Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thanh Hóa
Thanh Hóa
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đồng bào Mông một lòng theo Đảng - Khát vọng đổi đời từ núi cao (Bài cuối): Chi bộ mạnh - bản làng đổi thay

- Ở các bản Mông vùng biên xứ Thanh, chi bộ là điểm tựa để bản làng vận hành nhịp nhàng. Từ sinh hoạt chi bộ nền nếp, từ trách nhiệm nêu gương của đảng viên, những nghị quyết từng bước đi vào đời sống, hiện diện trong ruộng nương, nếp sinh hoạt và kỷ cương cộng đồng. Từ xuất phát điểm tổ chức còn mỏng, có nơi từng thiếu đảng viên, nhiều bản làng hôm nay đã xây dựng được chi bộ đủ mạnh, tạo nền tảng cho những đổi thay sâu bền.

Đồng bào Mông một lòng theo Đảng - Khát vọng đổi đời từ núi cao (Bài cuối): Chi bộ mạnh - bản làng đổi thay

Cán bộ, đảng viên bản Khằm 1, xã Trung Lý bám sát cơ sở, kịp thời trao đổi, vận động người dân thực hiện chủ trương chung. Ảnh: Trần Hằng

Xây nền từ cơ sở

Sương sớm còn lảng bảng trên sườn núi, căn nhà cấp bốn đơn sơ nơi bản Khằm 1, xã Trung Lý đã sáng đèn. 7 đảng viên người Mông ngồi quây quần, bắt đầu buổi sinh hoạt chi bộ định kỳ - ngắn gọn, thực chất và “trúng việc”. Bí thư chi bộ Vàng A Sùng nói chậm rãi, đan xen giữa tiếng phổ thông và tiếng Mông: “Không ép, không làm thay, mà phải nói cho bà con hiểu điều đúng, làm trước để bà con tin, rồi bà con sẽ tự làm theo”.

Bản Khằm 1 hiện có 85 hộ với 475 nhân khẩu, 100% là đồng bào Mông. Chi bộ có 8 đảng viên, trong đó 1 đảng viên đi làm ăn xa. Ít ai biết rằng, để có được tổ chức đủ mạnh như hôm nay, chi bộ đã trải qua một chặng đường gây dựng không ít khó khăn. Năm 2011, khi chi bộ được thành lập trên cơ sở 3 bản: Khằm 1, Khằm 2, Khằm 3. Đến năm 2014, khi tách bản, mỗi chi bộ có 3 đảng viên. Sinh hoạt chi bộ khi ấy chủ yếu là duy trì tổ chức, việc xây dựng nghị quyết còn nhiều lúng túng.

Bằng sự kiên trì tạo nguồn, bồi dưỡng và giữ vững tiêu chuẩn, nhiệm kỳ 2015-2020, Chi bộ bản Khằm 1 kết nạp thêm 2 đảng viên; sang nhiệm kỳ 2020-2025, chi bộ tiếp tục phát triển thêm 3 đảng viên, hoàn thành chỉ tiêu đề ra. Cùng với tăng số lượng, chất lượng sinh hoạt chi bộ từng bước được nâng lên, chuyển từ “nghe phổ biến” sang “bàn việc cụ thể”, từ nghị quyết chung chung sang nhiệm vụ gắn với từng hộ, từng nhóm dân cư.

Trong buổi sinh hoạt, đảng viên Hạng A Chừ báo cáo việc vận động bà con đào hố ủ phân, làm rãnh thoát nước để tránh rác trôi xuống suối. Những việc tưởng nhỏ nhưng lại cho thấy chi bộ đã chạm đúng những vấn đề sát sườn đời sống. Chính từ những việc ấy, vai trò hạt nhân lãnh đạo của chi bộ dần được khẳng định.

Xã Trung Lý có 7,8km đường biên giới, 15 bản, trong đó 11 bản là đồng bào Mông. Toàn xã có 7.276 nhân khẩu, đồng bào Mông chiếm 61,32% (4.996 người). Tỷ lệ hộ nghèo năm 2025 là 39,68%, cận nghèo là 26,24%. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, chi bộ bản không chỉ giữ vai trò hạt nhân chính trị, mà còn là “trụ cột” giữ nhịp hoạt động của cả hệ thống ở cơ sở. Thực tiễn cho thấy, nơi nào chi bộ yếu thì chủ trương khó đi vào cuộc sống; nơi nào chi bộ mạnh, nghị quyết được triển khai hiệu quả, tạo chuyển biến rõ rệt.

Đoàn kết tạo sức mạnh

Chi bộ mạnh không phải tự nhiên mà có, mà được rèn luyện từ thực tiễn đời sống Nhân dân, qua từng công việc cụ thể. Ở bản Khằm 1, nghị quyết của chi bộ không dừng ở khẩu hiệu, mà được cụ thể hóa bằng việc làm thiết thực. Đó là đảng viên nêu gương, tiên phong thực hiện, sau đó hướng dẫn, hỗ trợ, “kéo” các hộ dân cùng tham gia. Cách làm kiên trì, bài bản ấy giúp chủ trương đi vào cuộc sống, củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo chuyển biến rõ rệt ở cơ sở.

Tiêu biểu là đảng viên Lâu Thị Cé - nữ đảng viên duy nhất của chi bộ, đồng thời là chi hội trưởng chi hội phụ nữ. Tận dụng lợi thế địa phương, chị mạnh dạn phát triển mô hình trồng dưa Mông theo hướng hàng hóa, từng bước nâng cao thu nhập cho gia đình. Không chỉ dừng ở việc “làm giàu” cho mình, chị còn tích cực hướng dẫn, vận động hội viên phụ nữ cùng tham gia, hình thành nhóm liên kết, hỗ trợ nhau về giống, kỹ thuật và cách tổ chức sản xuất.

Đảng viên Giàng A Vảng là một điển hình khác trong phát triển kinh tế hộ. Anh trồng hơn 2ha cam đường, bưởi đỏ, kết hợp nuôi gà đen bản địa với quy mô trên 300 con. Trong quá trình sản xuất, anh luôn sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, chủ động đề xuất cấp ủy, chính quyền xã hỗ trợ giống, kỹ thuật để hàng chục hộ dân cùng phát triển, góp phần tạo sinh kế bền vững và lan tỏa cách làm hiệu quả trong cộng đồng.

Phát triển kinh tế luôn song hành với xây dựng nếp sống mới. Sinh hoạt chi bộ hằng tháng, hằng quý đều lồng ghép tuyên truyền pháp luật, nhất là các quy định về tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, tang lễ văn minh. Từ chỗ nhiều hủ tục tồn tại dai dẳng, đến nay 100% đám tang trong bản đưa vào quan tài, không để quá 48 tiếng, chôn cất tập trung theo quy định. Những chuyển biến ấy không đến từ áp đặt, mà từ sự thuyết phục kiên trì của chi bộ và đảng viên. Khi đảng viên gương mẫu, nói đúng, làm trước, bà con tự giác thay đổi.

Ở bản Suối Tôn, xã Phú Lệ, câu chuyện đoàn kết mang một sắc thái riêng. Bản có 100% đồng bào Mông, trong đó 99% là giáo dân; phần lớn di cư từ Sơn La, Yên Bái từ năm 1998. Toàn bản hiện có 77 hộ với 456 nhân khẩu, chi bộ 8 đảng viên. Trong điều kiện đặc thù ấy, vai trò của các tổ chức đoàn thể và người có uy tín càng trở nên quan trọng. Năm trưởng họ thuộc các dòng họ Vàng, Mùa, Giàng, Thào, Phơ trực tiếp tham gia tuyên truyền, vận động trong dòng họ mình; chi bộ kiên quyết không xem xét kết nạp Đảng đối với các trường hợp vi phạm tảo hôn. Cùng với đó, chi bộ còn áp dụng cách làm mới như lập các nhóm zalo, facebook để tuyên truyền thường xuyên; kể cả đảng viên đi làm ăn xa vẫn tham gia sinh hoạt, nắm bắt chủ trương, phản ánh tình hình kịp thời.

Nhờ cách làm linh hoạt, bám sát thực tiễn, tinh thần đoàn kết trong cộng đồng được củng cố bằng những kết quả cụ thể, đó là nhận thức của người dân chuyển biến rõ rệt, tình trạng tảo hôn chấm dứt; 100% trẻ trong độ tuổi được đến lớp; an ninh trật tự thôn, bản giữ vững. Tiếng nói của đảng viên người Mông ngày càng có uy tín, tạo niềm tin trong Nhân dân, góp phần khẳng định vai trò hạt nhân lãnh đạo của chi bộ và sức mạnh đoàn kết trong xây dựng cuộc sống mới ở vùng đồng bào Mông.

Giữ chuẩn để nguồn bền

Một chi bộ muốn vững mạnh, trước hết phải có đội ngũ đảng viên đủ phẩm chất; muốn có đảng viên, phải tạo được nguồn; mà muốn có nguồn, nhất thiết phải có phong trào. Chuỗi logic ấy vốn đã không dễ ở nhiều địa phương, càng trở nên “khó” hơn tại các bản đồng bào Mông, nơi còn đan xen nhiều rào cản: trình độ dân trí không đồng đều, đời sống kinh tế khó khăn, phong tục tập quán khép kín, thanh niên đi làm ăn xa, thậm chí có nơi từng trải qua thời gian dài sinh hoạt chính trị mờ nhạt.

Chính vì vậy, công tác tạo nguồn phát triển Đảng ở bản Mông không thể làm theo lối thụ động “đợi quần chúng tự đến”, mà phải là quá trình chủ động, kiên trì và có phương pháp. Thực tế ở bản Suối Tôn cho thấy một nguyên tắc xuyên suốt được chi bộ giữ vững, đó là: phát triển Đảng phải đi đôi với giữ nghiêm chuẩn mực chính trị, tuyệt đối không chạy theo số lượng. Bí thư chi bộ, kiêm trưởng bản Mùa A Du thẳng thắn chia sẻ, có những trường hợp đủ tuổi, đủ hồ sơ nhưng vi phạm tảo hôn, chi bộ kiên quyết không xem xét kết nạp. Sự nghiêm khắc ấy không phải để “làm khó”, mà là cách bảo vệ uy tín của tổ chức đảng. Ở cộng đồng nhỏ, chỉ cần một vài đảng viên thiếu gương mẫu, niềm tin của Nhân dân sẽ bị “sứt mẻ” và rất lâu mới có thể bù đắp.

Song song với việc giữ chuẩn, chi bộ phải chủ động mở lối cho quần chúng phấn đấu. Việc giao nhiệm vụ thông qua các tổ chức đoàn thể, rèn luyện qua phong trào, thử thách bằng những công việc cụ thể chính là cách tạo nguồn bền vững. Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Đề án tăng cường lãnh đạo công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xã Phú Lệ cho thấy hiệu quả của cách làm bài bản: phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các đoàn thể, lồng ghép dân vận với phong trào thi đua, phát huy các mô hình “Dân vận khéo”, “Tổ tự quản”, thực hiện dân chủ cơ sở và đối thoại với Nhân dân. Đây không chỉ là phương thức vận động Nhân dân, mà còn là môi trường phát hiện, bồi dưỡng những hạt nhân tích cực cho Đảng.

Bài học từ công tác thay đổi nếp sống tang lễ ở xã Trung Lý cũng khẳng định, muốn tạo chuyển biến bền vững phải bắt đầu từ thay đổi nhận thức, phát huy vai trò người có uy tín, đưa quy ước vào hương ước để cộng đồng tự giám sát, kiên trì nhưng tôn trọng bản sắc. Vận dụng vào phát triển đảng viên, những nguyên tắc ấy giúp việc kết nạp gắn chặt hơn với thực tiễn lao động, nếp sống và kỷ cương bản làng.

Khi đội ngũ được củng cố, vai trò lãnh đạo của chi bộ được thể hiện rõ qua những nghị quyết sát thực tiễn. Ở bản Khằm 1, nghị quyết đầu năm gắn trực tiếp với phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, tạo sự đồng thuận để Nhân dân chung sức bê tông hóa đường vào bản đạt khoảng 70%. Từ những việc làm cụ thể ấy, niềm tin của Nhân dân dần được bồi đắp, phong trào được khơi dậy, và vị thế hạt nhân lãnh đạo của chi bộ được khẳng định bằng chính sự đổi thay của bản làng.

Câu chuyện “chi bộ mạnh - bản làng đổi thay” ở vùng đồng bào Mông là kết quả của quá trình xây dựng kiên trì, bài bản. Trọng tâm là củng cố tổ chức đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, phát huy vai trò các đoàn thể, tạo nguồn phát triển Đảng gắn với phong trào thi đua và đời sống hằng ngày của Nhân dân. Khi nghị quyết sát thực tiễn, công tác dân vận được triển khai có chiều sâu, an ninh trật tự được giữ vững ngay từ cơ sở, thì niềm tin của Nhân dân đối với Đảng được bồi đắp bền vững. Niềm tin ấy hiện hữu qua những kết quả cụ thể, bằng những đổi thay tích cực của bản làng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết và tạo động lực phát triển lâu dài.

Trần Hằng


baothanhhoa.vn
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều