Từ lợi thế bổ trợ đến không gian hợp tác mới giữa Lào Cai và Đồng Nai
Cuộc làm việc giữa Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai và Ban Thường vụ Thành ủy Đồng Nai vừa qua đã mở ra những định hướng hợp tác mới giữa hai địa phương trong giai đoạn 2026 - 2030. Từ những trao đổi tại hội nghị, thế mạnh và nhu cầu phát triển của mỗi bên được đặt trong mối liên kết cụ thể hơn, từ thương mại, xuất nhập khẩu, logistics, công nghiệp, đầu tư đến nông nghiệp, du lịch, khoa học - công nghệ và quản trị. Qua đó, những tiềm năng bổ trợ giữa một địa phương cửa ngõ biên giới phía Bắc với một trung tâm công nghiệp, sản xuất lớn từng bước được nhận diện, hướng tới chuyển hóa thành các chương trình, dự án và chuỗi liên kết có hiệu quả thực chất.
Lào Cai và Đồng Nai cách xa về địa lý, khác biệt về điều kiện tự nhiên, cơ cấu kinh tế và không gian phát triển. Nhưng chính sự khác biệt đó tạo ra khả năng bổ trợ khá rõ: một bên có lợi thế cửa khẩu, kết nối thị trường Tây Nam Trung Quốc, nông - lâm nghiệp, khoáng sản và du lịch; một bên có nền tảng công nghiệp, chế biến, logistics, thương mại và mạng lưới doanh nghiệp phát triển. Hợp tác giữa hai địa phương vì thế cần hướng vào những lĩnh vực có thể kết nối trực tiếp các lợi thế này, lấy doanh nghiệp, thị trường và hiệu quả kinh tế - xã hội làm trọng tâm, lựa chọn những việc cụ thể để tạo ra kết quả và sản phẩm hợp tác rõ ràng.
Trong điều kiện không gian kinh tế ngày càng mở rộng, liên kết giữa các địa phương không còn phụ thuộc nhiều vào khoảng cách địa lý. Điều quan trọng là tìm được điểm giao nhau về lợi ích phát triển, từ đó tổ chức lại các dòng hàng hóa, đầu tư, du lịch, lao động và tri thức. Lào Cai và Đồng Nai là hai địa phương có điều kiện rất khác nhau, nhưng xét từ cơ cấu kinh tế, những khác biệt ấy lại tạo ra khả năng bổ sung cho nhau.
Đây cũng là vấn đề được Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai Dương Quốc Huy nhấn mạnh trong cuộc làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Đồng Nai: giai đoạn phát triển mới đòi hỏi các địa phương chuyển mạnh từ phát triển riêng lẻ sang liên kết, bổ trợ; Lào Cai có lợi thế về kinh tế cửa khẩu, logistics biên giới, khoáng sản, nông - lâm nghiệp và văn hóa, trong khi Đồng Nai có thế mạnh về công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, thương mại, thu hút đầu tư và mạng lưới doanh nghiệp. Cơ sở của hợp tác chính là kết nối những lợi thế khác nhau đó để cùng tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị trong nước và quốc tế
Đặt trên nền tảng này, quan hệ hợp tác giữa hai địa phương cần vượt khỏi khuôn khổ trao đổi kinh nghiệm thông thường. Dự thảo nội dung hợp tác giai đoạn 2026 - 2030 đã xác định khá rộng các lĩnh vực, từ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đến giao thông, đô thị, công nghiệp, thương mại, nông nghiệp, du lịch, giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh. Vấn đề đặt ra không phải tiếp tục mở rộng thêm danh mục, mà là từ phạm vi hợp tác rộng đó lựa chọn những lĩnh vực hai bên thực sự có khả năng bổ trợ, có điều kiện triển khai và có thể đo được kết quả.
Trước hết là thương mại, xuất nhập khẩu và tổ chức chuỗi cung ứng. Đây có thể coi là một trong những điểm giao rõ nhất giữa lợi thế của hai địa phương. Đồng Nai có năng lực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp hàng hóa lớn; Lào Cai có Cửa khẩu quốc tế Lào Cai và hệ thống kết nối trực tiếp với tỉnh Vân Nam, từ đó tiếp cận thị trường Tây Nam Trung Quốc. Nếu tổ chức tốt, Lào Cai không chỉ là một thị trường tiêu thụ sản phẩm của Đồng Nai và Đồng Nai không chỉ là thị trường phía Nam đối với hàng hóa của Lào Cai, mà hai địa phương có thể tham gia vào một chuỗi cung ứng có phạm vi rộng hơn.
Hướng hợp tác đã được xác định khá cụ thể: Nghiên cứu đưa một số mặt hàng có thế mạnh của Đồng Nai như chuối, sầu riêng, bưởi tiếp cận thị trường Vân Nam và Tây Nam Trung Quốc qua Lào Cai; ở chiều ngược lại, các sản phẩm quế, chè, dược liệu, sản phẩm OCOP của Lào Cai có thể kết nối với hệ thống doanh nghiệp tại Đồng Nai để tiêu thụ trực tiếp hoặc chế biến sâu. Xa hơn là nghiên cứu các luồng hàng phù hợp trên tuyến Trung Quốc - Lào Cai - Đồng Nai - Campuchia và thị trường ASEAN. 3. Phát biểu thống nhất ý kiến …
Nếu triển khai được theo hướng này, ý nghĩa của hợp tác không nằm ở một vài chuyến hàng cụ thể mà ở khả năng hình thành các luồng hàng hai chiều tương đối ổn định. Đối với Đồng Nai, tuyến cửa khẩu Lào Cai có thể bổ sung một hướng tiếp cận thị trường Trung Quốc. Đối với Lào Cai, mạng lưới doanh nghiệp sản xuất, chế biến và phân phối của Đồng Nai mở thêm đầu ra cho sản phẩm của tỉnh, đồng thời tạo khả năng tham gia sâu hơn vào khâu chế biến thay vì chủ yếu tiêu thụ sản phẩm thô.
Tuy nhiên, để dòng hàng thực sự vận hành, hợp tác phải đi sâu vào những khâu cụ thể hơn xúc tiến thương mại. Nông sản xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu về kiểm dịch, an toàn thực phẩm, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu. Doanh nghiệp cần thông tin về thủ tục xuất nhập khẩu, năng lực kho bãi, kho lạnh, vận tải và thời gian thông quan. Dự thảo chương trình hợp tác đã đặt ra việc phối hợp hỗ trợ doanh nghiệp ở các khâu này, đồng thời thúc đẩy đầu tư kho, bãi, kho lạnh, kho mát và dịch vụ logistics tại Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai. Đây là những nội dung cần được ưu tiên bởi chúng tác động trực tiếp đến chi phí, thời gian và khả năng cạnh tranh của hàng hóa.
Không gian hợp tác còn rộng hơn khi đặt Lào Cai và Đồng Nai vào hệ thống logistics quốc gia. Đồng Nai có các đầu mối hạ tầng quan trọng, trong đó dự thảo hợp tác đề cập Cảng Phước An, Cảng hàng không quốc tế Long Thành; Lào Cai có hệ thống cửa khẩu và các lối thông quan Kim Thành, Bản Vược, kết nối với thị trường Tây Nam Trung Quốc. Định hướng đặt ra là kết nối chuỗi logistics hai chiều giữa các khu công nghiệp, hệ thống cảng biển, hàng không của Đồng Nai với mạng lưới logistics và cửa khẩu của Lào Cai, đồng thời kết nối đường bộ, đường sắt và các phương thức vận tải phù hợp. 03.
Cùng với thương mại và logistics, công nghiệp là lĩnh vực Lào Cai có nhiều điều có thể tiếp nhận từ kinh nghiệm của Đồng Nai. Vấn đề không đơn giản là học tập mô hình khu công nghiệp. Điều Lào Cai cần quan tâm là kinh nghiệm tổ chức không gian công nghiệp, quản lý khu công nghiệp sau quy hoạch, thu hút nhà đầu tư thứ cấp, phát triển hạ tầng dùng chung và từng bước chuyển đổi theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn.
Hai địa phương dự kiến tăng cường trao đổi về phát triển khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái, công nghiệp chuyên ngành và chuyển đổi xanh; kết nối các chủ đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp phát triển khu công nghiệp của Đồng Nai với các khu, cụm công nghiệp mới của Lào Cai. Trong định hướng của Lào Cai, nội dung này được đặt cụ thể hơn ở yêu cầu kết nối hệ sinh thái đầu tư của Đồng Nai với không gian đầu tư mới của tỉnh, tạo điều kiện để doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp FDI và nhà đầu tư quốc tế đang hoạt động tại Đồng Nai, nghiên cứu các dự án sản xuất, kho vận, chế biến và phân phối tại Lào Cai.
Điều này có ý nghĩa đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Lào Cai. Một tỉnh có nguồn tài nguyên, nông - lâm sản và lợi thế cửa khẩu sẽ tạo ra giá trị gia tăng cao hơn nếu thu hút được các khâu chế biến, logistics và phân phối. Khi doanh nghiệp đến Lào Cai không chỉ để khai thác nguồn nguyên liệu mà đặt cơ sở chế biến, kho vận, tổ chức chuỗi cung ứng, lợi ích để lại cho địa phương sẽ lớn hơn về việc làm, ngân sách và sự phát triển của doanh nghiệp phụ trợ.
Ở chiều ngược lại, Lào Cai có thể cung cấp thêm một không gian để doanh nghiệp Đồng Nai mở rộng chuỗi cung ứng ra phía Bắc. Lợi thế cửa khẩu có ý nghĩa rõ nhất khi được đặt trong quan hệ với năng lực sản xuất. Một địa phương có cửa khẩu nhưng nguồn hàng hạn chế sẽ khó phát huy hết công suất hạ tầng; một trung tâm sản xuất lớn muốn mở rộng thị trường cũng cần thêm các hành lang lưu thông thuận lợi. Sự bổ trợ giữa hai địa phương nằm chính ở điểm này.
Một lĩnh vực khác có dư địa nhưng cần cách làm thực chất là du lịch. Lào Cai có thế mạnh về du lịch cộng đồng, văn hóa các dân tộc, cảnh quan và khí hậu; Đồng Nai có kinh nghiệm về du lịch sinh thái gắn với tài nguyên rừng, đa dạng sinh học và đồng thời là địa bàn có quy mô dân số, hoạt động kinh tế lớn. Hợp tác được định hướng vào trao đổi thị trường khách, xây dựng sản phẩm, xúc tiến quảng bá, tổ chức các đoàn khảo sát và kết nối doanh nghiệp du lịch. 03. Du thao BBGN hop tac LC-DN
Trong toàn bộ các hướng hợp tác, doanh nghiệp cần được đặt vào vị trí trung tâm. Đây là điểm đáng chú ý trong định hướng của Lào Cai. Cơ quan nhà nước có thể xây dựng cơ chế, cung cấp thông tin, kết nối và tháo gỡ vướng mắc, nhưng dòng hàng, dòng vốn và các dự án đầu tư chỉ được hình thành khi doanh nghiệp nhìn thấy hiệu quả. Bởi vậy, thay vì tổ chức nhiều hoạt động giao lưu chung, cần tăng những cuộc kết nối theo ngành, theo chuỗi sản phẩm và theo dự án cụ thể. Doanh nghiệp logistics cần gặp doanh nghiệp xuất khẩu; đơn vị sản xuất nông nghiệp cần kết nối với doanh nghiệp chế biến, phân phối; nhà đầu tư hạ tầng công nghiệp cần tiếp cận trực tiếp quỹ đất, quy hoạch, cơ chế và nhu cầu đầu tư tại Lào Cai.
Hợp tác về quản trị, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số cũng cần theo cách tiếp cận tương tự: lựa chọn mô hình có khả năng áp dụng. Hai địa phương dự kiến chia sẻ kinh nghiệm về chính quyền số, kinh tế số, xã hội số; hạ tầng và dữ liệu số; trí tuệ nhân tạo; nguồn nhân lực số; kết nối chuyên gia, doanh nghiệp và nhà đầu tư trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. Định hướng của Lào Cai tập trung vào một số nội dung cụ thể hơn như quản trị dữ liệu phục vụ điều hành, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công vụ, quản trị thông minh đô thị, khu công nghiệp, logistics và kết nối dữ liệu phục vụ thương mại, đầu tư.
Giá trị của hợp tác trong lĩnh vực này không nằm ở số đoàn trao đổi kinh nghiệm mà ở việc một mô hình tốt của địa phương này có thể được điều chỉnh để áp dụng tại địa phương kia. Một quy trình quản trị hiệu quả, một nền tảng dữ liệu dùng được, một cách đánh giá cán bộ theo kết quả công việc hay một giải pháp số giúp rút ngắn thủ tục cho doanh nghiệp đều có thể tạo ra giá trị cụ thể. Vì thế, sau mỗi nội dung trao đổi cần xác định được vấn đề nào có thể tiếp nhận, cơ quan nào thực hiện và kết quả cần đạt.
Dự thảo chương trình hợp tác còn mở rộng sang giáo dục, đào tạo nghề, việc làm, y tế, an sinh xã hội, văn hóa, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh và công tác xây dựng Đảng. Đây đều là những lĩnh vực cần thiết trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai địa phương. Trong đó, kết nối cung - cầu lao động đáng được quan tâm khi Đồng Nai có hệ thống doanh nghiệp lớn, còn Lào Cai có nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nghề và giải quyết việc làm. Nội dung hợp tác đã tính đến trao đổi thông tin tuyển dụng, tổ chức giao dịch việc làm, kết nối doanh nghiệp với người lao động và phối hợp bảo đảm quyền lợi của lao động làm việc tại hai địa phương.
Tuy nhiên, phạm vi càng rộng thì yêu cầu lựa chọn trọng tâm càng cao. Nếu tất cả lĩnh vực đều được coi là ưu tiên ngang nhau, nguồn lực triển khai dễ bị phân tán. Trong giai đoạn đầu, những nội dung có lợi thế bổ trợ trực tiếp như thương mại - xuất nhập khẩu, logistics, công nghiệp - đầu tư, nông nghiệp và kết nối doanh nghiệp nên được tập trung để sớm tạo kết quả. Các lĩnh vực còn lại triển khai theo nhu cầu thực tế và khả năng của từng ngành. Một chương trình hợp tác có vài sản phẩm rõ ràng sẽ có sức thuyết phục hơn nhiều so với một danh mục lớn nhưng khó xác định hiệu quả.
Lào Cai và Đồng Nai không cần giống nhau để hợp tác. Ngược lại, giá trị của mối quan hệ này nằm chính ở khả năng sử dụng thế mạnh của địa phương này để bổ sung vào những khâu địa phương kia đang cần. Lào Cai có cửa khẩu nhưng muốn nâng cao giá trị kinh tế cửa khẩu phải có thêm nguồn hàng, doanh nghiệp, logistics và chế biến. Đồng Nai có năng lực sản xuất lớn và mạng lưới doanh nghiệp phát triển thì cần đa dạng hóa thị trường, hành lang vận tải và không gian đầu tư. Một bên có sản phẩm đặc hữu, vùng nguyên liệu và tiềm năng du lịch; một bên có thị trường, công nghiệp chế biến và năng lực tổ chức chuỗi sản xuất lớn hơn. Những điểm khác biệt đó, nếu được kết nối bằng lợi ích kinh tế cụ thể, có thể tạo thêm dư địa phát triển cho cả hai.
Điều quan trọng nhất trong giai đoạn tới vì thế không phải tiếp tục mở rộng nội dung hợp tác, mà là chọn đúng việc để làm và làm đến kết quả cuối cùng. Mỗi lĩnh vực cần xác định rõ hai địa phương cần gì ở nhau, doanh nghiệp được lợi gì, người dân được hưởng lợi gì và kết quả có thể đo đếm ra sao. Khi hợp tác được tổ chức trên cơ sở đó, khoảng cách địa lý không còn là vấn đề lớn. Quan hệ giữa Lào Cai và Đồng Nai sẽ được định hình bằng những chuỗi hàng hóa được kết nối, những thị trường được mở thêm, những dự án đầu tư được triển khai và những kinh nghiệm quản trị thực sự được áp dụng vào thực tiễn.



