Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Ninh Bình
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Chuyển đổi số ở vùng chân sóng

Thời gian qua, điện thoại thông minh, mã QR và dữ liệu vệ tinh đang dần trở nên quen thuộc với người dân các xã ven biển Ninh Bình, từ những chuyến biển khơi xa đến các ao nuôi thủy sản công nghệ cao. Để công nghệ số thực sự đi vào sản xuất và đời sống, các cấp ủy, chính quyền, ngành chức năng và địa phương đang triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện để ngư dân tiếp cận, ứng dụng và từng bước làm chủ công nghệ số.
Cán bộ Đồn Biên phòng Kim Sơn hỗ trợ ngư dân cài đặt và khai thác các tiện ích số trước mỗi chuyến vươn khơi. Ảnh: Viết Dư
Cán bộ Đồn Biên phòng Kim Sơn hỗ trợ ngư dân cài đặt và khai thác các tiện ích số trước mỗi chuyến vươn khơi. Ảnh: Viết Dư

Khi dữ liệu số trở thành “giấy thông hành”

Với ngư dân thường xuyên bám biển, thông tin về thời tiết, tình trạng phương tiện và những nguy cơ trên hành trình có ý nghĩa quan trọng đối với an toàn mỗi chuyến ra khơi. Cùng với các thiết bị thông tin liên lạc trên tàu, những nền tảng trực tuyến đang tạo điều kiện để các chủ thuyền trao đổi thông tin, phối hợp sản xuất và hỗ trợ nhau khi cần thiết.

Anh Trần Văn Tới, 39 tuổi, ở thôn Cồn Thoi 7, xã Bình Minh, chủ thuyền chuyên nghề lưới rê, sử dụng Zalo để duy trì “Tổ an toàn” gồm 20 chủ thuyền. Thông qua nhóm liên lạc trực tuyến, các thành viên thường xuyên trao đổi dự báo thời tiết, cảnh báo rủi ro, thông báo lịch trình và hỗ trợ nhau khi phương tiện gặp sự cố trên biển. Anh Tới cho biết: “Nhờ có nhóm Zalo, chúng tôi cập nhật thông tin nhanh hơn, chủ động trao đổi khi có tình huống phát sinh và hỗ trợ nhau trong những chuyến biển. Các thành viên cũng thuận tiện thông báo lịch trình để cùng phối hợp công việc”.

Anh Trần Văn Tới, chủ thuyền chuyên nghề lưới rê tại xã Bình Minh. Ảnh: Viết Dư

Nếu trên biển, các nhóm liên lạc trực tuyến giúp ngư dân cập nhật thông tin và phối hợp trong mỗi chuyến ra khơi, thì tại các vùng nuôi, công nghệ số đang được ứng dụng sâu hơn vào kiểm soát môi trường và quy trình sản xuất. Mô hình trang trại 7ha của ông Lê Ngọc Quyết tại xã Bình Minh cho thấy hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ vào kiểm soát quy trình nuôi. Thay vì quan sát màu nước bằng mắt thường, hệ thống của ông ứng dụng công nghệ Biofloc kết hợp mạng lưới cảm biến IoT đo lường liên tục nồng độ pH, oxy hòa tan và nhiệt độ nước. Dữ liệu truyền thời gian thực về máy chủ sẽ tự động kích hoạt hệ thống quạt nước và sục khí. Nhờ môi trường sinh thái được kiểm soát tuyệt đối bằng dữ liệu, trang trại không sử dụng kháng sinh, mỗi năm cung ứng 50 tấn tôm thẻ chân trắng và 504 triệu hàu giống, mang lại doanh thu hàng tỷ đồng và tạo việc làm cho 15 lao động.

Tại xã Định Hóa, vùng nuôi ngao bãi bồi quy mô 10ha của ông Lê Văn Hà đã duy trì chứng nhận quốc tế ASC từ năm 2023. Để đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe, ông Hà sử dụng nhật ký điện tử ghi chép minh bạch về nguồn gốc giống, biến động nguồn nước và các chỉ tiêu môi trường. Dữ liệu số trở thành “giấy thông hành” giúp 500 tấn ngao/vụ của trang trại được doanh nghiệp thu mua với giá cao hơn thị trường từ 3.000 - 4.000 đồng/kg, thu lợi nhuận khoảng 3 tỷ đồng.

Cán bộ Chi cục Thủy sản - Kiểm ngư Ninh Bình hỗ trợ người dân kiểm tra chất lượng ngao giống. Ảnh: Viết Dư

Tại xã Giao Hòa, anh Nguyễn Đại Dương lựa chọn đầu tư công nghệ cao sau thời gian nuôi tôm tự nhiên kém hiệu quả. Từ diện tích đầm hơn 10ha ban đầu, anh cải tạo khu nuôi, đầu tư máy móc, thiết bị để phát triển mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng, kết hợp cung ứng vạng giống. Trang trại thủy sản của gia đình có quy mô 25ha, mỗi năm cung ứng ra thị trường hàng chục tấn vạng giống và tôm thẻ chân trắng. Sau khi trừ chi phí, mô hình đem lại lợi nhuận từ 1,5-2,5 tỷ đồng/năm, tạo việc làm ổn định cho 10 lao động địa phương với mức lương 6-8 triệu đồng/người/tháng và khoảng 30 lao động thời vụ. Hiệu quả kinh tế của mô hình gắn với quy mô đầu tư, tổ chức sản xuất và việc kiểm soát các khâu kỹ thuật trong nuôi trồng thủy sản.

Ở khâu tiêu thụ, truy xuất nguồn gốc và thanh toán điện tử đang góp phần thay đổi cách sản phẩm thủy sản tiếp cận thị trường. Hợp tác xã Thủy sản Hùng Cường (xã Kim Đông) và Hợp tác xã Thủy sản Văn Hải (xã Định Hóa) đã tái cấu trúc quy trình bán hàng bằng hệ thống tem QR Code. Mã QR trên bao bì sản phẩm với chức năng dẫn đến website giới thiệu, đồng thời trích xuất trực tiếp dữ liệu từ nhật ký khai thác điện tử và chứng nhận ASC, giúp minh bạch hóa danh tính số của sản phẩm với người tiêu dùng.

Một xưởng sơ chế ngao tập trung quy mô lớn tại xã Kim Đông, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng chục lao động địa phương. Ảnh: Viết Dư

Tại chợ Cồn, xã Hải Tiến, đến nay có hơn 80% cơ sở kinh doanh sử dụng mã QR trong giao dịch. Thanh toán điện tử giúp người mua, người bán thực hiện giao dịch thuận tiện, giảm sự phụ thuộc vào tiền mặt. Chia sẻ về định hướng hỗ trợ tiểu thương, ông Nguyễn Minh Định, Phó Chủ tịch UBND xã Hải Tiến cho biết: “Địa phương đang tiếp tục đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, nâng cao hiệu quả mô hình chợ thông minh; đồng thời phối hợp hỗ trợ các hộ sản xuất, kinh doanh ứng dụng công nghệ số, hướng dẫn kỹ năng quảng bá, bán hàng trực tuyến để từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm địa phương”.

Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững

Để công nghệ số đi vào hoạt động nghề cá, bên cạnh sự chủ động của ngư dân cần có sự hướng dẫn, hỗ trợ từ các cơ quan chuyên môn và lực lượng chức năng. Đặc thù thường xuyên đi biển, thời gian có mặt trên bờ không ổn định cùng sự chênh lệch về kỹ năng sử dụng thiết bị thông minh khiến một bộ phận ngư dân còn gặp khó khăn khi tiếp cận các nền tảng số.

Âu tàu cảng cá Ninh Cơ (xã Hải Thịnh) - nơi dữ liệu của mỗi phương tiện đều được chuẩn hóa, tạo nền tảng vững chắc để ngư dân vươn khơi an toàn, hiệu quả. Ảnh: Viết Dư

Trên phạm vi toàn tỉnh, các hệ thống dữ liệu và thiết bị giám sát đang được sử dụng trong quản lý hoạt động khai thác thủy sản. Đến tháng 9/2026, Ninh Bình có 1.402 tàu cá từ 6m trở lên được cập nhật dữ liệu trên Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase). Trong nhóm tàu từ 15m trở lên, tỷ lệ lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS) đạt 99,7%, tương ứng 618 tàu. Tỷ lệ sản lượng thủy sản được giám sát minh bạch qua hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) đạt 86,9%.

Trong công tác quản lý tàu cá, lực lượng biên phòng vừa kiểm soát phương tiện, vừa tuyên truyền, phổ biến pháp luật và hỗ trợ ngư dân thực hiện các quy định liên quan. Tại địa bàn Đồn Biên phòng Kim Sơn quản lý, 65 tàu cá từ 6m trở lên đã được đăng ký, cập nhật dữ liệu trên phần mềm VNFishbase. Đơn vị duy trì tuần tra, kiểm tra hoạt động trên biển và kiểm soát tàu xuất, nhập bến qua hệ thống quản lý, hệ thống eCDT.

Cùng với việc hướng dẫn khai báo thủ tục điện tử, lực lượng Bộ đội Biên phòng Cửa khẩu cảng Hải Thịnh và Công an xã Hải Thịnh luôn kề vai sát cánh, hỗ trợ ngư dân. Ảnh: Viết Dư

Cùng với đó, Đồn Biên phòng Kim Sơn mở rộng kênh tiếp nhận thông tin phản ánh qua mã QR tại các khu vực trọng điểm. Trung tá Lê Văn Thuận, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Kim Sơn, cho biết: “Đơn vị thường xuyên tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biên phòng, biên giới quốc gia và các quy định liên quan đến hoạt động trên biển. Bên cạnh phương thức tuyên truyền trực tiếp, đơn vị triển khai hòm thư điện tử tiếp nhận thông tin phản ánh thông qua mã QR tại các khu vực trọng điểm, tạo thêm kênh để người dân cung cấp thông tin về những vấn đề liên quan đến an ninh, trật tự trên địa bàn”.

Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, Chi cục Thủy sản - Kiểm ngư Ninh Bình (Sở Nông nghiệp và Môi trường) đã kết nối, hỗ trợ các cơ sở nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao lắp đặt thí điểm hệ thống quan trắc môi trường tự động. Các cảm biến thu thập thông số về nhiệt độ, độ mặn, độ pH và truyền dữ liệu đến phần mềm trên điện thoại thông minh. Người nuôi có thể theo dõi diễn biến môi trường ao nuôi, nhận cảnh báo khi các chỉ số thay đổi bất thường để kịp thời xử lý.

Chi cục cũng thiết lập các nhóm trao đổi trực tuyến theo chuyên đề về nuôi trồng thủy sản, sản xuất giống và khai thác thủy sản, chia sẻ thông tin kỹ thuật, cảnh báo thời tiết và diễn biến thị trường với người dân. Các cơ sở nuôi được hướng dẫn sử dụng phần mềm quản lý quy trình sản xuất, phục vụ theo dõi và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Những con tàu vươn khơi tại xã Giao Ninh ngày càng an toàn hơn nhờ sự đồng hành, hỗ trợ ứng dụng công nghệ số từ chính quyền địa phương. Ảnh: Viết Dư

Từ hoạt động hỗ trợ của các ngành và lực lượng chức năng, việc đưa công nghệ số đến với ngư dân tiếp tục được cụ thể hóa tại từng địa phương, phù hợp với đặc điểm sản xuất và nhu cầu của người dân. Tại xã Giao Ninh, với 131 tàu cá và sản lượng thủy sản đạt khoảng 884 tấn trong 9 tháng đầu năm 2026, chính quyền địa phương chú trọng hướng dẫn ngư dân sử dụng các ứng dụng phục vụ quản lý, giám sát tàu cá và thực hiện thủ tục trực tuyến.

Đồng chí Doãn Phi Trường, Phó Chủ tịch UBND xã Giao Ninh, cho biết: “Địa phương xác định phát triển kinh tế biển gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và bảo vệ môi trường. Đối với ngư dân, cách hỗ trợ cần tính đến lịch trình đi biển và thời gian có mặt trên bờ. Cán bộ xã tranh thủ các buổi họp tổ tàu thuyền để nắm bắt tình hình, hướng dẫn người dân cài đặt và sử dụng VNeID cùng các ứng dụng liên quan đến quản lý, giám sát tàu cá và phòng, chống khai thác IUU”.

Ngư dân xã Hải Thịnh chuẩn bị ngư lưới cụ trước chuyến ra khơi. Ảnh: Viết Dư

Ở xã Hải Tiến, chuyển đổi số được triển khai trong giải quyết thủ tục hành chính và hỗ trợ người dân ứng dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh. Địa phương đã bố trí kiosk thông minh tích hợp trợ lý trí tuệ nhân tạo tại Trung tâm Phục vụ hành chính công, đồng thời duy trì 17 tổ công nghệ số cộng đồng. Các tổ hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán bằng mã QR và tiếp cận phương thức kinh doanh trên môi trường số.

Cán bộ xã Kim Đông hướng dẫn người dân sử dụng Kiosk thông minh để tra cứu thủ tục hành chính. Ảnh: Viết Dư

Tại xã Kim Đông, việc ứng dụng công nghệ số được thể hiện qua kết quả giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến và kết nối người dân với các nền tảng số. Từ tháng 7/2025 đến nay, xã tiếp nhận 1.442 hồ sơ, trong đó 92,37% được nộp trực tuyến. Địa phương tổ chức tập huấn cho cán bộ, công chức và lực lượng tổ công nghệ số cộng đồng; đồng thời tuyên truyền, hướng dẫn người dân cài đặt ứng dụng NinhBinh-S để tiếp cận thông tin và các kênh tương tác với chính quyền.

Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, chuyển đổi số trong kinh tế biển cần sự phối hợp giữa cơ quan chuyên môn, lực lượng chức năng và chính quyền cơ sở. Hạ tầng, phần mềm và thiết bị chỉ phát huy hiệu quả khi người sử dụng nắm được cách vận hành, dữ liệu được cập nhật chính xác và quy trình được thực hiện thường xuyên. Đây là cơ sở để tiếp tục mở rộng ứng dụng công nghệ trong khai thác, nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản, nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững./.


Bài và ảnh: Viết Dư / baoninhbinh.org.vn
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều