Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Ninh Bình
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phát triển Công nghiệp Văn hóa: Khơi thông nguồn lực nội sinh, tạo động lực tăng trưởng mới- Kỳ I

Sự hội tụ của những miền đất giàu trầm tích sau ngày hợp nhất 01-7-2025 mang lại cho Ninh Bình một không gian phát triển mới với nhiều tầng di sản và sắc thái bản địa phong phú. Song, tiềm năng ấy chỉ thực sự trở thành động lực khi được định hình bằng một tư duy đột phá và phương thức tổ chức hiệu quả. Cùng với bước chuyển trong tư duy chiến lược của Đảng ta, bài toán đặt ra cho địa phương không đơn thuần là thụ hưởng lợi thế sẵn có, mà cốt lõi là năng lực kết nối, đưa di sản vào chuỗi giá trị sáng tạo để kiến tạo động lực tăng trưởng xanh, bền vững cho tỉnh trong kỷ nguyên mới.

Trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước, văn hóa luôn xác lập một vị thế tối thượng, là sức mạnh tinh thần, là nền tảng giá trị quyết định khả năng trường tồn và phát triển của quốc gia. Nếu kinh tế tạo ra những điều kiện vật chất thì văn hóa bồi đắp bản lĩnh, định hình nhân cách, tạo dựng sự đồng thuận và khơi dậy khát vọng vươn lên của mỗi con người.

Bước vào kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế sâu rộng, một phương diện khác của văn hóa ngày càng được nhận diện sâu sắc: Văn hóa có khả năng trực tiếp tạo ra giá trị kinh tế thông qua chuỗi liên kết sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa. Công nghiệp văn hóa không đồng nhất với việc khai thác cảnh quan thuần túy, đếm lượt khách du lịch hay tổ chức các sự kiện biểu diễn mang tính phục vụ đơn lẻ. Bản chất của công nghiệp văn hóa là sự kết hợp chặt chẽ giữa giá trị văn hóa cốt lõi với năng lực sáng tạo đương đại, công nghệ cao, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế thị trường nhằm tạo ra các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao. Một câu chuyện lịch sử, một làn điệu dân ca, một kỹ nghệ thủ công truyền thống nếu được soi chiếu bằng tư duy công nghiệp văn hóa sẽ thoát khỏi không gian bảo tồn khép kín để trở thành dòng chảy kinh tế sống động.

Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, khẳng định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Nghị quyết đặt vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa trong tầm nhìn kinh tế và chiến lược quốc gia, hướng tới mục tiêu đóng góp 7% GDP cả nước vào năm 2030.

Đối với Ninh Bình, Nghị quyết số 80-NQ/TW là kim chỉ nam để Đảng bộ tỉnh cụ thể hóa bằng hành động cách mạng thiết thực. Ngày 30/1/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU về “Chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá, du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, xác định công nghiệp văn hoá là ngành kinh tế mũi nhọn, động lực bứt phá mới của tỉnh. Đồng hành cùng quyết tâm chung của cả nước, Ninh Bình xác lập mục tiêu phát triển toàn diện: Phấn đấu đến năm 2030, công nghiệp văn hóa và du lịch đóng góp khoảng 10% GRDP toàn tỉnh, tạo nền tảng hiện thực hóa khát vọng xây dựng Đô thị di sản thiên niên kỷ.

Khai mạc lễ hội Hoa Lư năm 2026.

Chia sẻ về tầm nhìn chiến lược của tỉnh, đồng chí Trần Đăng Quỳnh, Uỷ viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Ninh Bình nhấn mạnh: Ninh Bình sở hữu nguồn lực văn hóa, di sản phong phú, nhưng tiềm năng chỉ trở thành động lực phát triển khi có tư duy đúng, cách tổ chức phù hợp và sự tham gia chủ động của người dân cùng cộng đồng doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra đối với Đảng bộ tỉnh là làm thế nào để những giá trị được gìn giữ qua nhiều thế hệ tiếp tục tạo ra giá trị mới, góp phần phát triển kinh tế và nâng cao đời sống Nhân dân. Chúng tôi xác định văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực cho sáng tạo; phát triển kinh tế phải quay trở lại gìn giữ, bồi đắp văn hóa. Tinh thần ấy phải xuyên suốt quá trình hành động: Tỉnh tạo mọi điều kiện để văn hóa trở thành động lực tăng trưởng, nhưng kiên quyết giữ vững nguyên tắc bảo vệ di sản, cảnh quan sinh thái và bảo đảm lợi ích lâu dài, bền vững của cộng đồng.

Đánh giá về tiềm năng vượt trội của vùng đất Ninh Bình, đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ cho rằng: Tỉnh Ninh Bình sau hợp nhất có vị trí đặc biệt quan trọng, là vùng đất giao thoa chiến lược giữa ba vùng kinh tế trọng điểm: Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Tây Bắc; là nơi hội tụ, kết tinh các dòng chảy văn hoá lớn: Văn hoá Tràng An - Hoa Lư - Tam Chúc; Lịch sử Thiên Trường - Thăng Long - Đông Sơn; với hệ thống di tích lịch sử văn hoá dày đặc, chứa đựng hồn thiêng sông núi của dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử.

Tiến sĩ Hà Văn Siêu phân tích thêm, giá trị của không gian mới nằm ở tính liên kết chuỗi. Du lịch văn hóa phải đóng vai trò là một kênh kết nối thị trường trọng yếu. Một hành trình du lịch tốt sẽ kích hoạt nhu cầu đối với điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, ẩm thực bản địa, thời trang thiết kế và sản phẩm làng nghề. Khi các ngành cùng đứng trong một hệ sinh thái bổ trợ lẫn nhau, di sản mới thoát khỏi thế biệt lập để bước vào chuỗi giá trị kinh tế hiện đại.

Sức sống của nguồn lực nội sinh ấy đang âm vang rõ nét từ chính cơ sở. Về làng kèn đồng Phạm Pháo, xã Hải Anh, du khách không chỉ ngỡ ngàng trước không gian thanh bình của làng quê mà còn say đắm bởi tiếng kèn ngân vang giữa những xưởng gia công rực lửa. Từ những tấm kim loại đồng thô ráp, qua bàn tay tài hoa và kinh nghiệm tích lũy nhiều năm của người thợ, từng chi tiết được uốn, ghép, chỉnh sửa để tạo nên những cây kèn không chỉ đạt yêu cầu chuẩn mực về âm thanh mà còn chứa đựng trọn vẹn tâm huyết của người làm nghề.

Du khách nước ngoài thưởng thức âm nhạc kèn đồng do Nghệ nhân kèn đồng Nguyễn Văn Cường biểu diễn.

Tiếng kèn đồng ngân vang nơi xóm đạo Phạm Pháo không phải là câu chuyện cá biệt. Khắp các vùng quê Ninh Bình, hàng trăm làng nghề truyền thống đang nắm giữ những kho tàng tri thức dân gian và mỹ cảm vô giá của tiền nhân. Song, như một quy luật tất yếu của kinh tế sáng tạo, kỹ nghệ cổ truyền sẽ khó bứt phá nếu thiếu đi sự tiếp sức của thiết kế đương đại, công nghệ xử lý vật liệu, bảo hộ sở hữu trí tuệ và phương thức tiếp thị hiện đại. Đưa di sản bước ra khỏi lũy tre làng để chinh phục thị trường chính là bài toán thực tiễn đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền và năng lực thích ứng của chính những người làm nghề.

Bên cạnh làng nghề và danh thắng, điện ảnh chính là ngành công nghiệp văn hóa mũi nhọn chứng minh rõ nét nhất sức mạnh cộng hưởng giữa cảnh quan tự nhiên, chiều sâu lịch sử với tư duy sản xuất hiện đại và thị trường toàn cầu.

Hơn 30 năm trước, vẻ đẹp hoang sơ, huyền ảo của non nước Tràng An từng làm say đắm hàng triệu khán giả năm châu qua bộ phim kinh điển Indochine (Đông Dương) tác phẩm đoạt giải Oscar của Điện ảnh Mỹ cho Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất năm 1992. Năm 2017, vẻ đẹp kỳ vĩ của danh thắng Ninh Bình một lần nữa bùng nổ toàn cầu qua siêu phẩm bom tấn của Hollywood “Kong: Skull Island”. Hình ảnh những dãy núi đá vôi trùng điệp giữa mây trời, những dòng sông mềm mại uốn lượn qua miền di sản Tam Cốc, Tràng An, Vân Long xuất hiện dày đặc trên truyền thông quốc tế, kéo theo những làn sóng du khách khám phá bất tận. Tiếp nối mạch nguồn ấy, hàng loạt tác phẩm điện ảnh và truyền hình tiêu biểu của Việt Nam như Thiên mệnh anh hùng, Tấm Cám: Chuyện chưa kể, Hương vị tình thân… đã chọn nơi đây làm bối cảnh ghi hình.

Bối cảnh Ninh Bình thu hút nhiều đoàn làm phim, nhiếp ảnh gia trong nước và quốc tế đến tìm hiểu, sáng tác.

Mới đây nhất, bộ phim lịch sử cổ trang “Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh” đã khai thác trực tiếp trầm tích lịch sử Cố đô Hoa Lư. Tác phẩm không chỉ tái hiện khúc quanh bi tráng của thời kỳ đầu dựng nước mà còn phô diễn trọn vẹn vẻ tráng lệ, kỳ ảo của thiên nhiên non nước Ninh Bình. Tháng 9/2026, tác phẩm vinh dự đại diện điện ảnh Việt Nam tham dự vòng sơ tuyển hạng mục Phim quốc tế tại Oscar lần thứ 99.

Đáng chú ý, sức hấp dẫn của Ninh Bình đối với các đoàn làm phim không chỉ đến từ cảnh sắc thiên nhiên kỳ vĩ, những trầm tích lịch sử, văn hóa đặc sắc mà còn từ sự hiền hòa, chân chất và tấm lòng mến khách của người dân địa phương. Chia sẻ về những ngày tham gia ghi hình bộ phim Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh, diễn viên Trần Thiên Tú (đảm nhận vai An Nhiên) bày tỏ: “Điều khiến tôi rất ấn tượng ở Ninh Bình là sự hiền hòa, chân chất, nhiệt tình và luôn sẵn lòng hỗ trợ đoàn phim, từ những việc nhỏ nhất của các cô, chú lái đò. Đó là những kỷ niệm đẹp, là tình cảm đặc biệt mà tôi sẽ luôn nhớ về vùng đất này”.

Ẩm thực Ninh Bình đa dạng, đặc sắc, là tài nguyên tiềm năng thúc đẩy kinh tế di sản.

Không chỉ lợi thế về cảnh quan, lịch sử hay văn hóa, con người, trong không gian phát triển rộng mở sau hợp nhất, ẩm thực cũng là một nguồn tài nguyên văn hóa giàu sức sống và tiềm năng trong bức tranh kinh tế di sản. Sự hội tụ của ba miền đất Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình đã làm phong phú thêm bản đồ ẩm thực địa phương, nơi mỗi món ăn đều mang theo dấu ấn thổ nhưỡng, tập quán sinh hoạt và sự tài hoa của bao thế hệ. Đó là cá kho làng Vũ Đại, bánh cuốn Phủ Lý, chuối ngự Đại Hoàng của miền Hà Nam; phở Nam Định, nem nắm Giao Thủy, bánh nhãn Hải Hậu, kẹo Sìu Châu của vùng đất Thành Nam; hay cơm cháy, thịt dê núi, nem chua Yên Mạc, gỏi cá nhệch Kim Sơn của miền Cố đô.

Trong kho tàng ấy, phở Nam Định là một câu chuyện tiêu biểu về sức sống bền bỉ của văn hóa dân gian và hành trình chuyển hóa một nghề truyền thống thành giá trị kinh tế. Tìm về làng Vân Cù, xã Nam Đồng, một trong những cái nôi của nghề phở, câu chuyện về món ăn nổi tiếng dường như bắt đầu từ chính nhịp sống bình dị của những gia đình nhiều đời gắn bó với nghề. Từ những gánh phở theo chân người làng đi khắp phố phường, hương vị quê nhà dần hiện diện ở nhiều miền đất, trở thành sinh kế, thành gia nghiệp và niềm tự hào được trao truyền qua các thế hệ.

Tráng bánh phở tại làng nghề Vân Cù

Nghệ nhân ẩm thực Cồ Như Đồi, người con của làng phở Vân Cù mang dáng vẻ giản dị, chất phác, hiền lành, có phần ít nói thế nhưng, khi nhắc đến phở, anh say sưa, hào hứng. Anh nói nhiều về cách chọn gạo ra sao? Làm bánh, ninh nước dùng, gia giảm hương liệu thế nào và cả những bí quyết được người làng chắt chiu qua nhiều thế hệ. Với anh, phở không chỉ là một món ăn mà còn là ký ức quê hương, là nếp nhà, là tâm huyết của những người thợ luôn đau đáu giữ gìn hương vị cha ông.

Nhìn rộng ra, từ tri thức ẩm thực dân gian hay những thước phim trên màn bạc quốc tế, có thể thấy nguồn lực văn hóa không nằm ở đâu xa. Nó hiện hữu trong đời sống, trong bàn tay người thợ, trong những ký ức cộng đồng và cả những câu chuyện chưa được kể hết về mỗi miền đất. Vấn đề cốt lõi là phải có tư duy phát triển, cơ chế kết nối và phương thức tổ chức đủ sức đưa những giá trị ấy bước vào thị trường mà không đánh mất bản sắc. Đây cũng là tầng ý nghĩa sâu xa của việc đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh và động lực tăng trưởng mới: Không chỉ làm giàu thêm đời sống tinh thần, mà còn tạo sinh kế, nâng cao thu nhập, khơi dậy niềm tự hào và sự chủ động sáng tạo của Nhân dân. Trong hành trình ấy, mỗi người dân vừa là chủ thể gìn giữ di sản, vừa có thể trở thành người trực tiếp thụ hưởng thành quả phát triển.

Có thể nói, Ninh Bình đang đứng trước cơ hội lịch sử hội tụ đủ “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Cơ hội ấy được kiến tạo từ tầm nhìn thể chế của Nghị quyết số 80-NQ/TW; nguồn tài nguyên di sản dồi dào sau hợp nhất; cùng quyết tâm chính trị từ Nghị quyết số 07-NQ/TU của Tỉnh ủy và sự vào cuộc chủ động của người dân, cộng đồng doanh nghiệp.

Dù vậy, tài nguyên dẫu phong phú đến mấy cũng không tự động chuyển hóa thành giá trị kinh tế. Muốn di sản thực sự hoá thành tài sản, phải giải quyết thấu đáo bài toán tổ chức sản xuất: Làm thế nào để nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp và công nghệ bắt tay hợp tác? Những nút thắt thể chế nào cần tiếp tục gỡ bỏ để khai phóng trọn vẹn nguồn lực sáng tạo?

Lời giải cho những câu hỏi chiến lược ấy đang được Ninh Bình bắt tay hiện thực hóa bằng những mô hình đột phá đầy bản lĩnh từ chính thực tiễn cơ sở.

KỲ 2: BIẾN DI SẢN THÀNH NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN


baoninhbinh.org.vn
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều