Mở không gian mới, tạo động lực tăng trưởng mới cho các vùng
Sau hơn 3 năm thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế - xã hội, nhận thức về vai trò của phát triển vùng được nâng lên, liên kết vùng từng bước được tăng cường. Trên cơ sở đánh giá kết quả và những điểm nghẽn còn tồn tại, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị đặt ra định hướng tổ chức lại không gian phát triển quốc gia, tạo động lực mới từ liên kết vùng, các cực tăng trưởng và hành lang kinh tế.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị đặt ra định hướng tổ chức lại không gian phát triển quốc gia, tạo động lực mới từ liên kết vùng, các cực tăng trưởng và hành lang kinh tế.
Tổ chức lại không gian phát triển, tăng sức lan tỏa giữa các vùng
Nghị quyết số 27-NQ/TW xác định phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới. Điểm nhấn là đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng, chuyển từ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt mọi nguồn lực.
Theo định hướng này, không gian phát triển quốc gia được tổ chức thống nhất trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng trong tổng thể phát triển đất nước. Các vùng, vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và trung tâm kinh tế được đặt trong mối quan hệ liên kết, bổ trợ và lan tỏa, qua đó khắc phục tư duy cục bộ, phát triển dàn trải và trùng lặp.
Một trong những quan điểm có ý nghĩa then chốt là xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng thật sự mạnh, thực chất và hiệu quả. Việc quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực cần được thực hiện đồng bộ, liên thông, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, địa phương và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa địa phương, vùng và quốc gia.
Mục tiêu tổng quát được đặt ra là tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia. Trong đó, các lợi thế nổi trội, lợi thế cạnh tranh và bản sắc văn hóa của từng vùng, từng địa phương được phát huy; vai trò dẫn dắt, lan tỏa của vùng động lực, hành lang kinh tế và cực tăng trưởng được nâng cao. Đồng thời, quá trình phát triển phải bảo đảm các yêu cầu về tự chủ chiến lược, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, nâng cao đời sống nhân dân, quốc phòng, an ninh và môi trường hòa bình, ổn định.
Tầm nhìn đến năm 2045 hướng tới các vùng phát triển theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu và kinh tế tuần hoàn, với hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, xanh, an toàn và có khả năng chống chịu cao. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chính của tăng trưởng và phát triển; liên kết giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng ngày càng chặt chẽ.
Để hiện thực hóa định hướng này, Nghị quyết yêu cầu tổ chức không gian phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ giữa đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới. Đáng chú ý, tư duy tổ chức không gian được chuyển từ chủ yếu dựa trên địa giới hành chính tỉnh, thành phố sang dựa trên chức năng, tiềm năng, lợi thế, điều kiện tài nguyên, môi trường và các mối liên kết vùng, liên kết ngành, tiểu vùng.
Nguồn lực được ưu tiên cho các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá trong quy hoạch vùng, trong đó quan tâm đầu tư cho các cực tăng trưởng để tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả vùng. Cùng với đó là hình thành, phát triển các hành lang kinh tế kết nối hiệu quả các vùng động lực, cực tăng trưởng quốc gia, khai thác không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính.
Các hành lang kinh tế được định hướng trở thành những trục kết nối giao thông và không gian kinh tế xuyên suốt, kết nối các trung tâm kinh tế, đô thị và cảng biển quan trọng. Việc tiếp tục đầu tư hình thành các vùng động lực quốc gia cũng nhằm tạo những khu vực có khả năng dẫn dắt phát triển vùng và các địa phương, đồng thời tăng cường kết nối không gian biển và kết nối các hành lang kinh tế trong nước với khu vực, quốc tế.
Đột phá liên kết, hạ tầng và các động lực tăng trưởng mới
Cùng với tổ chức lại không gian, hoàn thiện thể chế phát triển vùng được xác định là một trong những khâu đột phá. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện cơ chế phối hợp, điều phối và huy động nguồn lực vùng theo hướng mạnh, thực chất, hiệu quả, nhất là đối với các công trình liên vùng.
Đối với các công trình liên vùng, nguyên tắc được đặt ra là các địa phương cùng quyết định, cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi, không phát sinh các khâu trung gian. Những công trình liên ngành, liên vùng có ý nghĩa chiến lược quốc gia cần có cơ chế điều phối thống nhất và một đầu mối chịu trách nhiệm. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế chia sẻ nguồn lực và lợi ích giữa quốc gia, vùng và địa phương theo nguyên tắc cùng phát triển.
Một định hướng lớn khác là đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành các động lực kinh tế mới của vùng. Kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số được xác định là những hướng phát triển quan trọng, với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò động lực chủ yếu, xuyên suốt. Các động lực tăng trưởng mới của từng vùng cần gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong mô hình phát triển mới, kết cấu hạ tầng được xác định không chỉ là nền tảng mà còn trở thành một ngành kinh tế chiến lược, tạo ra thị trường lớn để phát triển năng lực sản xuất trong nước. Các công trình đường sắt, năng lượng, đô thị, cảng biển và hạ tầng số được định hướng triển khai gắn với sự phát triển của các ngành công nghiệp nội địa, tạo không gian để doanh nghiệp Việt Nam tích lũy công nghệ, kinh nghiệm và năng lực, từng bước làm chủ công nghệ cao và các dự án lớn.
Nghị quyết nhấn mạnh việc chuyển từ tư duy chủ yếu dựa vào các nguồn lực sẵn có như đất đai, khoáng sản và ngân sách nhà nước sang tư duy kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt nguồn lực toàn xã hội. Trong đó, đầu tư công được tập trung vào các công trình nền tảng, thiết yếu, liên vùng, hạ tầng công ích, hạ tầng xã hội thiết yếu và vùng khó khăn, qua đó dẫn dắt, lan tỏa và tạo điều kiện để khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ.
Đây cũng là cơ sở để thúc đẩy huy động nguồn lực xã hội cho phát triển hạ tầng. Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ chế khơi thông, kích hoạt các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, ưu tiên các hình thức đầu tư tư nhân và hợp tác công tư (PPP); tập trung hoàn thành các công trình, dự án hạ tầng trọng điểm có tính liên vùng và lan tỏa, trong đó có hạ tầng kết nối các khu kinh tế biển và khu kinh tế cửa khẩu.
Về giao thông, định hướng tập trung phát triển hạ tầng hiện đại, đồng bộ, kết nối hiệu quả giữa các ngành, các vùng, địa phương với các trung tâm kinh tế lớn và giữa Việt Nam với quốc tế. Trục Bắc - Nam được định hướng tích hợp đường bộ, đường sắt, hạ tầng năng lượng, cáp quang và logistics; các hành lang Đông - Tây kết nối vùng nội địa với cảng biển, cửa khẩu và mạng lưới logistics khu vực.
Hai cực tăng trưởng lớn nhất là vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị TP. Hồ Chí Minh được ưu tiên phát triển, cùng với định hướng có cơ chế, chính sách khuyến khích một số địa phương trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đóng vai trò là các cực tăng trưởng của vùng và kết nối nội vùng, liên vùng, khu vực và quốc tế. Mục tiêu đến năm 2045 là xây dựng ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế.
Song song với hạ tầng vật chất, Nghị quyết dành trọng tâm cho nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Các lĩnh vực then chốt được chú trọng gồm công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao, công nghệ số, logistics, tài chính, năng lượng và nông nghiệp công nghệ cao. Cùng với đó là cơ chế thu hút chuyên gia, nhà khoa học, nhân tài trong và ngoài nước, nhất là trong các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học và các công nghệ mới nổi.
Việc phát triển các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung và các trung tâm dữ liệu cũng được đặt trong tổng thể phát triển vùng. Hạ tầng số, tài nguyên số, không gian số, cơ sở dữ liệu lớn và kinh tế dữ liệu được xác định là những cấu phần quan trọng của không gian phát triển mới.
Không gian phát triển vùng theo định hướng mới cũng bao gồm các yêu cầu về văn hóa, xã hội, an sinh, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc phát triển các trục di sản, văn hóa, du lịch liên vùng, hiện đại hóa hệ thống y tế vùng, xây dựng hệ thống an sinh xã hội liên vùng và huy động nguồn lực cho các chương trình phát triển tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và vùng đặc biệt khó khăn được đặt trong tổng thể phát triển cân bằng, bao trùm.
Đối với môi trường và biến đổi khí hậu, Nghị quyết yêu cầu tăng cường liên kết vùng trong huy động, sử dụng nguồn lực; ưu tiên giải quyết những vấn đề có tính liên vùng như ô nhiễm nước, chất thải, suy giảm đa dạng sinh học; thúc đẩy chuyển đổi xanh, kinh tế xanh, kinh tế các-bon thấp và kinh tế tuần hoàn. Hệ thống dữ liệu môi trường vùng được định hướng đồng bộ, hiện đại, kết nối với hệ thống quan trắc, giám sát môi trường quốc gia.
Để tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết, Bộ Chính trị yêu cầu các tỉnh ủy, thành ủy xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai; Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các luật, nghị quyết có liên quan và tăng cường giám sát. Đảng ủy Chính phủ có trách nhiệm ban hành chương trình hành động, hoàn thiện cơ chế điều phối và kết nối phát triển vùng, đồng thời xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ kết quả thực hiện của từng vùng, từng địa phương gắn với trách nhiệm người đứng đầu.
Có thể thấy, Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt phát triển vùng trong một cách tiếp cận rộng hơn về tổ chức không gian phát triển quốc gia. Trọng tâm không chỉ là phát huy lợi thế riêng của từng địa phương mà hướng tới hình thành mạng lưới liên kết giữa vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, đô thị, hạ tầng và các chuỗi giá trị.
Thu Huyền


