Phát huy vai trò người đứng đầu và trách nhiệm thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức trong xây dựng chính quyền kiến tạo, chủ động phục vụ Nhân dân
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Người đặc biệt coi trọng công tác cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý; yêu cầu cán bộ phải trung thành, tận tụy, gần dân, hiểu dân, có năng lực giải quyết những vấn đề khó khăn và luôn giữ đúng kỷ luật. Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta luôn xác định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
Trong đội ngũ cán bộ, người đứng đầu giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Người đứng đầu là trung tâm tổ chức thực hiện, là người cụ thể hóa chủ trương thành chương trình hành động, biến quyền hạn được giao thành trách nhiệm phục vụ, biến yêu cầu đổi mới thành kết quả cụ thể trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Ở nơi nào người đứng đầu có bản lĩnh, trách nhiệm, sâu sát cơ sở, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nơi đó bộ máy thường vận hành thông suốt hơn, nội bộ đoàn kết hơn, công việc hiệu quả hơn, niềm tin của Nhân dân được củng cố hơn. Ngược lại, nơi nào người đứng đầu thiếu quyết liệt, né tránh, ngại đổi mới, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nơi đó dễ phát sinh tình trạng chậm việc, đùn đẩy, phối hợp hình thức, trách nhiệm không rõ.
Sau khi thực hiện hợp nhất tỉnh, kết thúc hoạt động của cấp huyện, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp xã và vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, tỉnh Lào Cai bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu rất cao về đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị địa phương và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Nếu giai đoạn đầu tập trung ổn định tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ, bảo đảm hoạt động không gián đoạn, thì giai đoạn hiện nay phải chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng vận hành của bộ máy mới. Trọng tâm không chỉ là bộ máy đã gọn hơn, giảm tầng nấc trung gian hơn, mà quan trọng hơn là bộ máy đó có vận hành hiệu quả hơn không; quyền hạn đã rõ hơn chưa; trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, từng cá nhân đã cụ thể hơn chưa; chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp có tốt hơn không.
Cơ sở chính trị, pháp lý và yêu cầu đặt ra
Việc phát huy vai trò người đứng đầu và trách nhiệm thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức là yêu cầu xuyên suốt trong các chủ trương, quy định của Trung ương và của tỉnh Lào Cai về đổi mới tổ chức bộ máy, phân cấp quản lý cán bộ, quản lý biên chế, đánh giá cán bộ, công chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, khắc phục chồng chéo, nâng cao trách nhiệm của tổ chức và cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để chuyển từ yêu cầu “sắp xếp bộ máy” sang “nâng cao chất lượng vận hành của bộ máy”, trong đó trách nhiệm người đứng đầu giữ vai trò then chốt.
Về việc tiếp dân và đối thoại trực tiếp với dân, Quy định số 11-Qđi/TW ngày 18/02/20219 của Bộ Chính trị và Kết luận số 215-KL/TW ngày 23/11/2025 của Bộ Chính trị về việc sửa đổi, bổ sung Quy định số 11-Qđi/TW 18/02/20219 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp uỷ trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phán ánh, kiến nghị của dân là căn cứ để người đứng đầu cấp uỷ trong việc tiếp dân, đối thoại, xử lý, giải quyết những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong cán bộ, đảng viên.
Về công tác cán bộ, Quy định số 142-QĐ/TW ngày 23/4/2024 của Bộ Chính trị thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ, Quy định số 377-QĐ/TW ngày 08/10/2025 của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý cán bộ và quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, tạm đình chỉ công tác, cho thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm đối với cán bộ là căn cứ trực tiếp để đề cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu trong từng khâu của công tác cán bộ; gắn trách nhiệm của người đứng đầu với chất lượng đội ngũ và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương.
Về đánh giá cán bộ, công chức và trách nhiệm thực thi công vụ, Nghị định số 335/2025/NĐ-CP ngày 21/12/2025 của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lượng đối với cơ quan hành chính nhà nước và công chức là cơ sở quan trọng để đổi mới phương pháp đánh giá theo hướng gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm công việc, chất lượng phục vụ và trách nhiệm của cá nhân trong thực thi công vụ. Cùng với đó, Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 và Quyết định số 766/QĐ-TTg ngày 23/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ về Bộ chỉ số đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp là căn cứ quan trọng để xác định chất lượng phục vụ Nhân dân, doanh nghiệp là thước đo hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính và trách nhiệm của người đứng đầu.
Đối với tỉnh Lào Cai, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành nhiều quy định trực tiếp cụ thể hóa trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu. Quy định số 15-QĐ/TU ngày 11/12/2025 về phân cấp quản lý tổ chức bộ máy các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị tỉnh Lào Cai đã xác định yêu cầu phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền quản lý tổ chức bộ máy của từng cấp, từng ngành; phát huy tính chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cấp, các ngành và người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Quy định số 14-QĐ/TU ngày 11/12/2025 về phân cấp quản lý cán bộ và quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, tạm đình chỉ công tác, cho thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm đối với cán bộ nhấn mạnh nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định, đồng thời phát huy đầy đủ trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ. Quy định số 27-QĐ/TU ngày 26/7/2025 về quản lý biên chế xác định việc quản lý, sử dụng biên chế phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm; tăng cường phân cấp, phân quyền, đề cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu trong quản lý, sử dụng biên chế, lao động hợp đồng.
Bên cạnh đó, Quy định số 09-QĐ/TU ngày 28/11/2025 về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị tỉnh Lào Cai; Kế hoạch số 60-KH/TU ngày 05/3/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng và áp dụng chỉ số đánh giá hiệu quả công việc trong đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức là cơ sở để lượng hóa trách nhiệm thực thi, chuyển mạnh từ đánh giá định tính sang đánh giá bằng sản phẩm, tiến độ, chất lượng, hiệu quả và mức độ hoàn thành nhiệm vụ.
Như vậy, hệ thống quy định của Trung ương và của tỉnh Lào Cai đã xác lập tương đối đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý để đề cao vai trò người đứng đầu, tăng cường trách nhiệm thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức. Vấn đề quan trọng hiện nay là tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả; biến trách nhiệm được quy định trong văn bản thành trách nhiệm cụ thể trong từng nhiệm vụ, từng sản phẩm công việc, từng kết quả phục vụ Nhân dân và doanh nghiệp.
Một số kết quả bước đầu sau 01 năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp
Sau 01 năm triển khai, mô hình chính quyền địa phương 02 cấp tại Lào Cai cơ bản vận hành ổn định, thông suốt, bước đầu khẳng định hiệu quả trong thực tiễn. Toàn tỉnh đã giảm từ 319 xã, phường, thị trấn xuống còn 99 xã, phường, giảm 220 đơn vị, tương ứng khoảng 69%; kết thúc hoạt động của cấp huyện, giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn đường truyền lãnh đạo, chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở. Đến nay, bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp cơ bản được kiện toàn đồng bộ với 17 sở, ngành, 114 phòng, chi cục; 99 xã, phường; 164 đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh, 1.127 đơn vị sự nghiệp cấp xã và 99 Trung tâm dịch vụ sự nghiệp công cấp xã.
Cùng với đó, tỉnh đã hoàn thành sắp xếp thôn, tổ dân phố từ 2.906 xuống còn 1.609, giảm 1.297 thôn, tổ dân phố, tương ứng 44,63%; hoàn thành phương án bố trí, sử dụng và thực hiện chế độ, chính sách cho 506 người hoạt động không chuyên trách cấp xã thuộc diện sắp xếp. Đây là kết quả quan trọng, góp phần tinh gọn hệ thống ở cơ sở, giảm đầu mối, giảm chi thường xuyên và tạo thêm điều kiện để tập trung nguồn lực cho phục vụ Nhân dân.
Về đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tỉnh cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, bố trí, điều động, ổn định đội ngũ sau sắp xếp. Đến nay, biên chế công chức cấp tỉnh có mặt 2.172/2.820, đạt 77,0%; công chức cấp xã có mặt 3.953/5.973, đạt 66,2%; biên chế viên chức có mặt 38.446/40.132, đạt khoảng 95,8%. Để hỗ trợ cấp xã trong giai đoạn đầu vận hành bộ máy mới, tỉnh đã điều động, tăng cường, biệt phái 154 cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh về cấp xã; tuyển dụng 42 công chức cấp xã; tổ chức 258 lớp đào tạo, bồi dưỡng cho 25.878 lượt cán bộ, công chức, viên chức.
Công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến được quan tâm chỉ đạo và có chuyển biến tích cực. Tỉnh đã bố trí 02 Trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh và 99 Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã, phường, vận hành ổn định, thông suốt. Cấp tỉnh hiện có 1.827 thủ tục hành chính; cấp xã hiện có 311 thủ tục hành chính. Từ ngày 01/7/2025, toàn tỉnh tiếp nhận 533.117 hồ sơ thủ tục hành chính, đã giải quyết 524.994 hồ sơ, trong đó 518.568 hồ sơ giải quyết đúng và trước hạn, đạt 98,7%. Riêng các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã đã tiếp nhận 424.331 hồ sơ, giải quyết 420.536 hồ sơ, trong đó 415.754 hồ sơ đúng và trước hạn, đạt 98,86%.
Tỉnh cũng đã thực hiện cắt giảm thời gian giải quyết đối với 815/2.042 thủ tục hành chính, đạt 40% số thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết; thời gian giải quyết bình quân được cắt giảm khoảng 40%. Đồng thời, cắt giảm, bãi bỏ 24/35 thủ tục hành chính đặc thù, đạt 68,6%, ước tiết kiệm gần 100 tỷ đồng chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Các chỉ số cải cách hành chính của tỉnh tiếp tục có chuyển biến tích cực: PAR Index năm 2025 tăng 05 bậc, đứng thứ 21/34 tỉnh, thành phố; SIPAS đứng thứ 09/34 tỉnh, thành phố, đứng thứ 02/09 tỉnh miền núi phía Bắc; Bộ chỉ số đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính và dịch vụ công trên môi trường điện tử đứng thứ 13/34 tỉnh, thành phố, trong đó chỉ số mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đạt 18 điểm, đứng đầu cả nước.
Về chuyển đổi số, hạ tầng số từng bước đáp ứng tốt hơn yêu cầu vận hành mô hình mới. Đến nay, 100% xã, phường đã được kết nối internet cáp quang; 99% thôn, bản có sóng 4G; 100% cơ quan nhà nước cấp tỉnh, cấp xã và 100% cơ quan Đảng từ tỉnh đến xã được kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng. Tỉnh đang quản lý 51 hệ thống thông tin, 42 cơ sở dữ liệu chuyên ngành, lưu trữ hơn 9,1 triệu trang tài liệu số hóa; tỷ lệ khai thác và sử dụng lại thông tin từ dữ liệu số hóa đạt trên 80%. Tỷ lệ nộp hồ sơ trực tuyến đạt 92,4%; tỷ lệ thanh toán trực tuyến trong dịch vụ công đạt 80,22%; tỷ lệ cấp kết quả điện tử đạt 90,92%.
Đáng chú ý, việc sắp xếp tổ chức bộ máy không làm chậm nhịp phát triển của tỉnh, mà bước đầu tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh đạt 61.265 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9,01%, cao hơn bình quân chung cả nước, đứng thứ 4 trong khu vực Trung du và miền núi phía Bắc và thứ 15 toàn quốc. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 11.312 tỷ đồng, tăng 21,3% so với cùng kỳ, là mức cao nhất từ trước đến nay; giải ngân vốn đầu tư công đạt 47,2% kế hoạch, đứng thứ 05/34 địa phương .
Từ thực tiễn trên có thể khẳng định, mô hình chính quyền địa phương 02 cấp đã góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, rút ngắn quy trình chỉ đạo, điều hành, khai thông nguồn lực, mở rộng không gian phát triển và thúc đẩy tăng trưởng. Nhận thức về trách nhiệm của người đứng đầu từng bước được nâng lên; nhiều cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị đã chủ động rà soát quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ, xác định rõ hơn trách nhiệm cá nhân phụ trách lĩnh vực, địa bàn; tăng cường giao ban, kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn cho cơ sở. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cơ bản ổn định tư tưởng, chấp hành sự phân công, bố trí của tổ chức, nỗ lực thích ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới.
Bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn vận hành mô hình mới cũng đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục tập trung giải quyết, đó là:
Một là, trách nhiệm người đứng đầu ở một số nơi chưa được lượng hóa đầy đủ bằng sản phẩm công việc, tiến độ, chất lượng và chỉ số phục vụ. Có việc đã phân công nhưng chưa rõ người chịu trách nhiệm cuối cùng; có nhiệm vụ liên quan nhiều cơ quan nhưng cơ chế phối hợp chưa chặt chẽ, còn tình trạng chờ ý kiến, xin ý kiến nhiều vòng, làm chậm tiến độ xử lý công việc.
Hai là, năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chưa đồng đều. Đội ngũ cấp xã cơ bản được hình thành từ đội ngũ cấp xã trước đây, nay phải tiếp nhận thêm nhiều nhiệm vụ thuộc cấp huyện cũ, trong khi một số lĩnh vực yêu cầu chuyên môn sâu như đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài chính, đầu tư, tư pháp, khoa học - công nghệ, thông tin và chuyển đổi số còn thiếu cán bộ có kinh nghiệm, năng lực chuyên sâu. Việc bố trí, sử dụng cán bộ ở một số nơi chưa thật sự sát với vị trí việc làm, khối lượng công việc thực tế và đặc thù địa bàn.
Ba là, công tác đánh giá cán bộ, công chức tuy đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn cần tiếp tục chuyển mạnh từ đánh giá định tính sang đánh giá bằng sản phẩm, kết quả, tiến độ và chất lượng phục vụ. Nếu đánh giá cán bộ vẫn chủ yếu dựa vào nhận xét chung, bình xét cuối năm, chưa gắn chặt với kết quả thực hiện nhiệm vụ hằng tháng, hằng quý, kết quả giải quyết hồ sơ, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp thì khó tạo động lực đổi mới, khó phân loại đúng cán bộ.
Bốn là, hạ tầng số, điện, viễn thông ở một số địa bàn còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng thực thi nhiệm vụ và chất lượng phục vụ ở cơ sở. Toàn tỉnh còn 22 thôn, bản chưa có internet băng rộng cố định, 04 thôn, bản lõm sóng, 02 thôn trắng sóng và 31 thôn, bản chưa có điện lưới quốc gia. Đây là những điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ để bảo đảm mọi địa bàn đều có điều kiện tham gia chuyển đổi số, thực hiện dịch vụ công trực tuyến và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.
Năm là, yêu cầu cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ cán bộ cấp xã có trình độ khoa học - công nghệ, còn rất lớn. Hiện tỷ lệ cán bộ cấp xã có trình độ khoa học - công nghệ của tỉnh mới đạt 4,91%, trong khi yêu cầu đặt ra là phấn đấu đạt từ 10-15%. Để đạt mục tiêu này cần kết hợp nhiều giải pháp như đào tạo, bồi dưỡng lại, tuyển dụng mới, điều động, biệt phái, thu hút cán bộ có chuyên môn phù hợp và mạnh dạn bố trí cán bộ trẻ có năng lực về cơ sở.
Sáu là, yêu cầu bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung cần tiếp tục đi đôi với cơ chế xử lý cán bộ né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm. Trong giai đoạn vận hành mô hình mới, nhiều vấn đề phát sinh chưa có tiền lệ, nếu không có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo thì dễ dẫn đến tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm; ngược lại, nếu không kiên quyết xử lý tình trạng né tránh, đùn đẩy thì sẽ làm giảm hiệu lực, hiệu quả thực thi, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân, doanh nghiệp.
Để phát huy vai trò người đứng đầu và trách nhiệm thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức trong xây dựng chính quyền kiến tạo, chủ động phục vụ Nhân dân, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, chuyển mạnh tư duy của người đứng đầu từ “quản lý hành chính” sang “kiến tạo phát triển” và “phục vụ Nhân dân”. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị cần nhận thức sâu sắc rằng trong mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, quyền hạn được phân cấp, phân quyền nhiều hơn phải đi liền với trách nhiệm lớn hơn, yêu cầu phục vụ cao hơn và trách nhiệm giải trình rõ hơn. Tư duy lãnh đạo, điều hành phải chuyển mạnh từ “thụ động giải quyết” sang “chủ động kiến tạo”; từ “chờ chỉ đạo, chờ hướng dẫn” sang “chủ động phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả”.
Thứ hai, cụ thể hóa trách nhiệm người đứng đầu theo hướng rõ thẩm quyền, rõ nhiệm vụ, rõ sản phẩm, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm giải trình. Mỗi nhiệm vụ phải có một đầu mối chủ trì, một người chịu trách nhiệm chính, sản phẩm cụ thể, thời hạn cụ thể và tiêu chuẩn chất lượng cụ thể. Đối với người đứng đầu, sản phẩm không chỉ là văn bản đã ban hành, cuộc họp đã tổ chức, mà quan trọng hơn là vấn đề đã được giải quyết, điểm nghẽn đã được tháo gỡ, chất lượng phục vụ đã được nâng lên.
Thứ ba, đề cao trách nhiệm nêu gương, bản lĩnh chính trị và tinh thần dấn thân của người đứng đầu. Người đứng đầu phải gương mẫu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm, tác phong công tác và kỷ luật, kỷ cương; phải nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách vì lợi ích chung. Cùng với đó, cần tiếp tục rèn luyện năng lực quyết đoán, khả năng xử lý tình huống, năng lực điều hành và tinh thần dấn thân phục vụ Nhân dân của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu cấp xã.
Thứ tư, đổi mới đánh giá cán bộ, công chức theo sản phẩm, kết quả và trách nhiệm thực thi. Đánh giá cán bộ, công chức phải trở thành công cụ quản trị thường xuyên của người đứng đầu, không chỉ là thủ tục xếp loại cuối năm. Cần tiếp tục hoàn thiện danh mục sản phẩm công việc, công việc chuẩn theo từng vị trí việc làm; gắn đánh giá với kết quả giải quyết hồ sơ, tiến độ thực hiện nhiệm vụ, chất lượng phục vụ, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp và kết quả thực hiện KPI. Kết quả đánh giá phải được sử dụng thực chất trong quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, đào tạo, khen thưởng, kỷ luật và sàng lọc đội ngũ.
Thứ năm, hoàn thiện vị trí việc làm, cơ cấu lại đội ngũ, bố trí đúng người, đúng việc. Cần tiếp tục rà soát vị trí việc làm trong các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là cấp xã, phường sau sắp xếp; đánh giá khối lượng công việc thực tế theo quy mô dân số, diện tích, tính chất đô thị, miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và yêu cầu quản lý nhà nước trên địa bàn. Không phân bổ biên chế, bố trí cán bộ theo hướng bình quân, cào bằng; ưu tiên điều tiết, tăng cường cán bộ có năng lực cho những địa bàn khó khăn, địa bàn có khối lượng công việc lớn và các lĩnh vực còn thiếu cán bộ chuyên sâu.
Thứ sáu, nâng cao năng lực thực thi và kỹ năng quản trị hiện đại cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã cần chuyển từ bồi dưỡng chung sang bồi dưỡng theo vị trí việc làm, theo tình huống thực tiễn, theo phương châm “cầm tay chỉ việc”. Tập trung bồi dưỡng năng lực nắm dân, sát dân, hiểu dân; năng lực giải quyết vấn đề từ cơ sở; năng lực chuyên môn trong các lĩnh vực trọng yếu; năng lực phối hợp liên thông giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị; năng lực sử dụng dữ liệu, phần mềm, dịch vụ công trực tuyến, quy trình số. Đối với người đứng đầu, cần bồi dưỡng thêm kỹ năng quản trị số, quản trị theo mục tiêu, xử lý thông tin trong môi trường mở, đối thoại, tiếp công dân, truyền thông chính sách và xây dựng đoàn kết nội bộ.
Thứ bảy, tăng cường kỷ luật, kỷ cương công vụ; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, đồng thời kiên quyết xử lý cán bộ né tránh, đùn đẩy. Chính quyền kiến tạo phải đi liền với kỷ luật, kỷ cương. Cần xử lý nghiêm các biểu hiện quan liêu, xa dân, gây phiền hà, sách nhiễu, chậm trễ trong giải quyết công việc; đồng thời có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, hành động đúng thẩm quyền, đúng quy trình, công khai, minh bạch, không vụ lợi, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và lợi ích chung.
Thứ tám, gắn cải cách hành chính, chuyển đổi số với trách nhiệm cá nhân và sự giám sát của Nhân dân. Mỗi hồ sơ hành chính, mỗi nhiệm vụ được giao, mỗi phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp cần xác định rõ trạng thái xử lý, thời hạn xử lý, người phụ trách, kết quả đầu ra và trách nhiệm liên quan. Phát huy hơn nữa vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân đối với chất lượng hoạt động của chính quyền cơ sở, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức và trách nhiệm của người đứng đầu. Mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp cần được xem là kênh thông tin quan trọng trong đánh giá cán bộ, công chức và đánh giá người đứng đầu.


