Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Bộ Nông nghiệp và Môi trường
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tái cấu trúc ngành chăn nuôi tạo chuỗi giá trị bền vững

Ngành chăn nuôi Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển dịch mạnh mẽ, với những biến động lớn về cơ cấu sản xuất, mô hình tổ chức và yêu cầu quản trị.

Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, thị trường cạnh tranh khốc liệt và nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, bài toán đặt ra không chỉ là tăng sản lượng mà còn phải xây dựng một hệ sinh thái chăn nuôi hiện đại, bền vững và an toàn.

Phát biểu tại Hội nghị Phòng, chống dịch bệnh và Phát triển chăn nuôi bền vững ngày 12/3, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho rằng ngành đang đứng trước thời cơ lớn nhưng cũng đối mặt với nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến. Ảnh: Bảo Thắng.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến. Ảnh: Bảo Thắng.

Chuyển dịch mô hình chăn nuôi

Trong nhiều năm, chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm tỷ trọng áp đảo trong cơ cấu sản xuất. Tuy nhiên, xu hướng này đang thay đổi nhanh chóng.

Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi và Thú y, trước đây chăn nuôi nông hộ chiếm khoảng 70% tổng quy mô, nhưng hiện nay xu hướng này đã giảm xuống. Ngược lại, chăn nuôi quy mô trang trại và công nghiệp tăng trưởng mạnh nhờ sự tham gia của các doanh nghiệp lớn.

Quy mô đàn vật nuôi của Việt Nam hiện khá lớn, đàn lợn khoảng 31 triệu con, gia cầm trên 500 triệu con, đàn trâu 2 triệu con, bò hơn 6 triệu và dê cừu khoảng 2,8 triệu con. Tuy vậy, nếu tính bình quân đầu người, sản lượng thịt, trứng và sữa vẫn ở mức thấp so với tiềm năng của một thị trường hơn 100 triệu dân và hàng chục triệu lượt khách quốc tế mỗi năm.

Một điểm đáng chú ý khác là công nghiệp thức ăn chăn nuôi đã phát triển mạnh, với sản lượng khoảng 22 triệu tấn mỗi năm. Nhưng hoạt động sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu (trên 65% nguyên liệu thô, trên 90% thức ăn bổ sung). “Dư địa phát triển của ngành còn rất rộng. Nhiều doanh nghiệp lớn đã đầu tư và tiếp tục mở rộng sản xuất, cho thấy tiềm năng của thị trường này”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhận định.

Dù quy mô sản xuất ngày càng lớn, hệ thống quản lý ngành ở nhiều địa phương vẫn chưa theo kịp. Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, một trong những thách thức lớn là hệ thống thú y và chăn nuôi ở cơ sở đang bị thu hẹp, thiếu nhân lực và tổ chức. “Nếu không có hệ thống cán bộ, không có bộ máy thì không thể quản lý được dịch bệnh, giết mổ hay kiểm soát an toàn thực phẩm”, ông nói.

Hội nghị thu hút hàng trăm đại biểu dự trực tiếp tại trụ sở Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Bảo Thắng.

Hội nghị thu hút hàng trăm đại biểu dự trực tiếp tại trụ sở Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Bảo Thắng.

Tại một số địa phương, Chi cục Chăn nuôi và Thú y bị sáp nhập hoặc thiếu biên chế, dẫn đến việc kiểm soát dịch bệnh, quản lý vận chuyển và giết mổ gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, ngành chăn nuôi lại có quy mô hàng hóa lớn, tốc độ tăng trưởng cao và liên quan trực tiếp đến an ninh thực phẩm. Ngoài ra, hệ thống văn bản pháp luật vẫn tồn tại độ trễ. Nhiều quy định mới chỉ xử lý các vấn đề cấp bách, trong khi các thách thức dài hạn của giai đoạn trung hạn sắp tới 2026-2030 vẫn cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý.

Tiếp nữa, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính cũng đang đặt ra mạnh mẽ. Trong nhiều năm qua, Chính phủ liên tục yêu cầu cắt giảm thủ tục, đơn giản hóa quy trình để tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất.

 

Khoa học công nghệ - chìa khóa thay đổi diện mạo ngành

Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, nếu không có khoa học công nghệ, ngành chăn nuôi khó có thể thay đổi căn bản. “Khoa học công nghệ quyết định tăng trưởng nhanh và bền vững. Nó quyết định vị thế của một ngành và của cả quốc gia”, ông nhấn mạnh.

Trong những năm gần đây, doanh nghiệp đã tiếp cận nhiều công nghệ mới như giống, thức ăn, xử lý môi trường và kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, tốc độ đổi mới công nghệ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Một hướng đi quan trọng là phát triển công nghiệp sinh học, thay vì chỉ dừng ở công nghệ sinh học truyền thống. Việc ứng dụng các kỹ thuật di truyền, công nghệ phôi, vi sinh và công nghệ tế bào có thể tạo ra bước đột phá về giống vật nuôi.

Ngoài ra, ngành cần thúc đẩy tự động hóa trong trang trại, công nghệ chuồng trại, thiết bị vắt sữa, quản lý thức ăn và giám sát đàn vật nuôi bằng dữ liệu số. Điều này không chỉ giảm chi phí lao động mà còn nâng cao độ chính xác và năng suất. Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng chỉ rõ “nút thắt” lớn cần giải quyết là hệ thống giết mổ và chế biến. Cả nước hiện có khoảng 25.000 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ. Phần lớn trong số này chưa đáp ứng yêu cầu vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm.

Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, việc duy trì mô hình giết mổ thủ công kéo dài không chỉ gây khó khăn cho quản lý dịch bệnh mà còn làm giảm giá trị gia tăng của sản phẩm. “Không có thực phẩm sạch thì không thể phát triển du lịch, cũng không thể phát triển kinh tế xã hội”, ông nói.

Ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Bảo Thắng.

Ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Bảo Thắng.

Trong khi đó, tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi được chế biến sâu tại Việt Nam còn khiêm tốn. Phần lớn vẫn tiêu thụ dưới dạng thịt tươi. Điều này trái ngược với xu hướng tiêu dùng trên thế giới, đang chuyển mạnh sang các sản phẩm chế biến, đông lạnh và tiện lợi. Điều này không chỉ kéo dài thời gian bảo quản mà còn giúp ổn định thị trường.

Đại dịch Covid-19 từng cho thấy rõ hạn chế của chuỗi cung ứng khi nhiều vùng sản xuất dư thừa nhưng các đô thị lớn lại thiếu thực phẩm. Để phát triển bền vững, ngành chăn nuôi cần hình thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh, gồm Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân và các hiệp hội ngành hàng. Trong đó, hiệp hội đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý, đồng thời góp phần xây dựng chính sách và phát triển chuỗi giá trị.

Chuyển đổi số được xem là công cụ quan trọng để quản lý dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thị trường minh bạch trong quá trình này. Việc thúc đẩy hợp tác quốc tế cũng giúp ngành tiếp cận công nghệ mới, đào tạo nhân lực và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Tại hội nghị, các địa phương và hiệp hội, ngành hàng tin tưởng, nếu tháo gỡ được những điểm nghẽn về quản lý, công nghệ và chuỗi giá trị, ngành chăn nuôi Việt Nam có thể bước sang một giai đoạn phát triển mới. Đó là mô hình sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, kiểm soát dịch bệnh hiệu quả và gắn với hệ thống chế biến, tiêu thụ hiện đại.


Bảo Thắng / mae.gov.vn
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều