Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Bộ Giáo dục và Đào tạo
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hợp tác giáo dục trong kỉ nguyên số: chính sách - mô hình - công nghệ

Ngày 8/10, trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỉ nguyên số, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) tổ chức phiên thảo luận chuyên đề “Chính sách - mô hình - công nghệ”.

Quang cảnh phiên thảo luận

Chuyển sang phương thức đồng nghiên cứu, đồng sáng tạo

Trong phiên thảo luận này, các doanh nghiệp công nghệ, trường đại học, tổ chức giáo dục và các đơn vị phát triển giải pháp phục vụ ngành Giáo dục đã tham luận, thảo luận, trao đổi liên quan đến thể chế, chính sách, mô hình về công nghệ và hợp tác quốc tế tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ GDĐT) Trần Nam Tú cho biết: Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW cùng hệ thống các luật, văn bản dưới luật hiện có đã trở thành một chỉnh thể thống nhất trong thể chế về đổi mới sáng tạo trong giáo dục tại Việt Nam. Từ đó hình thành một lộ trình, định hướng: giáo dục đào tạo con người; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo tạo động lực nội sinh và hội nhập quốc tế kết nối tri thức, công nghệ, nguồn lực toàn cầu.

Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ GDĐT) Trần Nam Tú trao đổi tại phiên thảo luận

Ông Trần Nam Tú cho rằng, khi cơ chế mở đường cho thương mại hoá kết quả nghiên cứu, nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp cần chuyển phương thức truyền thống sang phương thức mới như đồng nghiên cứu, đồng sáng tạo, đồng sở hữu kết quả; phòng thí nghiệm và trung tâm xuất sắc hợp tác quốc tế; tham gia xây dựng quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế; mạng lưới trí thức Việt Nam ở nước ngoài.

Chia sẻ tại phiên chuyên đề, ông Jonathan Schmidgall, Chuyên gia nghiên cứu cấp cao tại Viện Khảo thí Giáo dục Hoa Kì (ETS), đề cập đến ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI) trong đánh giá và những hàm ý đối với hoạt động đo lường đánh giá.

Ông Jonathan Schmidgall, Chuyên gia nghiên cứu cấp cao tại Viện Khảo thí Giáo dục Hoa Kì (ETS), chia sẻ tại phiên thảo luận

Theo ông Jonathan Schmidgall, những đánh giá, đo lường nếu được thực hiện một cách hiệu quả thì sẽ công bằng hơn. Nếu phân quá trình đánh giá thành 4 giai đoạn là thiết kế, triển khai, chấm điểm và phản hồi thì AI đang có những tác động trực tiếp đến công tác đánh giá, đo lường. Điển hình như, AI có thể hỗ trợ con người trong việc đánh giá hiệu quả hơn và giúp mở rộng phạm vi có thể đo lường. Trong triển khai bài kiểm tra, AI có thể hỗ trợ các bài thi trực tuyến, an toàn, bảo mật hơn.

Nhìn lại bản chất của bằng đại học và bổ sung giá trị thực tế

Ông Fouad Abd-El-Khalick, Hiệu trưởng, Phó Chủ tịch phụ trách học thuật, Đại học Massachusetts Amherst (UMass Amherst), Hoa Kì khẳng định vai trò của AI trong việc hỗ trợ học tập tại các cơ sở giáo dục đại học và nguồn nhân lực của tương lai.

Tại Đại học Massachusetts Amherst, giảng viên có thể quyết định mức độ sử dụng AI cho các bải giảng của mình, phụ thuộc vào mục tiêu giảng dạy của mỗi người, mỗi bài giảng. Từ đó sinh viên cũng lưu ý đến việc giảng viên quy định họ có được sử dụng AI hay không.

Ông Fouad Abd-El-Khalick, Hiệu trưởng, Phó Chủ tịch phụ trách học thuật, Đại học Massachusetts Amherst (UMass Amherst), Hoa Kì trao đổi tại phiên thảo luận

Theo ông Fouad Abd-El-Khalick, Đại học Massachusetts Amherst không chỉ dùng AI để phục vụ việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy. Ở chiều ngược lại, trường học còn nghiên cứu chính AI. Theo đó, các nghiên cứu tập trung vào ứng dụng, áp dụng, phát triển AI để phục vụ cộng đồng.

Để phục vụ học tập, nghiên cứu và giảng dạy, Đại học Massachusetts Amherst đã tạo sandbox AI cho giảng viên, sinh viên sử dụng trong khuôn viên trường để bảo đảm an toàn cho người dùng.

Nhìn nhận lại giá trị của tấm bằng đại học trong kỉ nguyên AI, GS. Rick Bennett, Phó Hiệu trưởng kiêm Phó Chủ tịch, Trường Đại học Anh quốc Việt Nam, cho rằng câu hỏi giờ đây các trường đặt ra không còn là: “Sinh viên có nên sử dụng AI không? Bài toán bây giờ là nên sử dụng AI như thế nào? Sinh viên sử dụng AI như thế nào cho thông minh, có tư duy phản biện và có khả năng sáng tạo? Làm thế nào để các trường chuẩn bị cho sinh viên tốt nghiệp, đáp ứng đòi hỏi thực tế của sự phát triển?”.

Quang cảnh phiên thảo luận

Để trả lời câu hỏi đó, theo GS. Rick Bennett, cần nhìn lại bản chất của bằng đại học và cần bổ sung giá trị cho tấm bằng đại học theo ba hướng.

Thứ nhất, đưa doanh nghiệp tham gia thực chất việc thiết kế chương trình đào tạo. “Nhà tuyển dụng hiểu rõ những gì họ cần. Vì vậy, hãy để họ cùng các trường đại học xây dựng những chương trình đào tạo có giá trị”, GS. Rick Bennett nói.

Thứ hai, ghi nhận năng lực thực làm của sinh viên. Sinh viên cần có một hồ sơ đi cùng bảng điểm học thuật, ghi nhận những gì các em đã chứng minh được rằng mình thực sự có thể làm. Một hồ sơ thể hiện rõ năng lực, có độ tin cậy và giúp nhà tuyển dụng nhìn thấy, hiểu và tin tưởng.

Thứ ba, đưa trải nghiệm quốc tế trở thành một phần của quá trình chuẩn bị cho sinh viên bước vào môi trường làm việc. Đó cần là một yêu cầu thiết yếu đối với việc học tập, tích luỹ trải nghiệm và nâng cao khả năng cạnh tranh.


Trung tâm Truyền thông và Sự kiện / moet.gov.vn
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều