Về chế độ làm việc và kiểm tra dữ liệu tại biểu C1 trong quá trình xây dựng VTVL
Bộ phận Thường trực hỗ trợ về rà soát, xây dựng cơ sở dữ liệu VTVL tiếp nhận phản ánh của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam qua hộp thư tochucdieule@btctw.dcs.vn về việc Báo Lao Động gặp vướng mắc khi nhập biểu C1. Cột “Chế độ làm việc” hiện chỉ có hai lựa chọn là “Phổ biến (40 giờ/tuần)” và “Đặc thù”. Báo Lao Động lựa chọn “Đặc thù” cho cả 18 vị trí. Tuy nhiên, nhu cầu người làm việc tại các vị trí này dự kiến được xác định theo phương pháp 1 (PP1 – đối với lãnh đạo, theo cơ cấu) hoặc phương pháp 3 (PP3 – đối với phóng viên, biên tập viên… theo sản phẩm, định mức, ca kíp), không hoàn toàn dựa trên quỹ giờ làm việc theo phương pháp 2 (PP2). Do chưa có thông tin về giờ làm việc đặc thù để hệ thống đối chiếu, cột “Kiểm tra quỹ giờ PP2” hiển thị cảnh báo “THIẾU GIỜ ĐẶC THÙ” tại cả 18 dòng; bảng K_KiemTra đồng thời ghi nhận đây là lỗi C1. Vướng mắc này cần được hướng dẫn hoặc điều chỉnh quy tắc kiểm tra để phù hợp với phương pháp xác định nhu cầu nhân lực được lựa chọn, tránh cảnh báo lỗi đối với các vị trí không xác định nhu cầu theo PP2.
Đối với câu hỏi của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ phận Thường trực trao đổi, làm rõ như sau:
Trường hợp nhận được cảnh báo “THIẾU GIỜ ĐẶC THÙ” là hoàn toàn bình thường, theo đúng logic của Bộ biểu. Nguyên nhân là cột “Chế độ làm việc” (cột J) bị hiểu thành phương pháp xác định nhu cầu nhân lực. Cột J phản ánh chế độ thời gian làm việc theo quy định để xác định quỹ giờ: “Phổ biến (40 giờ/tuần)” ứng với 1.904 giờ/người/năm; “Đặc thù” chỉ dùng khi vị trí có chế độ thời gian làm việc khác được quy định (ca, kíp, trực, chế độ ngành). Phương án PP1, PP2, PP3 được chọn riêng tại Biểu C3, cột B. Khi chọn “Đặc thù”, Bộ biểu yêu cầu đủ: số giờ/năm theo chế độ riêng (cột H), căn cứ (cột F) và xác nhận “Đã kiểm chứng” (cột I). Thiếu thì cột K báo lỗi, và trang K_KiemTra đếm mọi dòng C1 có cột K chưa “ĐẠT”.
Giải pháp xử lý như sau: (1) Vị trí làm việc theo giờ hành chính, kể cả lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên khi không có văn bản quy định chế độ thời gian riêng, thì chọn “Phổ biến (40 giờ/tuần)”, để trống cột H, I. Cột E tự nhận 1.904 giờ, cột K chuyển “ĐẠT”, cảnh báo tại K_KiemTra hết. Chỉ chọn “Đặc thù” với vị trí có văn bản quy định chế độ làm việc khác (ví dụ ca, kíp trực xuất bản), khi đó nhập đủ cột H, F, I. Không chọn “Đặc thù” khi chưa có căn cứ. (2) Biểu C3 chỉ đối chiếu kiểm tra quỹ giờ ở C1 với vị trí có chọn PP2; vị trí chọn PP1, PP3 không bị cảnh báo C1 chặn khi xác nhận tại C3. Vì vậy không cần điều chỉnh quy tắc kiểm tra; chỉ cần chọn đúng chế độ làm việc.
Về lựa chọn phương pháp cho Báo Lao động: ca, kíp, trực tòa soạn và định mức bố trí thuộc PP1 (theo cơ cấu, chức danh, yêu cầu hiện diện), không phải PP3 (điểm a Bước 6 Mục II). Cụ thể: lãnh đạo áp dụng PP1. Ca, kíp, trực tòa soạn áp dụng PP1; giờ trực đã có giờ xử lý sản phẩm thì trừ phần trùng. Phóng viên, biên tập viên có sản phẩm đếm được (tin, bài, trang, chương trình) và đo được thời gian hoặc có định mức chuyên ngành thì áp dụng PP2. Phần khó chuẩn hóa thời gian (điều tra chuyên sâu, chuyên đề lớn) áp dụng PP3; một vị trí có thể chọn “PP2+PP3”, không cộng trùng. Báo Lao động là đơn vị sự nghiệp, phải tách số người làm việc theo nguồn kinh phí (khoản 7 Mục III).
Đề nghị đơn vị không tự sửa ô công thức hoặc cấu trúc biểu; vướng mắc kỹ thuật gửi về đầu mối quản lý biểu để xử lý thống nhất (khoản 1 Mục V Hướng dẫn 07).


