy mô dân cư và địa bàn quản lý lớn hơn. Việc giải quyết chế độ đối với người dôi dư sau sắp xếp còn có trường hợp chậm hoặc chưa thống nhất, các bảo đảm về tổ chức và hoạt động đối với Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng còn hạn chế, nhất là về kinh phí. Cử tri và Nhân dân cũng đề nghị quan tâm kiện toàn kịp thời Ban Công tác Mặt trận, các chi hội đoàn thể và các thiết chế tự quản cộng đồng, tránh để việc tinh gọn tổ chức làm giảm khả năng tập hợp, vận động, chăm lo và đại diện cho Nhân dân ngay tại địa bàn dân cư.

Trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phản ánh, kiến nghị, cử tri và Nhân dân ghi nhận việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thư sau sắp xếp cơ bản được duy trì, nhiều vụ việc phức tạp đã được tập trung giải quyết. Tuy nhiên, vẫn còn trường hợp quyết định, kết luận đã có hiệu lực pháp luật nhưng chậm được thực hiện, làm phát sinh khiếu kiện lặp lại; một số vụ việc đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư kéo dài, trong khi năng lực xử lý các vụ việc phức tạp của cán bộ cơ sở chưa đồng đều. Hệ thống quản lý đơn thư giữa các cấp, các ngành chưa liên thông, còn xử lý thủ công, dẫn đến nguy cơ thụ lý trùng lặp và khó theo dõi tiến độ. Cử tri và Nhân dân cũng phản ánh một số nội dung kiến nghị được trả lời còn chung chung, mới dừng ở giải trình hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền, chưa xác định rõ lộ trình và kết quả giải quyết. Đề nghị chính quyền các cấp, nhất là người đứng đầu nâng cao trách nhiệm trong tiếp công dân, tăng cường đối thoại ngay từ cơ sở và giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, kéo dài.

Cử tri và Nhân dân bày tỏ phấn khởi trước tình hình quốc phòng, an ninh được đảm bảo, năng lực nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng, an ninh tiếp tục được nâng cao góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

7. Về công tác dân tộc, tôn giáo và đối ngoại

Về công tác dân tộc, cử tri và Nhân dân ghi nhận đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được cải thiện; kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới được quan tâm đầu tư; các chính sách dân tộc, giảm nghèo, an sinh xã hội tiếp tục được triển khai. Tuy nhiên, đời sống của một bộ phận đồng bào còn khó khăn, sinh kế chưa bền vững, thiếu việc làm, đào tạo nghề tại chỗ khiến một bộ phận lao động trẻ phải đi làm ăn xa. Cử tri và Nhân dân cũng băn khoăn về khả năng tiếp cận liên tục các chính sách dân tộc sau sắp xếp đơn vị hành chính và tiến độ giải ngân một số chương trình, dự án còn chậm. Đề nghị tiếp tục ưu tiên đầu tư giao thông, điện, nước sạch, trường học, trạm y tế, hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm và sinh kế bền vững; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Về công tác tôn giáo, Cử tri và Nhân dân vùng đồng bào tôn giáo phấn khởi khi Quốc hội thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026, tiếp tục thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật; cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Cử tri và Nhân dân vùng đồng bào tôn giáo mong muốn Chính phủ sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đảm bảo cụ thể, bám sát thực tiễn để Luật tín ngưỡng, tôn giáo đi vào cuộc sống.

Cử tri và Nhân dân ghi nhận tình hình tín ngưỡng, tôn giáo cơ bản ổn định; chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi đua, hoạt động từ thiện, nhân đạo, an sinh xã hội và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bên cạnh đó, còn băn khoăn trước tình trạng lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và cơ sở thờ tự để thương mại hóa hoạt động tâm linh, trục lợi, mê tín dị đoan; việc thực hiện một số thủ tục hành chính về tín ngưỡng, tôn giáo, đất đai, sửa chữa cơ sở thờ tự ở một số địa phương còn chưa thống nhất, gây lúng túng cho chức sắc, tín đồ. Cử tri và Nhân dân đề nghị đồng thời với việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng, cần tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo; hướng dẫn thống nhất, thuận lợi các thủ tục hành chính. Khi triển khai các dự án phát triển, nhất là dự án có thu hồi đất, cần quan tâm thỏa đáng việc bảo tồn, di dời hoặc bố trí lại cơ sở thờ tự, không gian tín ngưỡng, nghĩa trang và các công trình tâm linh, bảo đảm phù hợp góp phần ổn định đời sống tinh thần, tín ngưỡng của Nhân dân.

Về công tác đối ngoại, cử tri và Nhân dân phấn khởi, đánh giá cao về kết quả hoạt động đối ngoại của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, thăm chính thức Cộng hòa Pháp và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ; tham dự Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc, hoạt động song phương tại Hoa Kỳ và thăm cấp Nhà nước tới Canađa của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ đến nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Cămphuchia; chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội đến nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa… Qua đó cộng đồng quốc tế hiểu hơn về thành tựu của sự nghiệp đổi mới, về mục tiêu, phương hướng và con đường đi lên của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, tạo dựng hình ảnh và uy tín ngày càng cao của Việt Nam - một thành viên của cộng đồng quốc tế luôn chủ động, tích cực, có trách nhiệm cao trong việc tham gia giải quyết các vấn đề chung toàn cầu. Cử tri và Nhân dân phấn khởi, tự hào trước các hoạt động đối ngoại sôi động, thực chất, hiệu quả; đồng thuận với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; đánh giá cao sự phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam. Cử tri và Nhân dân đánh giá cao vai trò của ngoại giao kinh tế trong mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ tiêu thụ, quảng bá hàng hóa, nông sản; đồng thời ghi nhận những đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với quê hương, đất nước. Đề nghị tiếp tục phát huy vai trò đối ngoại Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; tăng cường kết nối kiều bào với trong nước; hoàn thiện cơ chế thu hút trí thức, chuyên gia, doanh nhân người Việt Nam ở nước ngoài tham gia phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đầu tư và kết nối thị trường; gắn hoạt động đối ngoại với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương.

8. Tổng hợp các kiến nghị, phản ánh gửi tới kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã hoặc chưa được xem xét, giải quyết

Tiếp thu ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi tới Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã quan tâm chỉ đạo, xem xét, giải quyết nhiều vấn đề được cử tri và Nhân dân phản ánh; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và liên thông dữ liệu; triển khai các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát giá cả, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh; tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách, pháp luật, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, xử lý hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm về an toàn thực phẩm, phòng, chống lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật trên môi trường mạng. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, giải quyết các kiến nghị của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Báo cáo số 181/BC-MTTW-ĐCT ngày 20/4/2026.

Tuy nhiên, một số vấn đề cử tri và Nhân dân đã kiến nghị vẫn chưa được giải quyết một cách căn cơ, dứt điểm như (1) Việc vận hành chính quyền địa phương 02 cấp tại một số nơi còn khó khăn về nhân lực, hạ tầng công nghệ và liên thông dữ liệu; (2) Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (3) Giá vật tư đầu vào, chi phí sản xuất (4) Tình trạng ô nhiễm môi trường, mất an toàn thực phẩm, hàng giả, hàng kém chất lượng và lừa đảo trên không gian mạng (5) Việc xem xét, giải quyết những phản ánh, kiến nghị còn chậm, chưa dứt điểm...

Bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam trình bày Báo cáo một số nội dung chủ yếu tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân cả nước gửi tới Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI

III. KIẾN NGHỊ CỦA ĐOÀN CHỦ TỊCH ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

Trên cơ sở ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trân trọng kiến nghị với Đảng và Nhà nước:

1. Đề nghị Đảng, Nhà nước tiếp tục quan tâm chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong vận hành chính quyền địa phương 02 cấp; đẩy nhanh hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật công nghệ, tăng cường kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu nhằm giảm áp lực cho cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, đảm bảo chính quyền các cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thật sự gần dân, sát dân và phục vụ Nhân dân, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn.

2. Đề nghị Chính phủ, các cơ quan chức năng, các địa phương có giải pháp đồng bộ, chỉ đạo quyết liệt để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là môi trường nước và môi trường không khí, tình trạng ngập úng ở một số thành phố lớn. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm về hàng giả, thuốc giả, thực phẩm chức năng giả, vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm và các hành vi gây ô nhiễm môi trường.

3. Đề nghị các bộ, ngành, địa phương tăng cường hơn các biện pháp về phòng ngừa, cảnh báo, đấu tranh đối với tội phạm sử dụng công nghệ cao và lừa đảo trên không gian mạng; tăng cường các giải pháp chủ động phòng, chống cháy nổ, tai nạn giao thông, đuối nước.

4. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo hoàn thiện đồng bộ chính sách, pháp luật và tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tái thiết cuộc sống mới cho người dân khi thực hiện thu hồi đất.

5. Đề nghị các cơ quan chức năng và các địa phương chỉ đạo quyết liệt việc sắp xếp, chuyển đổi công năng, sử dụng hiệu quả trụ sở làm việc dôi dư do sắp xếp đơn vị hành chính, tránh lãng phí.

6. Đề nghị Đảng, Nhà nước chỉ đạo các bộ, ban ngành địa phương, cơ quan có thẩm quyền kịp thời giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri và Nhân dân, nhất là những kiến nghị đã được phản ánh nhiều lần. Tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện và kết nối hệ thống dữ liệu về tiếp nhận, xử lý, giải quyết kiến nghị, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cử tri và Nhân dân theo dõi, giám sát.

Trên đây là báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi đến kỳ họp thứ Hai Quốc hội Khóa XVI. Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam trân trọng đề nghị Đảng và Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ xem xét, giải quyết, đáp ứng mong đợi của cử tri và Nhân dân./.

Xem Toàn văn Báo cáo Tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi đến kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI tại đây


mattran.org.vn
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều