Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thái Nguyên
Thái Nguyên
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Gia tăng giá trị ngành trồng trọt

Trồng trọt là trụ cột của ngành Nông nghiệp Thái Nguyên, giữ vai trò quan trọng trong tạo sinh kế cho khu vực nông thôn và cung cấp nguyên liệu cho chế biến, tiêu thụ. Hiện nay, giá trị sản phẩm thu được trên 1ha đất trồng trọt đạt xấp xỉ 120 triệu đồng, phản ánh những chuyển biến rõ nét trong tái cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân 4%/năm, trong đó trồng trọt chiếm khoảng 40% cơ cấu nội ngành.
Chè là cây trồng chủ lực của Thái Nguyên, với gần 24.000ha, trong đó khoảng 23.000ha cho sản phẩm, sản lượng chè búp tươi đạt trên 280.000 tấn/năm.
Chè là cây trồng chủ lực của Thái Nguyên, với gần 24.000ha, trong đó khoảng 23.000ha cho sản phẩm, sản lượng chè búp tươi đạt trên 280.000 tấn/năm.

Tập trung cho cây trồng thế mạnh

Đối với Thái Nguyên, chè là cây trồng chủ lực, gắn với thương hiệu địa phương và mang lại nguồn thu ổn định cho người dân. Toàn tỉnh hiện có gần 24.000ha chè, trong đó khoảng 23.000ha đang cho sản phẩm, sản lượng chè búp tươi đạt trên 280.000 tấn/năm.

Cùng với duy trì diện tích, tỉnh chú trọng cải tạo giống, nâng cao chất lượng. Hằng năm, từ 380-400ha chè được trồng mới, trồng lại bằng các giống có năng suất, chất lượng cao, từng bước thay thế diện tích chè già cỗi, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trên cùng đơn vị diện tích.

Ông Nguyễn Tá, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, cho biết: Giá trị thu được từ cây chè ngày càng tăng khi thương hiệu trà Thái Nguyên được củng cố và mở rộng thị trường.

Hiện nay, chè Thái Nguyên được tiêu thụ với mức giá phổ biến từ 200-500 nghìn đồng/kg, nhiều sản phẩm chất lượng cao đạt từ 1,5-5 triệu đồng/kg. Đây là cơ sở để người dân mạnh dạn đầu tư thâm canh, chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng an toàn, hướng tới xuất khẩu vào các thị trường có yêu cầu cao về chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Hiện nay, xã Bạch Thông có trên 550ha cây ăn quả có múi đang cho thu hoạch, chủ yếu là cam và quýt, góp phần tạo nguồn thu đáng kể cho người dân.
Xã Bạch Thông có trên 550ha cây ăn quả có múi đang cho thu hoạch, chủ yếu là cam và quýt, góp phần tạo nguồn thu đáng kể cho người dân.

Cùng với cây chè, cây ăn quả đang trở thành hướng đi hiệu quả trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Thái Nguyên hiện có gần 18.500ha cây ăn quả, hình thành nhiều vùng sản xuất chuyên canh với sản lượng và chất lượng ngày càng được nâng lên.

Cụ thể, toàn tỉnh có 1.052ha na với sản lượng ước đạt 10.260 tấn; 2.162ha bưởi; 1.766ha nhãn, sản lượng khoảng 12.660 tấn; 1.623ha quýt; 1.050ha cam; gần 1.000ha hồng không hạt, sản lượng trên 3.240 tấn. Diện tích sản xuất tập trung đạt khoảng 2.000ha, bước đầu tạo nền tảng phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với tiêu thụ ổn định.

Bà Hoàng Thị Phương, xã La Hiên, chia sẻ: Gia đình tôi đã gắn bó với cây na hơn 20 năm. Trước đây sản xuất chủ yếu theo kinh nghiệm nên năng suất, chất lượng chưa ổn định. Những năm gần đây, nhờ áp dụng kỹ thuật thâm canh, cắt tỉa, xử lý ra hoa rải vụ, hiệu quả kinh tế tăng khoảng 15-20%. Thực tế cho thấy, khi người nông dân chủ động tiếp cận và áp dụng khoa học kỹ thuật, giá trị sản phẩm được nâng lên rõ rệt, đầu ra cũng thuận lợi hơn.

Người dân xã La Hiên thâm canh na rải vụ, cho quả trái vụ, đầu ra ổn định, giá bán cao hơn so với chính vụ.
Người dân xã La Hiên thâm canh na rải vụ, cho quả trái vụ, đầu ra ổn định, giá bán cao hơn so với chính vụ.

Bên cạnh các cây trồng chủ lực và cây ăn quả, nhóm cây lương thực có hạt vẫn giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực và tạo nguồn thu ổn định. Toàn tỉnh hiện có khoảng 90.000ha lúa và trên 28.000ha ngô. Năm 2025, sản lượng lương thực có hạt ước đạt gần 573.000 tấn. Diện tích trồng rau các loại đạt xấp xỉ 19.800ha, sản lượng trên 342.000 tấn, góp phần đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài tỉnh.

Nâng cao chất lượng bằng sản xuất sạch

Cùng với mở rộng diện tích và nâng cao năng suất, việc chuyển sang sản xuất theo hướng an toàn, bền vững được xác định là giải pháp then chốt để gia tăng giá trị ngành trồng trọt. Các địa phương trong tỉnh đã chú trọng phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao, tưới tiết kiệm nước, đồng thời đẩy mạnh chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.

Đến nay, toàn tỉnh có trên 6.440ha chè được chứng nhận thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) và tương đương; trên 125ha chè hữu cơ; 1.093ha cây ăn quả đạt tiêu chuẩn VietGAP; 200ha rau đạt VietGAP; 70ha rau ứng dụng nhà màng, nhà lưới và hệ thống tưới tự động, sản xuất trái vụ.

Cây lương thực có hạt tiếp tục đóng góp nguồn thu ổn định cho nông dân, với khoảng 90.000ha lúa và trên 28.000ha ngô trên toàn tỉnh.
Cây lương thực có hạt tiếp tục đóng góp nguồn thu ổn định cho nông dân, với khoảng 90.000ha lúa và trên 28.000ha ngô trên toàn tỉnh.

Bên cạnh đó, có 31ha lúa đạt chứng nhận hữu cơ; 12ha lúa được cấp chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính, với mức giảm 3,71 tấn carbon/ha, tổng cộng 44,51 tấn carbon. Những con số này cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ nét sang sản xuất thân thiện với môi trường.

Bà Nguyễn Thị Hiệp, Giám đốc Hợp tác xã Bình Minh, xã Phú Bình, cho biết: Chúng tôi duy trì sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP trong nhiều năm. Điều quan trọng nhất là sản phẩm được thị trường tin tưởng, đầu ra ổn định. Hiện nay, nhiều trường học, bếp ăn tập thể và siêu thị trong tỉnh ký hợp đồng tiêu thụ thường xuyên. Nhờ đó, doanh thu của hợp tác xã và thu nhập của 58 thành viên được cải thiện, tạo động lực để mở rộng quy mô sản xuất.

Tuy vậy, thực tế cũng cho thấy lĩnh vực trồng trọt của tỉnh vẫn còn những hạn chế. Tổng diện tích gieo trồng các cây trồng chính đạt khoảng 153.000ha/năm, song chưa hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung quy mô lớn. Sản xuất chủ yếu vẫn theo quy mô hộ gia đình, phân tán, gây khó khăn trong áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật và liên kết tiêu thụ sản phẩm.

Nhờ đầu tư trồng hoa chất lượng cao, người dân tổ 40, phường Phan Đình Phùng đạt thu nhập trên 500 triệu đồng/ha mỗi năm.
Nhờ đầu tư trồng hoa chất lượng cao, một số hộ dân tổ 40, phường Phan Đình Phùng, đạt thu nhập trên 500 triệu đồng/ha mỗi năm.

Ngoài ra, chi phí đầu tư ban đầu cho các mô hình canh tác tiên tiến còn cao, trong khi khả năng tiếp cận nguồn vốn của một bộ phận nông dân còn hạn chế. Trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật chưa đồng đều giữa các vùng, nhất là khu vực miền núi. Diện tích cây trồng được chứng nhận đạt tiêu chuẩn an toàn tuy tăng qua từng năm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng diện tích, ảnh hưởng đến khả năng nâng cao giá trị và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Hướng đến số hóa vùng trồng

Để đạt mục tiêu trồng trọt chiếm khoảng 40% cơ cấu nội ngành Nông nghiệp, việc nâng cao chất lượng quản lý và tổ chức sản xuất là yêu cầu cấp thiết. Từ khâu giống, canh tác, thu hoạch đến bảo quản, chế biến và tiêu thụ cần được kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm và minh bạch thông tin phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Đồng thời, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với từng vùng sinh thái, xây dựng các vùng sản xuất tập trung gắn với chuỗi giá trị, kết nối thị trường cho sản phẩm phát thải thấp cũng cần được triển khai đồng bộ.

Đến nay, toàn tỉnh có 200ha rau đạt chứng nhận VietGAP; 70ha rau ứng dụng nhà màng, nhà lưới, hệ thống tưới tự động, phục vụ sản xuất trái vụ.
Đến nay, toàn tỉnh có 200ha rau đạt chứng nhận VietGAP; 70ha rau ứng dụng nhà màng, nhà lưới, hệ thống tưới tự động, phục vụ sản xuất trái vụ.

Cùng với đó, các ngành chức năng và địa phương cần đẩy nhanh xây dựng cơ sở dữ liệu số trong lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm dữ liệu sản xuất, kinh doanh, quản lý đất đai, phòng chống thiên tai và dịch bệnh. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là số hóa vùng trồng.

Theo ông Nguyễn Tá, đây là quá trình chuyển đổi toàn bộ thông tin về vùng sản xuất như vị trí, diện tích, quy trình canh tác, nhật ký sản xuất từ phương thức thủ công sang nền tảng số, qua đó phục vụ quản lý, phân tích và truy xuất nguồn gốc.

Việc số hóa giúp hình thành hệ thống dữ liệu đồng bộ về bản đồ vùng trồng, thông tin chủ thể sản xuất, loại cây trồng và quy trình canh tác. Trên cơ sở đó, cơ quan chức năng cấp mã số vùng trồng, tạo mã định danh riêng cho từng khu vực sản xuất, góp phần kiểm soát chất lượng và giám sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

Hướng tới sản xuất sạch, xanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường, các địa phương trong tỉnh đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao...
Hướng tới sản xuất sạch, xanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường, các địa phương trong tỉnh đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao...

Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ trong ghi chép nhật ký sản xuất giúp thay thế phương thức thủ công. Người nông dân có thể cập nhật các công đoạn chăm sóc, bón phân, phun thuốc trên ứng dụng, từ đó theo dõi toàn bộ quy trình sản xuất, hạn chế rủi ro và bảo đảm thời gian cách ly trước khi thu hoạch.

Số hóa vùng trồng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho truy xuất nguồn gốc thông qua mã QR liên kết với mã số vùng trồng, cho phép người tiêu dùng kiểm tra thông tin sản phẩm. Đây là yêu cầu quan trọng để nông sản tham gia thị trường xuất khẩu chính ngạch, đáp ứng các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu. Đồng thời, dữ liệu số giúp cơ quan quản lý dễ dàng theo dõi, dự báo tình hình sản xuất, kịp thời đưa ra cảnh báo về dịch bệnh và thiên tai.

Có thể khẳng định, số hóa vùng trồng là xu hướng tất yếu trong phát triển nông nghiệp hiện đại. Khi được triển khai đồng bộ, giải pháp này sẽ góp phần chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp, nâng cao giá trị sản phẩm, xây dựng thương hiệu và thúc đẩy ngành trồng trọt Thái Nguyên phát triển bền vững trong giai đoạn tới.


Tùng Lâm / baothainguyen.vn
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều