Thúc đẩy thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW với phương châm "hành động đột phá, lan tỏa kết quả"
(ĐCSVN) – Chiều 3/3, Tổ Giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số họp với các Bộ, ngành rà soát kết quả thực hiện và tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy các nhiệm vụ trọng tâm về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đồng chí Ngô Hải Phan, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu – Văn phòng Trung ương Đảng, Thường trực Tổ Giúp việc Ban Chỉ đạo chủ trì cuộc họp.
Thông qua cuộc họp, Tổ Giúp việc sẽ nắm tình hình triển khai công việc; rà soát kết quả thực hiện, bàn giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ cũng như sự phối hợp công tác giữa các Bộ, ngành ở các nội dung: Công tác quản lý và bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ (SHTT); Hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo; Quản lý, vận hành và khai thác hiệu quả Cổng thông tin, Sàn giao dịch sáng kiến; Mô hình 03 Nhà; Khu công nghệ cao (CNC); Đô thị thông minh (ĐTTM).
Phát biểu mở đầu cuộc họp, đồng chí Ngô Hải Phan, Thường trực Tổ Giúp việc Ban Chỉ đạo nhấn mạnh, khẩu hiệu hành động thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW năm 2026 là “Hành động đột phá, kết quả lan tỏa”, do đó, cán bộ thực hiện nhiệm vụ ở các bộ, ngành cần tư duy sâu hơn, tìm tòi, sáng tạo, tìm giải pháp, nâng cao chất lượng công tác tham mưu để thực hiện tốt phương châm này. “Thực tế cho thấy, để hoàn thành công việc, thì vướng đâu giải quyết đến đó, làm đến nơi đến chốn và phải có kết quả cụ thể. Có kết quả mới có thể lan tỏa được” – Đồng chí Ngô Hải Phan nhấn mạnh. Đồng chí yêu cầu đại diện các Bộ, ngành cần nêu rõ điểm nghẽn là gì, cần phải làm gì để tháo gỡ, cần “chủ động lấy đối tượng làm trung tâm, không thể giải quyết lòng vòng”.

Tại cuộc họp, các đại biểu đã trao đổi cụ thể, đánh giá công việc theo từng nhóm vấn đề, nêu lên những tồn tại hạn chế, khó khăn vướng mắc.
Về công tác quản lý và bảo hộ quyền SHTT: báo cáo tại cuộc họp cho thấy có nhiều khởi sắc trong lĩnh vực. Sau khi có Nghị quyết 57-NQ/TW, tỷ lệ người Việt đăng ký sáng chế tăng 33%; đăng ký bảo hộ tăng 94,95%, văn bằng bảo hộ được cấp phép li-xăng tăng 17,39%. Tuy nhiên, năng lực thực thi quyền SHTT còn hạn chế, tạo rào cản thu hút FDI, tình trạng vi phạm bản quyền trực tuyến và hàng giả trên thương mại điện tử khiến Việt Nam tiếp tục nằm trong Danh sách theo dõi (Watch List) năm 2025 của Hoa Kỳ, làm giảm niềm tin và cản trở việc thu hút các doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ lõi. Dù Luật SHTT mới đã thông qua, nhưng việc thực thi cơ chế "thẩm định nhanh" và xử lý đơn tồn đọng vẫn là thách thức lớn khi nhân lực có hạn; Hiệu quả khai thác thương mại tài sản trí tuệ chưa cao.
Hợp tác quốc tế về KH&CN: đại diện các bộ đánh giá những khó khăn, trở ngại mang tính cấu trúc do sự khác biệt về thể chế, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế quản lý và chính sách bảo hộ công nghệ giữa các quốc gia; các khó khăn về nguồn lực, về kết nối...
Về quản lý, vận hành và khai thác Cổng sáng kiến: Có nhiều kết quả đáng khích lệ khi tính đến ngày 02/3/2026, Cổng đã tiếp nhận: 48 sáng kiến đột phá; 32 đề xuất công nghệ chiến lược; 09 ý tưởng/sáng kiến; 43 đề nghị công nhận sáng kiến. Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những tồn tại, hạn chế như chất lượng sáng kiến đột phá chưa đồng đều, còn dàn trải, thiếu tính khả thi; sáng kiến phổ thông còn hạn chế về chất lượng, chủ yếu ở mức ý tưởng; thiếu cơ chế tài chính đồng bộ; chưa triển khai theo mô hình nền tảng dùng chung toàn quốc...

Về Sàn giao dịch KH&CN: Đã có 18 sàn địa phương, 01 sàn Trung ương được quan tâm về tổ chức, nâng cấp; đã bước đầu hình thành thiết chế trung gian kết nối cung - cầu công nghệ, góp phần phổ biến, lan toả thông tin công nghệ, kết quả nghiên cứu và nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp. Hoạt động của sàn giúp mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tại các địa phương trên cả nước. Tuy nhiên, hoạt động của phần lớn các sàn còn hạn chế, kinh phí chi thường xuyên cho hoạt động của sàn còn thấp; nhân lực trực tiếp vận hành sàn có thiếu và yếu, chưa được đào tạo chuyên môn bài bản…
Về mô hình “03 Nhà”: Tổng hợp từ 50 cơ sở giáo dục đại học cho thấy đã ký kết với hơn 500 đối tác, tổ chức nhiều hoạt động đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ; tăng cường hợp tác quốc tế; đã hình thành 13 mạng lưới trung tâm đào tạo xuất sắc và tài năng trong các lĩnh vực công nghệ 4.0. Các kết quả trên cho thấy mô hình “3 Nhà” đã chuyển sang triển khai thực chất. Điểm nghẽn trong lĩnh vực này là thiếu quy định cụ thể về tỷ lệ phân chia lợi ích khiến các nhà khoa học ngại "dấn thân" và doanh nghiệp ngại đầu tư sâu; cơ chế quản lý tài chính hiện nay chưa chấp nhận "độ trễ" và rủi ro này, dẫn đến nhà trường chỉ dám nhận những đề tài "an toàn", còn doanh nghiệp không thấy được sự đột phá để đầu tư. Phần lớn hợp tác vẫn dừng lại ở việc doanh nghiệp nhận thực tập sinh hoặc tài trợ học bổng. Số lượng dự án R&D quy mô lớn, đặt hàng giải quyết bài toán cốt lõi của doanh nghiệp còn rất khiêm tốn; đội ngũ cán bộ tại các trường và doanh nghiệp thiếu kỹ năng về quản trị tài sản trí tuệ và thương mại hóa công nghệ…
Về Khu Công nghệ cao: hiện cả nước có 06 Khu CNC; 03 Khu CNC phát huy vai trò động lực thu hút đầu tư CNC với tổng vốn FDI gần 17 tỷ USD từ các tập đoàn lớn và doanh nghiệp trong nước; thể chế, chính sách phát triển Khu CNC tiếp tục được hoàn thiện. Tuy nhiên, các khu CNC hiện nay vẫn nặng về chức năng sản xuất, gia công và lắp ráp; chưa thực sự vươn tầm thành các trung tâm Nghiên cứu & Phát triển và đổi mới sáng tạo. Mối liên kết 4 nhà "Doanh nghiệp - Viện/Trường - Quỹ đầu tư - Nhà nước" trong hệ sinh thái khởi nghiệp chưa chặt chẽ. Các chính sách ưu đãi và môi trường làm việc chưa tạo được sức bật để thu hút các dự án CNC.
.jpg)
Về Đô thị thông minh: Hiện đã có 5/6 thành phố đã ban hành Đề án ĐTTM (TP.HCM dự kiến ban hành tháng 3/2026); đã vận hành Cổng thông tin ĐTTM quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay dữ liệu tại các địa phương còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và liên thông. Việc triển khai mang tính chắp vá, giải quyết tình thế (ùn tắc, ngập úng...) mà thiếu định hướng kiến trúc tổng thể; tiềm ẩn rủi ro an toàn thông tin. Các địa phương lúng túng trong cơ chế phối hợp liên ngành, chưa thiết lập được mô hình điều phối đủ mạnh; chậm đa dạng hóa nguồn vốn, vẫn phụ thuộc lớn vào ngân sách, thiếu hụt nhân lực quản lý có kỹ năng số…
Kết luận cuộc họp, đồng chí Ngô Hải Phan đã đề xuất nhiều phương án giải quyết đối với các khó khăn, vướng mắc của các Bộ. Đồng chí nhấn mạnh, yêu cầu đề ra của Nghị quyết 57-NQ/TƯ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là vô cùng lớn, thực hiện khó, đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị và chương trình hành động cụ thể. Do đó, đòi hỏi phải có sự nỗ lực, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các Bộ, ngành. Bên cạnh đó, phải có sự chủ động trong công việc, huy động chất xám của các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước. Nhiều nội dung (như sàn KHCN, Khu CNC, ĐTTM) phải tính đến xã hội hóa, nếu chỉ trông vào ngân sách thì hoạt động sẽ không hiệu quả. Việc hoàn thiện thể chế phải hoàn thành trước tháng 5/2026 thì mới có cơ sở để thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ trong năm 2026. Sau cuộc họp, đồng chí Ngô Hải Phan đề nghị các đơn vị sớm hoàn thiện báo cáo để chuẩn bị cho cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo diễn ra vào trung tuần tháng 3./.



