Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La thảo luận tổ
Phát biểu thảo luận, đại biểu Hoàng Văn Nghiệm, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh, đề nghị bổ sung chỉ tiêu đánh giá tình trạng tái nghiện; đồng thời chú trọng đào tạo nghề, giải quyết việc làm và hỗ trợ sinh kế, tạo điều kiện để người sau cai nghiện ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng.
Theo Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình, đến ngày 14/8/2026, cả nước có 81.642 người nghiện ma túy, 44.890 người sử dụng trái phép chất ma túy và 51.760 người bị quản lý sau cai nghiện. Tuy nhiên, báo cáo chưa phản ánh số người tái nghiện. Đại biểu cho rằng, đây là chỉ số quan trọng cần được quan tâm, bởi hiệu quả cai nghiện không chỉ phụ thuộc vào quyết tâm của người sau cai mà còn gắn với điều kiện sống, việc làm và thu nhập. Việc bổ sung số liệu về tái nghiện sẽ góp phần đánh giá đầy đủ hơn thực trạng, hiệu quả công tác cai nghiện và những khó khăn trong quản lý sau cai tại các địa phương.
Đại biểu đề nghị rà soát, đánh giá thực chất kết quả dạy nghề, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện. Đối với Dự án 8 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2035 về nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy và quản lý sau cai, cần quan tâm triển khai các giải pháp phòng ngừa tái nghiện, hỗ trợ người sau cai tiếp cận chính sách, dịch vụ xã hội và tạo điều kiện tái hòa nhập cộng đồng. Đồng thời, cần đánh giá cụ thể kết quả bảo đảm người nghiện, người sau cai nghiện và gia đình được tiếp cận thông tin, chính sách, dịch vụ hỗ trợ cần thiết.
Đối với hệ thống chỉ tiêu của Dự thảo Nghị quyết, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung mục tiêu hằng năm giảm ít nhất 5% số người nghiện ma túy và người sử dụng trái phép chất ma túy so với năm trước; đồng thời xác định chỉ tiêu kiểm soát, giảm tỷ lệ tái nghiện và tỷ lệ người sau cai nghiện được quản lý, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng, duy trì kết quả cai nghiện. Các chỉ tiêu cần có số liệu nền và phương pháp thống kê thống nhất, bảo đảm khả năng đo lường, đánh giá đúng hiệu quả thực chất.
Dẫn chứng thực tiễn tại Sơn La, là tỉnh miền núi, biên giới, có vị trí trọng yếu, tiếp giáp với các tỉnh Bắc Lào, với đường biên giới dài 274 km. Địa hình phức tạp, nhiều đường mòn, lối mở, trong khi công tác quản lý biên giới còn gặp không ít khó khăn, tạo điều kiện để các đối tượng lợi dụng mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy qua biên giới. Nội dung phối hợp phòng, chống ma túy tại khu vực biên giới đã được tỉnh Sơn La và một số tỉnh của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào xây dựng, triển khai. Tuy nhiên, lực lượng chức năng phía nước bạn còn mỏng, ảnh hưởng đến hiệu quả phối hợp đấu tranh, ngăn chặn tội phạm ma túy. Sơn La đã ban hành Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh về công tác phòng, chống ma túy, đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng địa bàn không có ma túy.
Đây là mục tiêu lớn, đòi hỏi các giải pháp quyết liệt, đồng bộ, thường xuyên và phù hợp với đặc thù từng khu vực. Đại biểu cho rằng: Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026–2035 cần có giải pháp kiểm soát đồng bộ cả nguồn cung và nhu cầu sử dụng ma túy; trong đó, tập trung ngăn chặn ma túy xâm nhập từ bên ngoài, đấu tranh, triệt phá các đường dây, điểm mua bán, vận chuyển trái phép, đồng thời giảm nhu cầu sử dụng thông qua công tác phòng ngừa, cai nghiện, quản lý sau cai và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng. Đại biểu Hoàng Văn Nghiệm đề nghị xây dựng các giải pháp toàn diện, phù hợp với đặc thù từng địa bàn, nhất là các tỉnh miền núi, biên giới; kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát nguồn cung, giảm cầu và nâng cao hiệu quả phối hợp phòng, chống ma túy qua biên giới.
Tham gia thảo luận, đại biểu Quàng Văn Hương, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, đề nghị Chính phủ hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn lực, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp và có giải pháp đặc thù, bảo đảm Chương trình phát huy hiệu quả tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và khu vực biên giới.
Từ thực tiễn các địa bàn còn nhiều khó khăn, đại biểu đề nghị tập trung vào 05 nhóm vấn đề. Trước hết, về phân bổ nguồn lực, cần cụ thể hóa chủ trương ưu tiên bằng các tiêu chí rõ ràng, có thể lượng hóa; tính đến đặc điểm địa bàn, mức độ phức tạp về ma túy, tội phạm, khả năng cân đối ngân sách và mức độ thiếu hụt dịch vụ thiết yếu, tránh phân bổ bình quân, cào bằng. Nguồn lực bố trí phải tương xứng với nhiệm vụ, nhất là ở cấp xã.
Về mục tiêu, chỉ tiêu đánh giá, cần xây dựng các chỉ số phân tách theo vùng, địa bàn và nhóm đối tượng; chú trọng khả năng tiếp cận thông tin, trợ giúp pháp lý, dịch vụ y tế, cai nghiện và hỗ trợ sau cai. Việc đánh giá phải căn cứ vào số liệu đầu kỳ, phương pháp tính và trách nhiệm thu thập thông tin rõ ràng, qua đó phản ánh đúng chuyển biến về an ninh, trật tự và khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân.
Đối với việc lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, cần rà soát, phân định rõ phạm vi, đối tượng, địa bàn, nguồn vốn và trách nhiệm của từng cơ quan, nhất là giữa Chương trình này với Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Nghị quyết số 46 của Quốc hội. Việc lồng ghép phải bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện từ cấp xã, sử dụng hiệu quả nguồn lực và không làm ảnh hưởng đến quyền thụ hưởng chính sách của người dân.
Đại biểu cũng đề nghị tăng cường phòng ngừa ma túy, tội phạm ngay từ cơ sở thông qua cơ chế phối hợp giữa công an xã, trạm y tế, nhà trường, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín. Công tác tuyên truyền cần phù hợp với phong tục, tập quán, chú trọng sử dụng tiếng dân tộc thiểu số tại những địa bàn người dân chưa thông thạo tiếng phổ thông. Cùng với đó, cần gắn xây dựng địa bàn an toàn với tư vấn tâm lý, trợ giúp pháp lý, đào tạo nghề, tạo việc làm và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng; bảo đảm nguồn lực tương ứng với nhiệm vụ giao cho cấp xã.
Về nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ và hỗ trợ sau cai nghiện, đại biểu đề nghị phát triển trợ giúp pháp lý lưu động, tuyên truyền trực tiếp tại cộng đồng; tổ chức tư vấn, hỗ trợ cai nghiện phù hợp với điều kiện từng địa bàn; tăng cường kết nối giữa cơ sở cai nghiện, y tế cơ sở, chính quyền cấp xã và các tổ chức xã hội. Đặc biệt, cần quan tâm đào tạo nghề, tạo việc làm, phát triển sinh kế, giúp người sau cai nghiện ổn định cuộc sống, hạn chế nguy cơ tái nghiện./.


