Sửa đổi Luật Đầu tư: Hoàn thiện chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài gắn với hiệu quả thực chất
Sáng 23/10, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Dự thảo Luật tập trung hoàn thiện chính sách tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, đổi mới cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, đơn giản hóa thủ tục và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời đặt ra yêu cầu tăng cường giám sát, bảo đảm tính thống nhất và khả thi trong tổ chức thực hiện.
Hoàn thiện chính sách đầu tư theo hướng thông thoáng, minh bạch

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tờ trình. Ảnh: Đức Thanh
Trình bày Tờ trình, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nêu rõ sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, định hướng mới, đặc biệt là Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; đồng thời giải quyết những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn lực đầu tư, tăng cường liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với nền kinh tế trong nước.
Dự thảo Luật gồm 3 điều, quy định việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp, với 4 nhóm nội dung trọng tâm.
Về tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, dự thảo đề xuất cơ chế để Chính phủ quy định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường trong các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường, căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước. Trường hợp điều kiện được quy định tại văn bản thuộc thẩm quyền của Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ban hành. Việc nới lỏng phải bảo đảm quốc phòng, an ninh, công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử và phù hợp với cam kết quốc tế.
Đối với chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, dự thảo bổ sung các hình thức hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng, sản xuất sản phẩm công nghệ cao, đầu tư tài sản cố định, hợp tác đào tạo và nghiên cứu khoa học; đồng thời mở rộng phạm vi ưu đãi, hỗ trợ đối với các dự án, lĩnh vực cần khuyến khích.
Đáng chú ý, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt được định hướng gắn với các cam kết của nhà đầu tư về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo lao động Việt Nam, phát triển nhà cung ứng trong nước và chuyển đổi xanh. Trường hợp không đáp ứng cam kết, nhà đầu tư có thể bị điều chỉnh hoặc thu hồi ưu đãi, hỗ trợ. Cơ chế hỗ trợ thông qua Quỹ Hỗ trợ đầu tư được thực hiện trên cơ sở chi phí hợp lệ thực tế phát sinh, trong phạm vi dự toán ngân sách nhà nước trung ương được Quốc hội quyết định hằng năm.
Dự thảo cũng đề xuất cho phép khấu hao nhanh tài sản cố định tại khu công nghiệp sinh thái với mức tối đa bằng hai lần mức khấu hao theo quy định; kéo dài thời hạn hoạt động của dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp lên tối đa 70 năm.
Về cải cách thủ tục đầu tư, dự thảo mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt đối với một số dự án thuộc ngành, lĩnh vực ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt thực hiện ngoài các khu chức năng tập trung khi đáp ứng điều kiện về đất đai. Các quy định về lựa chọn nhà đầu tư và thủ tục đối với dự án đề nghị Nhà nước giao khu vực biển cũng được sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm thống nhất với pháp luật có liên quan.
Cùng với đó, Cổng một cửa đầu tư quốc gia được định hướng trở thành nền tảng số thống nhất, kết nối dữ liệu, từng bước triển khai thủ tục đầu tư trực tuyến toàn trình, giảm thời gian và chi phí tuân thủ. Dự thảo phân định trách nhiệm quản lý nhà nước về khu kinh tế, khu công nghiệp và khu chế xuất giữa Bộ Tài chính và Bộ Công Thương; đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật về thi hành án dân sự để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Đề nghị làm rõ thẩm quyền, tiêu chí ưu đãi và cơ chế giám sát

Chủ nhiệm UBKTTC Phan Văn Mãi trình bày báo cáo thẩm tra. Ảnh: Quốc hội
Trình bày báo cáo thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, đa số ý kiến trong Ủy ban cơ bản thống nhất với định hướng mở rộng tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát các quy định liên quan nhằm bảo đảm tính hợp pháp, thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với cam kết quốc tế và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
Đối với cơ chế nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường, cần cân nhắc kỹ việc giao Chính phủ quyết định đối với các điều kiện được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc điều chỉnh cần có lộ trình phù hợp, dựa trên đánh giá đầy đủ, toàn diện tác động theo yêu cầu của Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực nhạy cảm và yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Đối với ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, cơ quan thẩm tra đề nghị quy định ngay trong Luật các nguyên tắc, tiêu chí cơ bản xác định dự án được hưởng ưu đãi, nhất là tiêu chí về tác động lan tỏa, khả năng tạo động lực phát triển và đóng góp vào việc nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Toàn cảnh phiên họp sáng ngày 23/10. Ảnh: Đức Thanh
Về lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án có sử dụng khu vực biển, Ủy ban đề nghị quy định rõ phạm vi, tiêu chí và nguyên tắc xác định các trường hợp không phải đấu giá, đấu thầu; hạn chế các quy định dẫn chiếu mở như “theo quy định của pháp luật”, tránh mở rộng phạm vi ngoại lệ tại văn bản dưới luật. Các nội dung này cần được rà soát, bảo đảm thống nhất với pháp luật về đất đai, đấu thầu và tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Đối với thủ tục đầu tư đặc biệt, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa thủ tục đăng ký đầu tư với thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, nhất là trường hợp đất chưa được thu hồi; đồng thời rà soát các quy định dẫn chiếu để bảo đảm tính thống nhất với pháp luật về đất đai.
Dự kiến sáng 24/10, Quốc hội sẽ tiếp tục thảo luận tại tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, tập trung cho ý kiến đối với các nội dung sửa đổi, hoàn thiện chính sách và bảo đảm tính khả thi trong quá trình tổ chức thực hiện.
Lam Anh


