Đại biểu Lê Thị Song An đề xuất bổ sung hình thức xử phạt lao động cộng đồng
Tham gia thảo luận, đại biểu Lê Thị Song An - Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh tham gia góp ý nhiều nội dung đối với dự thảo Luật. Trong đó, tập trung vào 3 nội dung gồm bổ sung hình thức xử phạt lao động phục vụ cộng đồng; hoàn thiện quy định về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp không ra quyết định xử phạt và cơ chế gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt đối với các vụ việc có tính chất chuyên môn, kỹ thuật phức tạp.
Bổ sung hình thức xử phạt lao động phục vụ cộng đồng
Đóng góp ý kiến tại nghị trường Quốc hội, đại biểu Lê Thị Song An đề nghị bổ sung hình thức xử phạt hành chính bằng lao động phục vụ cộng đồng vào khoản 1 Điều 22 của dự thảo Luật. Theo đại biểu, thực tiễn công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự cho thấy, bên cạnh các hình thức xử phạt truyền thống như cảnh cáo, phạt tiền, cần nghiên cứu bổ sung những hình thức xử lý mang tính giáo dục, phục hồi và hướng đến lợi ích cộng đồng, qua đó nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm pháp luật.
Đại biểu dẫn chứng, qua các thông tin báo chí, một số địa phương đã tổ chức cho thanh thiếu niên từ 13 đến 16 tuổi có biểu hiện chuẩn bị đánh nhau tham gia dọn dẹp vệ sinh, chăm sóc các phần mộ tại nghĩa trang liệt sĩ sau khi được tuyên truyền, giáo dục. Hoạt động này nhận được sự đồng tình, ủng hộ, thể hiện cách tiếp cận mang tính nhân văn; góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, giúp thanh thiếu niên nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của bản thân đối với cộng đồng và phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra.
Từ thực tiễn trên, đại biểu cho rằng, lao động phục vụ cộng đồng nếu được tổ chức phù hợp có thể mang lại hiệu quả giáo dục trực tiếp, giúp người vi phạm nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình đối với xã hội. Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung hình thức xử phạt này vào khoản 1 Điều 22, đồng thời xây dựng các quy định hướng dẫn cụ thể về đối tượng, điều kiện, phạm vi, thời gian và cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện, bảo đảm việc áp dụng thống nhất, có kiểm soát, phù hợp với từng nhóm đối tượng cũng như tính chất, mức độ vi phạm.
Cần bảo đảm căn cứ pháp lý, tính khả thi khi tổ chức thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả
Góp ý đối với Điều 54 dự thảo Luật, đại biểu cơ bản thống nhất với các quy định như trong dự thảo. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần quan tâm đến việc bảo đảm căn cứ pháp lý rõ ràng và tính khả thi trong quá trình tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả.
Theo đại biểu, đối với những biện pháp như buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường hoặc buộc khôi phục tình trạng ban đầu, nếu quyết định chỉ quy định chung chung về trách nhiệm khắc phục ô nhiễm, khôi phục hiện trạng mà không xác định cụ thể phạm vi, nội dung công việc, yêu cầu kỹ thuật và thời hạn thực hiện thì sẽ rất khó xác định cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ đã thực hiện đầy đủ hay chưa. Trường hợp người vi phạm không tự nguyện chấp hành, cơ quan có thẩm quyền cũng gặp khó khăn trong việc kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành và tổ chức cưỡng chế thi hành.
Vì vậy, đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện Điều 54 theo hướng quy định rõ trình tự, thủ tục xác minh hiện trạng, xác định hậu quả và căn cứ pháp lý để áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; làm rõ trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc thu thập chứng cứ, chứng minh hành vi vi phạm, cũng như trách nhiệm chứng minh và quyền giải trình của cá nhân, tổ chức trong trường hợp không ra quyết định xử phạt nhưng vẫn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Đặc biệt, đối với các biện pháp buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường hoặc khôi phục tình trạng ban đầu, cần quy định cụ thể những nội dung bắt buộc phải thể hiện trong quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Qua đó, bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện; tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc kiểm tra, đôn đốc và cưỡng chế thi hành trong trường hợp cá nhân, tổ chức không tự nguyện chấp hành.
Nghiên cứu, bổ sung cơ chế gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt vụ việc có chuyên môn, kỹ thuật phức tạp
Đối với quy định tại Điều 55 của dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, bổ sung cơ chế gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt đối với một số vụ việc có tính chất chuyên môn, kỹ thuật phức tạp, nhất là trong các lĩnh vực bảo vệ môi trường, khoáng sản, đất đai và an toàn thực phẩm.
Theo đại biểu, đây là những lĩnh vực đòi hỏi quy trình xác minh, đánh giá chuyên môn, kỹ thuật phức tạp, có thể phải thực hiện giám định, quan trắc hoặc lấy ý kiến của các cơ quan chuyên môn. Nếu chỉ áp dụng thời hạn 7 ngày làm việc, 1 tháng hoặc 2 tháng như quy định tại dự thảo Luật thì có thể gây khó khăn cho công tác xác minh, thu thập chứng cứ và xác định đầy đủ căn cứ pháp lý để xử phạt. Điều này tiềm ẩn nguy cơ không thể ban hành quyết định xử phạt do hết thời hạn luật định, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tính nghiêm minh của pháp luật.
Để khắc phục bất cập này, đại biểu đề nghị bổ sung quy định cho phép gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt đối với những vụ việc có tính chất chuyên môn, kỹ thuật phức tạp. Tuy nhiên, việc gia hạn phải được thực hiện bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do, nội dung cần xác minh, thời gian gia hạn và phải có sự chấp thuận của thủ trưởng trực tiếp có thẩm quyền. Đồng thời, cần quy định giới hạn thời gian gia hạn nhằm tránh tình trạng kéo dài thời gian xử lý tùy tiện, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xử phạt.
Đại biểu nhấn mạnh, việc bổ sung cơ chế gia hạn phù hợp sẽ góp phần nâng cao tính khả thi của pháp luật, đáp ứng yêu cầu xử lý các vụ việc phức tạp trong thực tiễn, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức./.


